CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV
TẠI CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
2.1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM – PHÁT
TRIỂN VÀ KHÓ KHĂN:
2.1.1 Khái niệm:
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp là vừa và nhỏ ở các nước là không giống
nhau. Một số nước chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là số lao động (nhỏ hơn hoặc bằng
250 người). Có nước lại căn cứ vào mức doanh thu hàng năm. Một số khác đặt ra các
tiêu chí khác nhau cho các ngành công nghiệp khác nhau.
Ở nước ta Nghị định số 90/2001/NÐ-CPcủa Chính phủ ngày 23 tháng 11 năm
2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 3 của Nghị định
này định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá
trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng
thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Và theo điều 4 của nghị định này các đối tượng áp dụng là:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày03 tháng
02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh.
2.1.2 Các DNNVV ở Việt Nam:
Ở Việt Nam các DNNVV được chia làm 3 nhóm như sau:
1. Doanh nghiệp Siêu nhỏ: Gồm không quá 9 nhân công.
2. Doanh nghiệp Nhỏ: Gồm không quá 49 nhân công.
3. Doanh nghiệp Vừa: Gồm không quá 299 nhân công.
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
Tổng số
266.323 97 9.880
256.347
(Nguồn: Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp (Cục Phát triển DNNVV-Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, 2008)
•
BẢNG 4: Phân bố doanh nghiệp và DNNVV theo vùng và lãnh thổ (năm
2002)
Quy mô Tổng số Đồng Đông Tây bắc Duyên Duyên Tây Đông
Đồng
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
bằng
sông
Hồng Bắc
hải bắc
Trung Bộ
hải Nam
Trung
Bộ Nguyên Nam Bộ
bằng sông
Cửu Long
Tổng số
2,720,479 777,451 242,140 40,036 342,233 226,626 111,304 478,754 501,389
Tỉ lệ trên
tổng số (%)
100 29 9 1 13 8 4 18 18
Tỉ lệ
0.08 0.08 0.05 0.03 0.09 0.10 0.20
0.03
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng cục
Thống kê năm 2002 )
BẢNG 5:Cơ cấu nội bộ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chia theo quy mô
Số cơ sở
Tỉ lệ phần trăm trên
tổng số doanh nghiệp
siêu nhỏ (%)
Tỉ lệ phần trăm trên tổng số các cơ sở kinh doanh (%)
Tổng số 2,660,439 100 97.8
Cơ sở 1
lao động
1,598,440 60.1 58.8
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
Cơ sở có
từ 2-5 lao
động
1,012,798 38 37.2
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng cục T/kê
2002)
BẢNG 6:Tổng vốn đầu tư của các DNNVV (năm 2002)
Tiêu chí
thực hiện-
Tổng vốn
đã đầu tư
Tổng số <= 5 6-9 10-49 50-299 >= 300
• Tính trung bình đơn giản theo đơn vị triệu đồng
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng
cục thống kê,2002)
Năm 2002, phần lớn doanh nghiệp siêu nhỏ (hơn 97%) đăng ký dưới hình thức hộ kinh
doanh và hoạt động trên toàn quốc. Xem bảng dưới đây để biết thêm chi tiết:
BẢNG 7:Cơ cấu nội bộ nhóm các doanh nghiệp hộ gia đình
Loại hình doanh
nghiệp
<= 5 6-9 10-49 50-299 >= 300 % DNNVV % DN lớn
Doanh nghiệp hộ
gia đình
2,619,341 2,570,243 30,880 17,741 471 6 100.0 0.0
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng cục
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
Thống kê năm 2002 )
BẢNG 8:Phân bố các doanh nghiệp hộ gia đình theo quy mô và vùng lãnh
thổ(2002)
Quy mô (tính
theo lao động)
Tổng số
Đồng
bằng
sông
Hồng
Đông
Bắc
Tây
bắc
Tầm quan trọng của các DNNVV không thể xem nhẹ:
• Có số lượng nhiều nhất.
