hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội có vị
trí đặc biệt quan trọng. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân cả nước. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động
của Nhà nước.
Trong hơn hai mươi năm qua, kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi
mới, cùng với những thay đổi nhanh chóng về mặt kinh tế - xã hội, bộ máy nhà
nước Việt Nam nói chung và Quốc hội nói riêng, đã có nhiều thay đổi tích cực
về tổ chức và hoạt động. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội từng bước được
kiện toàn và đổi mới, nhất là từ nhiệm kì Quốc hội khóa VII đến nay ngày càng
thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn cuả mình theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước trên mọi
lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế xã hội, tiến hành công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, hoạt động của Quốc hội còn có những hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong giai đoạn mới. Những hạn chế này không chỉ bắt nguồn từ cơ cấu, tổ chức
và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội mà còn có
nguyên nhân nội tại từ chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đại biểu Quốc
hội, trong đó có hoạt động tiếp xúc cử tri. Do vậy cần nghiên cứu về mặt lý luận
cũng như thực tiễn hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội trong điều
kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động
của đại biểu Quốc hội nói chung và hoạt động tiếp xúc cử tri nói riêng, tạo điều
kiện để đại biểu Quốc hội thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong những
năm qua đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học

tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
5. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương, cùng với đó là phần mở đầu, kết luận, mục lục,
phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TIẾP XÚC CỬ
TRI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1. Vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội trong cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất
Theo Hiến pháp năm 1992, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(CHXHCNVN), tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân
không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước cho nên phải bầu
ra các cơ quan đại biểu là Quốc hội ở trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp
ở địa phương để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước. Vì vậy, các cơ
quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất ở nước ta. Quốc hội nước ta đại diện cho ý chí, lợi ích của
nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là một tổ
chức chính quyền thể hiện rất rõ tính chất đại diện và tính chất quần chúng. Cơ
cấu tạo nên Quốc hội chính là các đại biểu Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực
hoạt động của Nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng
tổng tuyển cử tự do. Đó là những đại biểu chân chính của nhân dân. Các ĐBQH
là những người được bầu ra để thay mặt nhân dân ở cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất [18,tr355]. Theo quy định của các bản Hiến pháp từ trước đến nay, đặc
biệt là Hiến pháp 1992, ĐBQH nước ta có địa vị pháp lí rất quan trọng. Địa vị
đó được thể hiện ở những khía cạnh sau:
ĐBQH là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
CHXHCNVN - cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động
của bộ máy nhà nước.
ĐBQH do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp

các quy định pháp luật của nhà nước. Trong hoạt động của nhà nước, ĐBQH là
người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định các vấn đề của đất nước về lập
hiến, lập pháp, các chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao
đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.

Mọi hoạt động của ĐBQH phải
gắn với nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, sự tham gia của nhân dân
vào hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và mỗi ĐBQH.
Là hạt nhân cấu thành cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, các ĐBQH
có trách nhiệm thường xuyên giữ mối liên hệ với cử tri, tiếp xúc với cử tri đã tín
nhiệm bầu ra mình. Đối với các ĐBQH, đây là hoạt động có tính thực tiễn rất
cao. Tính thực tiễn đó được thể hiện thông qua hoạt động đối thoại trực tiếp để
đại biểu nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Các kiến nghị
chính đáng của cử tri là hình thức phản ánh bản chất của quyền làm chủ trực tiếp
và gián tiếp của nhân dân đối với công việc của đất nước. Chỉ có thể xây dựng
được mối quan hệ máu thịt với nhân dân, ĐBQH mới có khả năng hòa cùng nhịp
đập của cuộc sống, đem hơi thở cuộc sống, đem được tiếng nói của nhân dân
vào các nghị quyết, các đạo luật và giám sát có hiệu quả việc thực hiện các nghị
quyết các đạo luật đó. Nếu không giữ mối liên hệ gắn bó với cử tri, ĐBQH sẽ xa
rời thực tiễn, trở nên quan liêu, không thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, không thể thay mặt nhân dân quyết định các công
việc quan trọng của đất nước. Vì vậy, không thể phản ánh đúng bản chất của
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân [20, tr228].
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện ba chức năng
giám sát tối cao và chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Với chức năng lập pháp, Quốc hội có nhiệm vụ xây dựng một hệ thống pháp
luật hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đồng thời
xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN. Với chức năng giám sát, Quốc hội
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo
nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình vì lợi ích của nhân dân, phù

