ĐẠO ĐỨC VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG KINH DOANH - Pdf 26

ĐẠO ĐỨC VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Lan Worthington and Dean Patton
Có một sự phát triển của cơ thể của cơ hội là nhà kinh doanh phải có nhiệm vụ
thực hiện mục tiêu mà căng ra ngoài sự đơn giản sẽ trở nên tích cực cho các tổ
chức để xúc tiến trách nhiệm xả hội của công ty ngày càng mạnh hơn, đặc biệt về
vấn đề môi trường tự nhiên. Phần này sẽ phân tích vào lý do nằm sau quan điểm
và khuyến khích để xem như thế nào thì nhà kinh doanh có thể thêm chính sách
môi trường vào trong chiến lược, kỹ thuật kinh doanh của họ.
• Bài học kinh nghiệm:
Sau khi đọc phần này bạn nên:
_ Chứng minh sự tham gia của các nhà doanh nghiệp với các yếu tố khác của xã
hội.
_ Nhận diện các công ty nhỏ và vừa các bài liên quan và thích thú tương ứng.
_ Xác định ý nghĩa về trách nhiệm xã hội của các công ty và xác định hoạt động
của doanh nghiệp cần để thực hiện và chắc chắn trách nhiệm xã hội.
_ Pha6n tích những lợi ích mà có thể doanh nghiệp thêm vào chiến lược của công
ty.
• Chìa khóa bài học
Văn hóa doanh nghiệp
Đạo đức kinh doanh
Lợi ích cạnh tranh
Trách nhiệm xã hội của công ty
Nhãn hiệu Eco
Quản lý và hệ thống kiểm toán
Hệ thống môi trường quản lý
Thay đổi quá khứ
Chợ kiến trúc
Nguyên tắc trả tiền khi gây ô nhiễm
Tài nguyên có giới hạn
Quy định an toàn
Những người nắm cổ phần

các khái niệm như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đáp ứng xã hội, hoạt động
xã hội, quyền công dân đã trở nên tương đối phổ biến như các khái niệm ‘đạo đức
chuỗi cung ứng’,’ maketing xanh và ba kế toán mấu chốt”. Sự phát triển song song
cũng đã diễn ra trong thế giới học thuật, một số lượng lớn các chương trình kinh
doanh và quản lý hiện nay kết hợp các nghiên cứu về đạo đức kinh doanh, trách
nhiệm xã hội với chương trình giảng dạy, điều này được hỗ trợ bởi sự phát triển
trong lĩnh vực văn học, mở rông tạp chí quốc tế về các khía cạnh đạo đức và môi
trường kinh doanh ( tạp chí Đạo Đức Kinh Doanh, tạp chí Quản Lý Môi Trường,
Chiến Lược Và Môi Trường Kinh Doanh).
Để cung cấp một cái nhìn sâu sắc thế nào thì doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi
áp lực đạo đức và sinh thái, chương trình bắt đầu với một cuộc thảo luận chung về
các khái niệm đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trước
khi chuyển sang một cuộc kiểm tra chi tiết hơn về vấn đề rất thời sự là quản lý môi
trường trong kinh doanh.Đối với sinh viên muốn điều tra chi tiết hơn, chúng tôi đã
giới thiệu một số nguồn tin hữu ích trong phần ‘ đọc thêm’ ở cuối chương. Các bạn
cũng có thể tham khảo trang web của các công ty, các tổ chức đa quốc gia hàng
đầu, đại diện như( Liên Đoàn Công nghiệp Anh, Viện Giám Đốc), môi trường phi
chính phủ( Hòa bình xanh, Những Người Bạn Của Trái Đất, Diễn Đàn Cho Tương
Lai), nhóm vận động (kinh doanh trong cộng đồng), các nhóm/ các cơ quan quốc tế
khác nhau mà công việc của chúng bao gồm xem xét đạo đức và môi trường kinh
doanh( UN, Ngân Hàng Quốc Tế…).