• Tạo nhiều công ăn việc làm nhất.
• Thường góp nhiều nhất vào GDP.
Kể từ khi chính sách Đổi mới ra đời vào năm 1986, nhiều doanh nghiệp tư
nhân đã bắt đầu đi vào hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Đặc
biệt, việc ban hành Luật Doanh nghiệp vào năm 2000 đã tạo điều kiện thuận lợi cho
nhiều nhà doanh nghiệp lập các công ty mới. Số lượng doanh nghiệp tư nhân, và đặc
biệt là các doanh nghiệp SME, đã tăng mạnh.Cần lưu ý là 86,5% doanh nghiệp ngoài
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
quốc doanh được đăng ký
thành lập mới là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa(SME). Khi
phân loại theo số lao động,
99,7% là các doanh nghiệp
SME, còn khi phân loại theo
vốn đăng ký thì 99,6% là các
doanh nghiệp SME.
Theo số liệu thống kê về vốn
đăng ký của các doanh nghiệp SME, vốn đăng ký bình quân ở mức 0,92 tỷ đồng vào
năm 2000, 2,4 tỷ đồng vào năm 2001, và 3,4 tỷ đồng vào năm 2002. Những con số
này cho thấy các doanh nghiệp SME, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất, đã tăng vốn
điều lệ để mở rộng hoạt động dưới hình thức đầu tư vào nhà xưởng, trang thiết bị và
vốn lưu động. Nguyên nhân có thể là việc vay vốn ngân hàng không phải là một lựa
chọn thực tế đối với các doanh nghiệp SME mới thành lập và các doanh nghiệp này
hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của mình.
Sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Việt Nam. Như số liệu tại (đồ thị 1), các doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đóng
%80
%100
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Domes t ic Private Enterprises SOE Foreign Invested Ent erpris es
Đồ thị 1: Cơ cấu GDP theo sở hữu (giá so
sánh 1994)
Nguồn: Tổng cục thống kê (2003)
0
,5 000
,10 000
,15 000
,20 000
,25 000
,30 000
,35 000
,40 000
1
99
0
1
99
1
1
99
2
1
99
3
1
9
Kết quả này có thể là do sự thiếu cơ hội tiếp cận các khoản tín dụng thương mại đã
buộc nhiều doanh nghiệp SME tư nhân sử dụng DNNN làm đơn vị xuất nhập khẩu
ủy thác. Ngân hàng Thế giới cũng khẳng định sau khi Luật Thương mại ra đời vào
năm 1998, doanh nghiệp SME đã có nhiều cơ hội thương mại hơn và thị phần thương
mại của họ đã tăng lên nhanh chóng.
Trong bất kì quốc gia nào, tất cả các nguồn lực kinh tế không thể tập trung vào các
doanh nghiệp có quy mô lớn, bởi doanh nghiệp lớn không thể bao quát được toàn bộ
thị trường, với sự năng động của mình các SEM có thể giúp các doanh nghiệp lớn
tiếp cận được thị trường. Mặt khác các SME là các doanh nghiệp làm vệ tinh cung
cấp các sản phẩm đầu vào hay chế tác, sản xuất kinh doanh trong chu kỳ hoạt động
của các doanh nghiệp lớn, chính điều này đã tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các loại
hình kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế
nói chung. Một doanh nghiệp khi mới thành lập không thể là một doanh nghiệp lớn
ngay được mà xuất phát điểm là từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể nói doanh
nghiệp nhỏ và vừa là khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển các loại hình doanh
nghiệp lớn trong xã hội.