hoàn cảnh cư trú. Chính quyền các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các đại biểu hiểu
rõ tình hình nhân dân. Tuỳ theo nhu cầu công tác Ban Thường trực Quốc hội tổ
chức những đoàn đại biểu đi tiếp xúc với nhân dân” [3, tr833].
Cũng tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá I, Ban Thường trực Quốc hội đã
quyết định tăng thêm các Uỷ viên thường trực và thành lập 3 Tiểu ban, mỗi Tiểu
ban do một Uỷ viên thường trực phụ trách, trong đó có Tiểu ban Dân nguyện
(hoạt động hết nhiệm kỳ Quốc hội khoá I). Nhiệm vụ của Tiểu ban Dân nguyện
là phụ trách việc nghiên cứu các đơn, thư, nguyện vọng, các ý kiến của nhân dân
đề đạt lên Quốc hội

[3, tr895]. Với cách thức tổ chức này, các đơn thư phản ánh
tình hình, nguyện vọng, kiến nghị…của nhân dân gửi lên Quốc hội, Ban Thường
trực Quốc hội đã được Tiểu ban Dân nguyện nghiên cứu và xử lý, tuỳ từng
trường hợp cụ thể Tiểu ban Dân nguyện phối hợp với các cơ quan của Chính
phủ giải quyết thích đáng. Các báo cáo của Ban thường trực Quốc hội tại các kỳ
họp đều có kiểm điểm về công tác này trong mục “Vấn đề liên hệ với nhân dân”.
Năm 1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp thay thế Hiến pháp 1946. Năm 1960,
Quốc hội ban hành Luật tổ chức Quốc hội, trong đó đã cụ thể hóa một bước quy
định về trách nhiệm của ĐBQH “phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân,
tuân theo Hiến pháp và pháp luật, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, hết lòng hết sức
phục vụ nhân dân” [7, đ41].
Đến Hiến pháp năm 1980 đã quy định rõ hơn trách nhiệm của ĐBQH và
được Luật tổ chức Quốc hội năm 1981 cụ thể hóa, theo đó trách nhiệm tiếp xúc
cử tri của ĐBQH đã được quy định: “Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ
với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với
cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, trả lời những yêu cầu và kiến
nghị của cử tri. Sau mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội báo cáo với cử
tri về kết quả kỳ họp, phổ biến và giải thích các luật và nghị quyết đã được Quốc
hội thông qua”. [9,đ43]
Hiến pháp năm 1992 ra đời một lần nữa khẳng định rõ bản chất Nhà nước

động của Quốc hội đã có nhiều đổi mới, các hình thức hoạt động của Quốc hội
cũng được cải tiến, Quốc hội ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyền hạn
của mình theo quy định của pháp luật. Vị trí pháp lí của ĐBQH trong Hiến pháp
1992 về cơ bản vẫn tiếp tục kế thừa các quy định trong Hiến pháp 1980. Tiếp
xúc cử tri là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ĐBQH đã được Hiến
pháp năm 1992, Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn
đại biểu Quốc hội quy định khá rõ. Thời kì này, các văn bản pháp luật quy định
về hoạt động TXCT của ĐBQH khá đầy đủ, cụ thể và toàn diện làm cơ sở cho
ĐBQH thực hiện hoạt động này một cách có hiệu quả.
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội 1992 quy
định: ” Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của
cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri,
thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ
quan nhà nước hữu quan [11,đ51].
Như vậy, Luật tổ chức Quốc hội đã phát triển mối quan hệ giữa ĐBQH
với cử tri, theo đó ĐBQH phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nhưng cũng phải
thường xuyên TXCT. Về cơ bản hoạt động TXCT được thể hiện khá cơ bản
trong các quy định nêu trên. Ngoài các văn bản trên, Quốc hội còn ban hành các
Nghị quyết quy định hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, Nghị quyết quy
định về nội quy kì họp của Quốc hội…nhằm cụ thể hóa một cách cụ thể và đầy
đủ về hoạt động TXCT.
Nghị quyết Quốc hội số 08/2002/QH11 ban hành quy chế hoạt động của
ĐBQH và Đoàn ĐBQH có quy định:” Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp
xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong
trường hợp không thể tham gia tiếp xúc cử tri thì đại biểu Quốc hội phải báo cáo
với trưởng đoàn đại biểu Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có thể tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc. Đại biểu
Quốc hội liên hệ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương nơi cư trú hoặc Ban
chấp hành Công đoàn nơi làm việc để tổ chức cho đại biểu tiếp xúc cử tri”[16,
đ12]