ĐẠO ĐỨC VÀ KINH DOANH
Như chúng ta đã nhìn thấy ở các khía cạnh khác nhau, các tổ chức kinh doanh tồn
tại và có nhiện vụ trong khuôn khổ pháp luật. Trong nhiều lĩnh vực của đời sống
pháp luật, về cơ bản chỉ đạo thì những gì cá nhân/ tổ chức có thể hoặc không thể
làm là thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu của hành vi dựa trên nguyên tắc đạo đức cơ
bản. Tuy không phải tất cả các khía cạnh trong kinh doanh, nhưng nó được đảm
bảo bởi hệ thống pháp luật của chính phủ và thông luật, như trường hợp bán vũ khí
cho chính phủ nước ngoài hoặc trả lương thấp cho người lao động nước ngoài cùng
sản xuất một sản phẩm. Cũng vì lẽ vậy, không phải tất cả các luật đều quản lý hành

lợi ích tổ chức cho các hoạt động, bao gồm tăng doanh số bán hàng, tiếp cận khách
hàng / thị trường mới, cải tiến trong tuyển dụng lao động và duy trì phí bảo hiểm
thấp hơn và ít sự giám sát của chính phủ và phi chính phủ.
Thêm vào đó, cổ đông chỉ là một trong những nhóm mà các công ty tương tác, vì
vậy một doanh nghiệp phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với lợi ích của các bên
liên quan khác khi thực hiện các hoạt động của mình( xem chương 10).Như vậy
các bên liên quan là cả bên trong tổ chức (nhân viên), bên ngoài tổ chức (khách
hàng) và các bộ phận liên quan dưới sự xem xét của công ty. (xem Freeman,1984)
kinh doanh có trách nhiệm xã hội để đưa lợi ích vào tài khoản cho tất cả các bên
bởi hành động và quyết định của mình, không đơn thuần chỉ là chủ sở hữu công
việc kinh doanh. Trái ngược với quan điểm cổ điển của các công ty trước đây,
phương pháp tiếp cận nhấn mạnh sự cần thiết của việc cố gắng hoạt động kinh
doanh vì lợi ích tất cả các bên cho các nhà quản lý và tìm kiếm để đạt được một sự
cân bằng hiệu quả giữa các bộ phận quan tâm khác nhau. Sử dụng lợi nhuận công
ty để đạt được kết quả, không nhất thiết phải gây bất lợi cho chủ sở hữu của công
ty và thực tế có thể cuối cùng điều đó giúp giá trị cổ đông được nâng cao, đặc biệt
là trong dài hạn
Nhiều cuộc thảo luận gần đây về việc tại sao các doanh nghiệp cần tính đến trách
nhiệm xã hội ,môi trường và có xu hướng tập trung vào chiến lược của CSR; bản
chất cách hành động ‘có trách nhiệm’là có thể tận dụng lợi thế cho doanh nghiệp
đối với cả bên yêu cầu và bên cung cấp ( xem ví dụ McWilliams, 2006). Chẳng
hạn, nhà văn Porter và Kramer đã lập luận rằng một công ty có thể đạt được một “
lợi thế cạnh tranh” bằng cách đầu tư vào CSR, đặc biệt nếu nó hoạt động trong lĩnh
vực này thì điều đó trở thành một phần nội tại trong kinh doanh và sự khác biệt
trong chiến lược của doanh nghiệp. Một yếu tố quan trọng trong cuộc tranh luận
này đã được áp dụng theo ‘ quan điểm dựa trên nguồn lưc ‘(RBV) 'của công ty,
trong đó trách nhiệm xã hội và môi trường được miêu tả như là một nguồn tài
nguyên / năng lực tổ chức có thể dẫn đến lợi thế cạnh tranh bền vững. Theo quan
điểm này, tham gia vào CSR sẽ có tiềm năng để nâng cao danh tiếng của công ty
đối với các bên liên quan mật thiết và điều này có thể cung cấp cho nó một lợi thế

chịu được mà sự phát triển đó có thể chấp nhận được nhữgn yêu cầu hiện tại mà
những thế hệ tương lai vẫn có thể đáp ứng được những nhu cầu của họ. khái niệm
về sự khan hiếm và sự lựa chọn không phải là mới, nhưng mà cách mà các nhu cầu
của con người được đáp ứng không làm hao mòn, suy kiệt tương lai là một thử
thách mà xã hội cũng như các công ty, tổ chức phải đương đầu.