nhân hoặc nhóm cử tri. Hội nghị TXCT bao gồm: tiếp xúc theo định kỳ trước và
sau kỳ họp Quốc hội tại địa phương nơi đại biểu Quốc hội ứng cử; tiếp xúc theo
nơi cư trú, nơi làm việc và tiếp xúc theo chuyên đề, lĩnh vực nà đại biểu Quốc
hội quan tâm [17, đ4].
Về thành phần hội nghị tiếp xúc cử tri bao gồm: Đại diện cấp ủy Đảng,
HĐND, UBND, UBMTTQ, các tổ chức thành viên của MTTQ và các cơ quan,
tổ chức, đơn vị hữu quan ở mỗi cấp; cử tri trực tiếp làm việc, học tập tại các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh
tế; cử tri thôn, buôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố [17,đ5].
Việc tiếp xúc cử tri nơi cư trú được quy định như sau: Văn phòng phục vụ
Đoàn ĐBQH giúp ĐBQH hoặc ĐBQH tự liên hệ với Thường trực HĐND,
UBND, Ban thường trực UBMTTQ xã, phường, thị trấn nơi đại biểu cư trú để tổ
chức Hội nghị tiếp xúc cử tri…[17, đ12]
Việc tiếp xúc cử tri nơi làm việc được quy định như sau: Văn phòng phục
vụ Đoàn ĐBQH giúp ĐBQH hoặc ĐBQH tự liên hệ với Thủ trưởng cơ quan,
Ban chấp hành công đoàn cơ quan, tổ chức, đơn vị để tổ chức Hội nghị tiếp xúc
cử tri… [17, đ13].
Việc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực mà ĐBQH quan tâm được
quy định như sau: Văn phòng phục vụ Đoàn ĐBQH giúp ĐBQH hoặc ĐBQH tự
liên hệ với Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan để tổ chức Hội nghị
TXCT theo chuyên đề, lĩnh vực mà ĐBQH quan tâm. Thủ trưởng cơ quan, tổ
chức, đơn vị có trách nhiệm giúp ĐBQH thực hiện các cuộc tiếp xúc nói trên…
[17, đ14].
Việc tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc cá nhân hoặc nhóm cử tri của ĐBQH được
quy định trong Nghị quyết liên tịch. Theo đó, ĐBQH có thể trực tiếp gặp gỡ với
cử tri để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri và những vấn đề mà đại biểu
Quốc hội quan tâm, chuyển những kiến nghị chính đáng của cử tri đến Đoàn
ĐBQH để tổng hợp, báo cáo UBTVQH hoặc gửi tới cơ quan có thẩm quyền
xem xét, giải quyết [17, đ15].
Mối quan hệ giữa ĐBQH với cử tri là gắn bó hữu cơ, nhưng để mối quan hệ

nghị của cử tri và giám sát, đôn đốc việc giải quyết ý kiến, kiến nghị cử kỳ tri cả
nước. Theo đó, Đoàn chủ tịch UBTWMTTQ Việt Nam chủ trì phối hợp với
UBTVQH xây dựng báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước để
trình ra kỳ họp Quốc hội. Trên cơ sở đó, UBTVQH chỉ đạo Ban dân nguyện tập
hợp, phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri để gửi tới các cơ quan, tổ chức hữu
quan nghiên cứu giải quyết và báo cáo với UBTVQH và Đoàn Chủ tịch
UBMTTQVN. Bên cạnh đó, HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội giám sát đôn đốc
việc giải quyết các kiến nghị của cử tri thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban
phụ trách; UBTVQH chỉ đạo Ban dân nguyện theo dõi, đôn đốc việc trả lời giải
quyết các kiến nghị khác của cử tri [17,đ18]
Có thể khẳng định rằng, các quy định pháp luật về công tác TXCT của
ĐBQH đã đi vào cuộc sống, có tác dụng hình thành và duy trì mối quan hệ giữa
cử tri với người đại diện của mình ở Quốc hội.
1.5. Tham khảo kinh nghiệm tiếp xúc cử tri của Nghị sỹ các nước
Thực tiễn hoạt động của các nghị sỹ nước ngoài cho thấy có rất nhiều
phương tiện, cách thức phong phú đa dạng để nghị sỹ giữ mối liên hệ với dân
chúng. Tại các quốc gia phát triển và nghị viện có truyền thống lâu đời, các nghị
sỹ đã được cung cấp các điều kiện cần thiết như văn phòng, ngân sách, trang
thiết bị và chuyên viên giúp việc để giúp họ xây dựng và giữ mối quan hệ với
các cử tri nói chung và hoạt động TXCT nói riêng.
Ở Singapore, công cụ mà đảng chính trị sử dụng để đảm bảo sự liên hệ giữa
các nghị sỹ với cử tri là các cuộc họp theo định kì với nhân dân. Từ Thủ tướng
đến các nghị sỹ có vị trí thấp hơn đều tổ chức các cuộc họp định kì ở khu vực
bầu cử. Tại đây dân chúng có thể chia sẻ các tâm tư nguyện vọng với các vị đại
biểu của mình với mong muốn nghị sỹ đó sẽ đại diện cho mình tìm cách giải
quyết thỏa đáng. Khuôn khổ chính thức này giúp cho dân chúng biết được rất rõ
thời gian và địa điểm họ có thể bàn luận với các đại biểu của mình. Ngược lại,
điều này cũng cho phép các nghị sỹ tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thúc đẩy
các công việc mà đảng mình đang theo đuổi để đại diện cho nhân dân.
Đối với các nghị sỹ, việc cân bằng giữa công việc tại nghị viện và công

sinh viên luật là những người có kiến thức pháp lý và ngược lại điều này cũng
giúp cho sinh viên luật có điều kiện củng cố kiến thức đã được trang bị tại các
trường đại học cũng như kinh nghiệm thực tế để khi ra trường có thể thành thạo
công việc.
Bên cạnh đó, các nghị sỹ nước ngoài cũng rất chủ động trong việc gặp gỡ
cử tri một cách thân mật. Đây cũng là một công cụ quan trọng đối với các nghị
sĩ trong việc giữ mối liên hệ với cử tri. Hiểu một cách đơn giản, “chủ động tiếp
xúc cử tri” là quá trình mà qua đó nghị sĩ tìm hiểu tâm tư và các vấn đề cử tri
quan tâm một cách chủ động. Thay vì việc đợi người dân nêu lên những vấn đề
bức xúc, việc chủ động tiếp xúc cử tri cho phép nghị sĩ tìm hiểu về ý kiến,
nguyện vọng của công chúng hoặc một nhóm cử tri chịu tác động của một dự
luật hoặc một chính sách nào đó. Nếu như ở Việt Nam các ĐBQH chủ động
TXCT qua hình thức là thông báo kết quả kỳ họp Quốc hội thì ở Vương quốc
Anh, các nghị sĩ có phương pháp tiếp xúc rất gần gũi đó là tiếp xúc với người
dân trên đường phố[31, tr333-341]. Phương pháp này có thể được thực hiện
dưới nhiều cách thức, tuy nhiên, cách thông thường nhất là hình thức nghị sĩ
trực tiếp đến gặp người dân để tìm hiểu về ý kiến và nguyện vọng của họ. Dưới
hình thức đơn giản nhất, tiếp xúc với người dân trên phố là khi nghị sĩ thu xếp
thời gian để đến một trung tâm sinh hoạt cộng đồng hoặc một địa điểm công
cộng nào đó. Người dân quanh đó sẽ được thông báo trước (bằng tờ rơi hoặc qua
thông báo trên phương tiện truyền thông của địa phương) rằng nghị sĩ đó sẵn
sàng gặp mặt người dân tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng vào khoảng thời gian
xác định. Một số nghị sĩ đến từng nhà dân để lắng nghe và thảo luận với họ về
các vấn đề người dân quan tâm. Số khác lại khuyến khích người dân gặp họ tại
các cửa hàng hoặc trung tâm thương mại có đông người qua lại để đảm bảo rằng
những nỗ lực của nghị sĩ đó được đông đảo cử tri ghi nhận.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng, thời gian làm việc của một Nghị
sỹ luôn được cân đối hài hòa giữa công việc tại Nghị viện và ở đơn vị bầu cử
của họ. Giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, cụ thể là tiếp xúc với cử tri là nhiệm
vụ thường xuyên của mỗi Nghị sỹ, mà mỗi Nghị sỹ phải chủ động về mặt hình