Đó là triết lý phát triển bền vững mà qua nhiều tranh cãi chúng ta xác định là
phương hướng duy nhất để phát triển bền vững nền kinh tế thế giới. Vấn đề suy
thoái môi trường có liên quan chặt chẽ đến vấn đề tăng trưởng kinh tế, và cả ngành
công nghiệp và toàn xã hội cần phải cân bằng giữa bảo vệ môi trường với phát
triển kinh tế. Khó khăn trong việc tìm kiếm một sự cân bằng thích hợp không
những chỉ nằm ở trong nhu cầu hòa giải một loạt các lợi ích xung đột mà còn ở chỗ
thiếu nhiều thông tin về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và tác động lâu dài của
nó đối với môi trường tự nhiên.
Mức độ nghiêm trọng của tình hình và hậu quả tiềm tàng tai hại của đề nghị rằng
một cuộc cách mạng môi trường là cần thiết và có thể phải bắt buộc thay đổi trong
hành vi của xã hội và sản xuất công nghiệp ở cả người tiêu dùng và nhà sản xuất.
Tất nhiên đã có nhiều sự chú ý được tập trung vào các sáng kiến chính trị là sự
minh chứng cho quan điểm chấp nhận rộng rãi rằng chính sách môi trường cần
phải được chuẩn hóa và phối hợp ở cấp quốc tế nếu nó có hiệu quả trong việc giải
quyết các vấn đề nổi trội. Tuy nhiên phương pháp tiếp cận từ trên xuống chỉ có thể
là một phần của giải pháp tổng thể và phụ thuộc nhiều vào hoạt động của các
doanh nghiệp và cá nhân trên thị trường và sự sẵn sàng chấp nhận các trách nhiệm
về hành vi của họ và hậu quả của nó. Trong ngắn hạn, sự quan tâm đến môi trường
cần phải được thể hiện thông qua các hành động của thật nhiều người, và để cho
cuộc cách mạng trách nhiệm môi trường thành công thì sự quan tâm đến môi
trường cần phải thâm nhập vào mọi tầng lớp xã hội, bao gồm cả thành viên của
cộng đồng doanh nghiệp.
ỨNG PHÓ CỦA DOANH NGHIỆP VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG.
Những hành động có trách nhiệm và/hoặc giảm chi phí: các lựa chọn thay như: tiền
bạc, các nguồn lực, thời gian và nỗ lực có thể được sử dụng nếu chúng không

chính sách, cho dù đó là để tăng thị phần hoặc giảm mức khí thải. Nếu công ty đưa
ra một mức độ cao hơn về trách nhiệm của công ty, bắt buộc xã hội phải dùng đến
việc sử dụng các luật và quy định của chính phủ, hoặc kinh doanh để nhận biết
được sự thay đổi trong kỳ vọng và quyết định tự nguyện hành động trách nhiệm
hơn đối với môi trường chung. Câu trả lời có lẽ nằm đâu đó, nhưng rõ ràng là có
một liên kết chặt chẽ giữa mức độ tác động pháp lý đến công ty và mức độ tác
động nhận thức tổ chức mong đợi đối với môi trường có thể dẫn đến việc thực hiện
hệ thống quản lý môi trường . Sethi đặt ra 3 loại hình trên hết:
1. Nghĩa vụ xã hội. Một tình huống mà tổ chức sử dụng các tiêu chuẩn pháp lý và
kinh tế để kiểm soát hành vi của công ty .Vì thế, các chiến lược là phản ứng và phụ
thuộc vào sự thay đổi thúc giục của thị trường hoặc thông qua pháp luật . Tổ chức
đưa ra một chiến lược bóc lột, cho vào vấn đề môi trường chỉ khi nó có thể thu
được lợi ích trực tiếp. Các bên liên quan chính trong loại hình tổ chức này là cổ
đông và họ theo đuổi mục tiêu chính là lợi nhuận.
2 . Trách nhiệm xã hội. Đây là loại tổ chức sẽ cố gắng để vượt qua các yêu cầu
theo quy định của pháp luật và thay vào đó tìm cách phù hợp với các giá trị và
chuẩn mực của xã hội hiện tại. Do đó, tổ chức sẽ chấp nhận trách nhiệm để giải
quyết vấn đề môi trường hiện tại và sẽ cố gắng để duy trì các tiêu chuẩn hiện hành
của cả môi trường xã hội và thể chất. Để đạt được mục tiêu đó, tổ chức này phải
chịu trách nhiệm các bên liên quan và điều này giả định lợi nhuận, mặc dù đó
không phải là động cơ chi phối duy nhất.
3 . Đáp ứng xã hội. Tổ chức này thể hiện một chiến lược chủ động, tích cực tìm
kiếm sự thay đổi xã hội trong tương lai. Các chính sách của tổ chức được theo sau
với một lòng nhiệt thành sốt sắng, các doanh nghiệp tìm cách định hướng lĩnh vực
về việc thúc đẩy một thái độ trách nhiệm trên diện tập thể. Trong chấp nhận đánh
giá của công chúng về các chính sách và thủ tục của nó và được chuẩn bị để tác
động đến lợi nhuận trên để duy trì hồ sơ cá nhân nó đã thành lập thông qua các
hành động có trách nhiệm trên diện tập thể của mình .
Phân loại của Sethi cho biết , trách nhiệm kinh doanh CSR có thể khác nhau và
một số doanh nghiệp sẽ có xu hướng để có một phương pháp phản ứng và phòng

như: tại Anh khoảng 97 phần trăm của các công ty có ít hơn 50 nhân viên. Các
công ty này giải quyết 50% lao động và và đóng góp khoảng 1/3 GDP của đất
nước. vai trò kinh tế của bộ phận này bắt đầu trở nên lớn hơn từ năm 1979 và kết
quả là các tác động đến môi trường cũng trở nên rõ ràng hơn.
Tuy nhiên bộ phận các công ty nhỏ đã không theo kịp với nhận thức chung về các
tác động của kinh doanh đến môi trường. Các công ty nhỏ đã liên tục tụt lại trong
việc sử dụng pháp luật về môi trường và công bố các báo cáo môi trường.
Một số lý do đã được đưa ra minh chứng cho sự thất bại của các công ty có nhận
thức kém để trở thành một vấn đề đe dọa đến môi trường . Chúng bao gồm:
1. Chi phí . Các công ty nhỏ có nguồn lực giới hạn và nói chung không nhận thức
được lợi ích kinh tế từ việc thực hiện chính sách môi trường.
2 . Thiếu chuyên môn . Các công ty nhỏ chỉ đơn giản là không có đủ nguồn lực con
người hoặc vật chất phát triển hoạt động cải thiện môi trường. Ngoài ra họ rất hoài
nghi về việc mời chuyên gia tư vấn giá cao bên ngoài để điều tra hành vi hiện tại
của họ .
3 . Sự thiếu hiểu biết pháp luật . Rất nhiều các công ty nhỏ hạn chế khả năng của
cơ quan giám sát tổng thể bộ phận này. Kết quả là nhiều doanh nghiệp nhỏ dựa vào
thực tế là " những gì họ không biết không thể làm tổn thương họ’. Các công ty nhỏ
có tiếng là ' ngu dốt ' về trách nhiệm môi trường của họ và dựa trên một số phạm vi
các vấn đề của quy mô mà các cơ quan giám sát phải đối mặt.
4 . Quy mô thuận lợi. Các công ty nhỏ không thể trả chi phí cho bất kỳ sáng kiến
môi trường trong một phạm vi sản phẩm lớn. cũng như họ không thể được hưởng
lợi nhiều từ việc cải thiện quan hệ công chúng thường được tạo ra bởi các hoạt
động thực hành có lợi đối với môi trường.
Những yếu tố này có thể dẫn đến một sự khiếm khuyết của thị trường trong việc
phát triển kinh doanh trong phạm vi có trách nhiệm đối với. Kết quả là, các sáng
kiến mới và giàu trí tưởng tượng là cần thiết để tạo ra lợi ích lớn hơn trong bộ phận
công ty nhỏ và cải thiện ảnh hưởng từ hoạt động của nó đối với môii trường.
Phương pháp khuyến khích mối quan tâm về môi trường trong kinh doanh
Chất lượng của môi trường hiện tại và việc cải thiện nó được các nhà kinh tế xem

tạp để giải quyết thông qua quy định. Đây không phải là để nói rằng hệ thống pháp
luật luôn luôn là không hiệu quả, nhưng chỉ đơn giản là nó không phải là một
phương tiện chính xác kiểm soát, thường xuyên họ hài lòng với hoạt động cung
cấp vô đạo đức.