để ĐBQH tiếp xúc cử tri. Qua báo cáo tình hình TXCT của các Đoàn ĐBQH
cho thấy, hình thức hội nghị TXCT là khá phổ biến mà chủ yếu là tiếp xúc định
kì trước và sau kì họp. Nhìn chung các Đoàn ĐBQH tổ chức cho các đại biểu
TXCT trước và sau kì họp khá nề nếp. Và cứ mỗi kỳ họp thì chúng ta lại thu
nhận được hàng nghìn ý kiến, kiến nghị của cử tri tập hợp lại để báo cáo tại kì
họp. Những ý kiến, kiến nghị đó là cơ sở để Quốc hội thảo luận, đánh giá tình
hình kinh tế - xã hội của đất nước, xem xét ban hành chính sách, chỉnh sửa pháp
luật cũng như thực hiện việc giám sát, đánh giá về những hoạt động của Chính
phủ và các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội
[24, tr581]. Theo số liệu thống kê được của 59/63 Đoàn ĐBQH thì trong 04 năm
(2004-2008), ĐBQH đã thực hiện được tổng số là 14.599 cuộc tiếp xúc với tổng
số là 1.432.282 lượt cử tri, trong đó chủ yếu là tiếp xúc cử tri dưới hình thức hội
nghị [21]. Như vậy, tính bình quân mỗi năm, ĐBQH của 59/63 Đoàn triển khai
được gần 3.650 cuộc tiếp xúc, với 355.820 lượt cử tri trong tổng số trên dưới 56
triệu cử tri cả nước (lấy số liệu cử tri năm 2007 làm mốc), đạt khoảng 0,6% tổng
số cử tri. Qua hoạt động TXCT, các ĐBQH đã thu thập, phản ánh hàng chục
ngàn ý kiến, kiến nghị đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo số liệu
thống kê được của 33 Đoàn ĐBQH thì trong 4 năm qua, ĐBQH đã thu thập và
chuyển 23.151 ý kiến, kiến nghị của cử tri đến các cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền để nghiên cứu, giải quyết [21].
Về hội nghị tiếp xúc cử tri
Hội nghị TXCT là hình thức chủ yếu được triển khai thực hiện và đây cũng
là hình thức thu hút được sự quan tâm của đông đảo cử tri. Theo báo cáo của 59
Đoàn ĐBQH thì trong 04 năm qua, ĐBQH đã thực hiện được 14.341 cuộc và
tiếp xúc được 1.429.159 lượt cử tri (chiếm 98,23% số cuộc và 99,78% số lượt
cử tri của các hình thức tiếp xúc)[21]. Theo báo cáo điều tra xã hội học về công
tác TXCT do Vụ Dân nguyện, Văn phòng Quốc hội thực hiện thì trong tổng số
2.000 cử tri được lấy ý kiến, có đến 72% cho rằng họ đã từng tham gia tiếp xúc
với ĐBQH dưới hình thức hội nghị TXCT (xem phụ lục 4) [25].
- Việc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp Quốc hội đã được pháp luật quy