Thật vậy, quy định đã trở thành một công cụ ngày càng phức tạp để kiểm
soát hành nghề kinh doanh. Toàn cầu hóa kinh doanh có nghĩa là tổ chức đang phải
đối phó với các điều khiển lập pháp và các yêu cầu khác nhau ở các nước khác
nhau. Trong một số trường hợp, chính sách công ty thay đổi từ nước này sang nước
để đáp ứng các tiêu chuẩn thấp nhất có thể. Thảm kịch tại Bhopal, Ấn Độ, giới
thiệu về cách các nhà máy thế giới đa quốc gia hơn sẽ được coi là thích hợp cho
một nhà máy trong nước tại Hoa Kỳ. Nó theo đuổi một chính sách đáp ứng của
pháp luật hoặc các khuôn khổ pháp lý của nước sở cá nhân. Lập luận tương tự có
thể được thực hiện của các tổ chức vận chuyển nhiều đăng ký dưới lá cờ của tiện
lợi cho phép giảm chi phí.
Ngoài ra, để bán tại tất cả các thị trường có thể yêu cầu làm việc với mẫu số
chung cao nhất. Không phải tất cả các quốc gia hoạt động tiêu chuẩn môi trường
giống nhau và mặc dù EU đã cố gắng để tiêu chuẩn hóa một số pháp luật vẫn còn
có sự khác biệt trong những tổ chức yêu cầu môi trường phải thực hiện ở các nước
khác nhau. Phù hợp với các yêu cầu nghiêm ngặt của thị trường nhất định có thể
cải thiện vị thế cạnh tranh của các công ty tại các thị trường khác.
Đề nghị hoặc quy định có thể cũng có thể thuyết phục các tổ chức để xem
xét tác động của các hoạt động của họ, đặc biệt nếu trong tương lai pháp luật
nghiêm ngặt hơn trông có khả năng như chính phủ chấp nhận nguyên tắc người
gây ô nhiễm phải trả tiền cho bất kỳ thiệt hại môi trường gây ra. Để đánh giá bởi
kinh nghiệm của Mỹ, có thể là hành động hồi có thể được thực hiện, với các công
ty bị phạt về quyết định lấy năm trước đó.
Đối với một số tổ chức tuân thủ pháp luật là một mục đích tự thân , cho
người khác quy định tạo thành một tiêu chuẩn tối thiểu của hành vi. Văn hóa của tổ
chức, trong phạm vi hạn chế chi phí rõ ràng, sẽ xác định mức độ của hành vi trên
luật pháp. Cho các tổ chức nhìn thấy trách nhiệm của mình hơn và trên luật pháp ,

thể chịu trách nhiệm cho hành động của mình . Ngày càng có nhiều người tiêu
dùng sành điệu đưa ra một sai khiến mạnh mẽ cho các công ty và bất chấp sự thiếu
thông tin hoàn hảo một số sản phẩm đã được chuyển đổi xảy ra . Các công ty tìm
cách duy trì thị phần hiện tại , hoặc tìm kiếm những cơ hội mới , phải ý thức được
những thay đổi này . Hiện đã có một số chương trình ghi nhãn sinh thái đã được
phát triển mà đã có hỗ trợ người tiêu dùng trong việc xác định các sản phẩm được
cho là có tác động ít nhất đến môi trường trong lớp học đặc biệt của họ.
Một nhãn sinh thái EU đã được đưa ra vào năm 1993, nhưng đưa lên đã bị
chậm các nước thành viên EU và chỉ có khoảng 200 sản phẩm đã được giới thiệu
thành công và chứng nhận theo chương trình. Ở Anh trước đây Cục Môi trường,
Giao thông vận tải và các khu vực (DETR) đã quyết định năm 1998 không còn tiếp
tục với chương trình và kêu gọi các nước thành viên EU để thúc đẩy một ‘chính
sách sản phẩm tích hợp’
Sản phẩm thân thiện với môi cũng có nhãn hiệu là xa phổ biến ở châu Âu,
nơi có một cái nhìn rộng hơn nhiều của thiên nhiên chứ không phải là tập trung vào
các vấn đề cụ thể, chẳng hạn như bảo vệ động vật hoặc các chương trình lâm
nghiệp được chứng nhận. Điều này dẫn đến tốt hơn - sáng kiến quy định và công
bố công khai khuyến khích và các sản phẩm thân thiện với môi dán nhãn. Ví dụ,
chín quốc gia nhãn sinh thái đang hoạt động trong bảy nước thành viên EU (Hà
Lan và Tây Ban Nha đều có hai) và các chương trình nhãn sinh thái ở châu Âu nói
chung cũng được kính trọng, có xác nhận của cơ quan kiểm soát độc lập.