300 ĐBQH đánh giá hình thức này phát huy tốt và khá tốt, còn 50% lại cho rằng
hình thức này chưa được phát huy (xem phụ lục 2)[25]. Qua theo dõi cho thấy
việc TXCT tại nơi cư trú mới chỉ được thực hiện một cách cá biệt. Tuy nhiên
hiệu quả và tác dụng của hình thức tiếp xúc này là rất rõ rệt. Những cử tri tại nơi
ĐBQH cư trú qua tiếp xúc đều rất phấn khởi, bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng
của mình với mong muốn ĐBQH sẽ là cầu nối để cử tri thực hiện quyền làm chủ
của mình. Từ đó cho thấy việc đa dạng hóa các hình thức TXCT là rất cần thiết.
Nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động TXCT ở nơi cư trú là do nhận
thức của ĐBQH về TXCT ở nơi cư trú còn chưa rõ và chưa thống nhất. Ở một
số địa phương, đại biểu coi việc gặp gỡ của ĐBQH với công dân ở nơi cư trú
cũng là hoạt động TXCT của ĐBQH. Mặt khác, việc xác định nơi cư trú của đại
biểu là đơn vị thôn, làng, tổ dân phố...hay đơn vị cấp xã còn chưa rõ ràng, trong
khi đó, nơi cư trú của ĐBQH này lại thuộc đơn vị bầu cử của ĐBQH khác nên
việc TXCT của các ĐBQH rất dễ bị trùng lặp. Bên cạnh đó, theo quy định hiện
hành về nội dung chương trình hội nghị TXCT ở nơi cư trú được áp dụng như
nội dung chương trình TXCT trước và sau kỳ họp Quốc hội là không phù hợp
với thực tế.
- Việc tiếp xúc cử tri nơi làm việc cũng đã được một số địa phương triển
khai thực hiện tuy nhiên chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Theo số liệu thống kê
của 18 Đoàn ĐBQH, trong 04 năm qua, ĐBQH đã thực hiện được 127 cuộc và
tiếp xúc được 5.053 cử tri ở nơi làm việc [21] (chiếm 0,87% số cuộc và 0,35%
số lượt cử tri được tiếp xúc).Qua kết quả điều tra xã hội học thì có đến 51%
trong tổng số 300 ĐBQH đánh giá hình thức này chưa được phát huy và khó trả
lời ( xem phụ lục 2) [25]. Theo thống kê trên đây thì kết quả TXCT ở nơi làm
việc còn rất hạn chế cả về số cuộc và số lượt cử tri được tiếp xúc với ĐBQH.
- Việc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực mà ĐBQH quan tâm được
nhiều Đoàn ĐBQH triển khai thực hiện và thu được kết quả bước đầu. Theo
đánh giá của nhiều Đoàn ĐBQH thì việc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực
là hoạt động rất thiết thực, giúp đại biểu thu thập được nhiều thông tin chuyên
sâu có giá trị và cần được tăng cường. Theo số liệu thống kê được của 32 Đoàn