Tiền thân của các nhãn hiệu khác nhau được thành lập tại Đức vào năm 1978
và đã được thông tục gọi là ‘ Thiên thần Xanh’. Các nhãn hiệu đã được chấp nhận
bởi hơn 4300 sản phẩm và 90 nhóm sản phẩm, và đó là tuyên bố rằng đa số các hộ
gia đình tìm ra cho Thiên thần Xanh khi lựa chọn các sản phẩm thân thiện môi
trường nhãn khác bao gồm, ở Hà Lan, Stichting Milieukeur;. Tại Pháp , NF Môi
trường, tại Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển, Bắc Âu White Swan. Quan trọng nhất,
các doanh nghiệp có nhu cầu áp dụng cho các nhãn này sẽ phải cung cấp bằng
chứng về hiệu suất môi trường từ các nhà cung cấp của họ để hội đủ điều kiện.
Bằng cách này các sản phẩm sẽ được đánh giá bằng cách sử dụng phân tích vòng

chấp cho các khoản vay . Kết quả là đã có một sự thắt chặt đáng kể trong dòng
chảy của tiền vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm như thương phế liệu, kinh
doanh đối phó với chất thải nguy hại , giấy và bột giấy nhà máy và trạm xăng dầu.
xu hướng tương tự được thể hiện rõ trong vương quốc , nơi các ngân hàng ngày
càng trở nên thận trọng về các khoản vay cho các doanh nghiệp nhỏ , nhưng vì
trách nhiệm môi trường treo trên họ . do đó , trong khi vương quốc thống nhất là
chưa thấy loại này của pháp luật , các ngân hàng và các tổ chức cho vay khác đã rất
ý thức về trách nhiệm môi trường của họ và điều này ngày càng gói gọn trong
chính sách cho vay của họ.
Áp lực bên ngoài
Đã có một số lượng đáng kể áp lực từ các nhóm bên ngoài vào kinh doanh, chúng
đã thay đổi từ nhóm đặc biệt được hình thành trong commuities địa phương để tổ
chức xuyên quốc gia lớn như Greenpeace. Kích thước và quy mô của các nhóm có
thể khác nhau nhưng mục tiêu của họ cũng tương tự như: sử dụng bất cứ quyền lực
họ có lúc xử lý của họ gây ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định, và đã có một số
thành công đáng kể. cho nhiều nhóm, tuy nhiên, điều này không đi đủ xa và theo
đó kêu gọi tăng dân chủ hóa quá trình ra quyết định bao gồm các nhóm liên quan
rộng lớn hơn đang trở nên thường xuyên hơn và om sòm.
dân chủ hiệu quả giả định các bên liên quan truy cập lớn hơn, với những thay đổi
trong cơ cấu viên một nền văn hóa ; độ sâu của truy cập và độ lớn của sự thay đổi
phụ thuộc vào mức độ mà dân chủ được chấp nhận. Dân chủ có sự tham gia có thể
là hình thức hiệu quả nhất, nếu chưa một philosphy phần lớn chưa được kiểm tra ,
tuy nhiên, sự thành công của phương pháp tiếp cận suchnan sẽ đòi hỏi không chỉ
tham gia vào các quá trình ra quyết định, mà còn truy cập vào thông tin và kiến
thức chuyên môn mà tạo cơ sở cho quyền lực hiệu quả và ảnh hưởng đáng kể ,
phương pháp này vẫn được văn hóa chấp nhận bởi phần lớn các doanh nghiệp ở
Vương quốc Anh .
Cuối cùng , có sự nguy hiểm của các công ty chôn vùi trong cát với hy vọng rằng
bảo vệ môi trường mới là mốt quản lý mới nhất . Chi phí, tuy nhiên, trong một
phản ứng chậm trễ và các mối đe dọa có thể hành động pháp lý cũng như tiền phạt

bản một báo cáo 'giá trị', một phạm vi rộng, độc lập xác nhận kiểm toán hồ sơ theo
dõi của công ty về các vấn đề môi trường, bảo vệ động vật và các mối quan hệ con
người trong doanh nghiệp. Hầu hết các báo cáo, tuy nhiên, cung cấp rất ít trong
cách báo cáo nội dung và trình bày các thông tin những gì còn lại rất nhạy cảm và
không được bao phủ bởi bất kỳ quy định.
DI CƯ
Trong xu thế toàn cầy hóa,các công ty thường tìm đến lực lượng lao động xuất
khẩu trên toàn thế giới bởi vì các công ty này không thể dựa vào thị trường lao
động trong nước. Lực lượng lao động xuất khẩu có vai trò rất quan trọng, mặc dù
nó không tác động đến dân số thế giới nhưng lại tác động mạnh mẽ đến dân số
từng quốc gia. Năm 2006, dân số nhập cư là 192 triệu người, chiếm 2.9% dân số
thế giới( nhập cư 2.1% năm 1960).
1
Năm 2006, Mỹ chiếm 20% trong tổng số, Liên
Bang Nga đứng thứ 2 với 7%. Bảng dưới đây cho thấy di cư thuần chọn Châu Âu
từ năm 2000 đến năm 2005.Nó chỉ ra dòng chảy ròng nhập cư vào Châu Âu nhưng
lại di cư ở Đông Âu, di cư nhiều nhất ở Ukraine. Bảng cho thấy các nước quan
trọng nhất trong từng lĩnh vực di cư, Tây Ban Nha cho miền nam châu Âu và Đức
cho Tây Âu. Ở Bắc Âu, Vương quốc Anh là lớn nhất về số lượng trong khi Ireland
là lớn nhất về tỷ suất di cư.
Di cư quốc tế lựa chọn khu vực/đất nước ở Châu Âu, năm 2000 đến 2005
Khu vực di cư thuần(000) tỷ suất di cư trên 1000
dân số
Châu Âu 1083 1.5
Đông Âu -105 -0.3
Ukraina -140 -2.9
1 Liên Hiệp Quốc, Báo cáo di cư quốc tế, năm 2008.
Bắc Âu 232 2.4
Anh 137 2.3
Ai-len 39 9.8

động nhà.Ở Mỹ, người ta ước tính rằng GDP tăng 8 tỷ USD trong năm 1997 hoàn
toàn là vì nhập cư.Một lí do khác nhưng không phải do nghiên cứu đó là dân di cư
đại diện cho kênh chi tiêu phúc lợi, y tế và giáo dục ở nước sở tại. Một báo cáo văn
phòng cho thấy ở Anh từ năm 1999 và 2000 người nhập cư đóng 2,1 tỷ bảng Anh
tiền thuế nhiều hơn lợi ích mà họ nhận được.
3
Sự di cư của lao động có tay nghề cao là một lợi ích rõ ràng cho nước chủ nhà
nhưng đối với các quốc gia có lực lượng di cư này, nó lại đại diện cho sự "chảy
máu chất xám" - giáo dục, kỹ năng và kiến thức bị mất.điều này không phải hoàn
toàn là tiêu cực, người di cư thường trở về nhà, mang theo những kiến thức và kĩ
năng mới - “sự quay về của chất xám”. OECD ước tính từ 20 đến 50 phần trăm
người di cư trở về nước của họ trong vòng năm năm.Số lượng sinh viên nước
ngoài ngày càng gia tăng, tăng 50% từ năm 2000 đến 2005 ở các nước OECD. Các
nước được hưởng lợi nhiều nhất là Mỹ, Anh, Úc, và Pháp. Điều này mang lại lợi
ích ngắn hạn theo hình thức thu nhập thêm phí nhưng loại hình di cư này thường là
tạm thời như các sinh viên trở về nhà sau khi kết thúc việc học.
Một lợi ích mà các nước có nhiều dân nhập cư đó là kiều hối - người di cư gửi
tiền về nhà cho các gia đình của họ - ước tính là 100 tỷ USD trong năm 2004
nhưng con số này có thể gấp đôi khi các kênh không chính thức được đưa vào tài
2 Báo cáo di cư thế giới, IOM, 2005
3 Văn phòng Anh,2002

Trích đoạn ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CÁC CÂU HỎI SAU:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status