biểu không chủ động đề xuất thì các cơ quan hữu quan không thể tự tổ chức
TXCT được. Một số Đoàn ĐBQH chưa đề cao trách nhiệm trong việc tổ chức,
đôn đốc các đại biểu triển khai thực hiện các hình thức TXCT này; vai trò của
cơ quan tham mưu, đề xuất với ĐBQH thực hiện TXCT nơi cư trú, nơi làm việc,
theo chuyên đề, lĩnh vực cũng chưa được tăng cường; các điều kiện về kinh phí,
phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ ĐBQH thực hiện các hình thức TXCT này
còn rất hạn chế, khó khăn. Một nguyên nhân khác là đại đa số các đại biểu là
kiêm nhiệm, cho nên ít thời gian cho hoạt động này. Mặt khác, một số quy định
của pháp luật còn chưa thật sự rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục, cách thức tổ
chức và chưa “ràng buộc” trách nhiệm của ĐBQH trong việc thực hiện. Theo
quy định hiện hành thì đại biểu “có thể” hoặc “cần” thực hiện nên dễ dẫn đến
tình trạng đại biểu có thể thực hiện hoặc không thực hiện.
Về gặp gỡ, tiếp xúc với cá nhân hoặc nhóm cử tri
Có thể nói đây là hình thức tiếp xúc ít được ĐBQH triển khai thực hiện.
Qua kết quả khảo sát thực tế và báo cáo của các Đoàn ĐBQH cho thấy, việc đại
biểu tiếp xúc cử tri dưới hình thức gặp gỡ, tiếp xúc với cá nhân hoặc nhóm cử tri
còn nhiều hạn chế cả về số cuộc và số lượt cử tri. Theo báo cáo của 09 Đoàn
ĐBQH thì trong 04 năm qua, ĐBQH đã thực hiện được 258 cuộc tiếp xúc, với
3.123 lượt cử tri (chiếm 1,76% số cuộc và 0,22% tổng số lượt cử tri của các
hình thức tiếp xúc) [21]. Qua kết quả điều tra xã hội học thì có 58% trong tổng
số 300 đại biểu nhận định việc đại biểu gặp gỡ, tiếp xúc cá nhân hoặc nhóm cử
tri chưa được phát huy và khó trả lời. Đối với 2.000 cử tri được lấy ý kiến, chỉ
có 11% xác nhận được tiếp xúc với đại biểu dưới góc độ cá nhân cử tri, 14% xác
nhận được tiếp xúc với đại biểu dưới góc độ nhóm cử tri (xem phụ lục 2) [25].
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do nhận thức về hình thức
tiếp xúc cá nhân hoặc nhóm cử tri còn chưa rõ và chưa thống nhất; còn lúng túng
trong việc xác định cuộc gặp gỡ nào giữa ĐBQH với công dân thì được coi là
cuộc gặp gỡ và cuộc nào tiếp xúc cử tri, trong khi hiện nay, cả nước có tới trên
70% ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm.
2.1.2 Về nội dung tiếp xúc cử tri

tâm ở kỳ họp tới. Hai nội dung được đề nghị cử tri tập trung phát biểu là góp ý
xây dựng văn bản pháp luật và về vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên
cả buổi có gần hai mươi người phát biểu thì hết quá nửa là những bức xúc cá
nhân liên quan đến chính sách bồi thường, giải tỏa, dự án “treo”…tại địa
phương. Với những bức xúc của cử tri, ĐBQH cũng chỉ có thể lắng nghe chứ
không thể giải đáp hết còn ĐBQH không được nghe những góp ý chất lượng cho
các dự luật cần lấy ý kiến, còn người dân cũng không nhận được câu trả lời thỏa
đáng cho những bức xúc của mình. Trên thực tế, tình hình TXCT như trên
không hiếm gặp. Rõ ràng là TXCT kiểu này không làm thỏa mãn chính những
người trong cuộc [26].
2.1.3. Về tập hợp, tổng hợp và chuyển ý kiến, kiến nghị của cử tri
- Việc tập hợp, tổng hợp và chuyển ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc trách
nhiệm của các Đoàn ĐBQH. Các Đoàn ĐBQH đã phối hợp triển khai việc tập
hợp, tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri và kịp thời báo cáo theo quy định
của pháp luật. Ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền nghiên cứu, giải
quyết của các cơ quan, tổ chức ở trung ương đã được các Đoàn ĐBQH tổng hợp
báo cáo UBTVQH và gửi ĐCTUBTWMTTQVN và Ban Dân nguyện của
UBTVQH để chuyển tới các bộ, ngành nghiên cứu giải quyết, trả lời. Các ý kiến
thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương thì được gửi cho các cơ quan nhà
nước, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương để nghiên cứu, giải quyết. Nhìn
chung, các bộ ngành đều nghiêm túc trả lời bằng văn bản và trúng vấn đề mà cử
tri quan tâm. Văn bản trả lời của các bộ ngành là cơ sở để các Đoàn ĐBQH kiến

Trích đoạn Hoàn thiện pháp luật về hoạt động tiếp xúc cử tr Đổi mới việc tổ chức thực hiện hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hộ Những điều kiện đảm bảo cho hoạt động tiếp xúc cử tri được thực hiện có hiệu quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status