Một vai trò nữa của SEM mà chúng ta cần phải nói đến, nhất là ở Việt Nam là các
SEM đã góp phần khơi dậy ngành nghề truyền thống trong các ngành, vùng ở các địa
phương, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú và cung cấp nhiều hàng hóa phục
vụ xuất khẩu.Thông qua việc mở rộng sản xuất , nâng cao sức cạnh tranh của từng
doang nghiệp ở khu vực này, đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu diễn ra nhanh hơn. Những ngành, sản
phẩm có khả năng cạnh tranh, khai thác được lợi thế so sánh ở các vùng, miền được
chú trọng phát triển, nhờ đó khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung cũng
được nâng lên, các nguồn lực đầu tư cho phát triển được khai thác hiệu quả hơn. Từ
đó, xuất hiện các cơ sở kinh doanh điển hình làm ăn giỏi, thực hiện xóa đói giảm
nghèo, cải thiện đời sống của người lao động.
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh:
Khác với doanh nghiệp lớn – cần thị trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của
Nhà nước và có sự độc quyền, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động với số lượng đông
đảo, thường không có tình trạng độc quyền. Các SME có tính chất tự chủ cao hơn,
không dựa vào sự giúp đỡ của nhà nước, sẵng sàng hợp tác với nhau để cùng phát
triển mà không ngại rủi ro. Chính điều đó làm cho nền kinh tế sống động và thúc đẩy
việc sử dụng tối đa các tiềm năng của đất nước. Đây là ưu thế quan trọng của doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát huy được tiềm lực trong nước:
Thành công của SME là nắm bắt được những điều kiện cụ thể của đất nước về
tài nguyên, lao động. Trong các doanh nghiệp lớn, việc sử dụng nguyên liệu sẵn có
tại đại phương thường gặp khó khăn do trữ lượng thấp không đảm bảo cho sản xuất
lớn. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao
động tại đại phương và tận dụng các tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có tại đại
phương, phát huy hết tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự phát
triển của các SME ở giai đoạn đầu là cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hóa thay thế
nhập khẩu. Với vốn liếng và trình độ kỹ thuật của mình, doanh nghiệp nhỏ và vừa có
thể sản xuất một số mặt hàng thay thế nhập khẩu, phù hợp với sức mua của dân
chúng. Từ đó góp phần ổn định đời sống – xã hội và phát triển kinh tế bền vững.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó tiếp cận được nguồn vốn tín dụng NH:
Thiếu thông tin tài chính tin cậy về SEM:
Báo cáo tài chính của công ty là nguồn thông tin chính để ngân hàng đánh giá
rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, như đã thảo luận tại các phần trước, nhiều doanh nghiệp
SME không cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy. Điều này khiến cho doanh
nghiệp SME khó có thể có được các khoản vay từ ngân hàng.
Có hai giải thích cho thực trạng này là: thiếu năng lực hoặc hạch toán kế toán sai.
Trong thực tế, doanh nghiệp SME chuẩn bị ba bộ hồ sơ kế toán, một cho ngân hàng,
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
27
thức xét cho vay chỉ dựa vào tài sản đảm bảo.
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNNVV……….
Phụ thuộc vào nhận định mang tính cá nhân của cán bộ quản lý ngân
hàng:
Trong thực tế việc vay vốn ngân hàng thông qua mối quan hệ cá nhân đóng
vai trò đặc biệt quan trọng khi lần đầu đi vay ngân hàng. Một số SEM tiếp cận được
nguồn tín dụng ngân hàng là nhờ có mối quan hệ với cán bộ ngân hàng, trong khi một
số khác thì được bạn bè thông báo về kế hoạch tài trợ dành cho doanh nghiệp SME
của các nhà tài trợ.
Một số cán bộ quản lý cao cấp của ngân hàng cũng thừa nhận rằng cho vay đối với
doanh nghiệp SME chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo và các mối quan hệ cá nhân với
chủ doanh nghiệp. Hoạt động ngân hàng dựa vào quan hệ như vậy rất hữu hiệu đối
với ngân hàng, đặc biệt trong việc tài trợ các doanh nghiệp SME vì các doanh nghiệp
này chưa thiết lập được lòng tin và tình hình sản xuất kinh doanh của họ thường biến
động.
Cán bộ quản lý hoặc cán bộ tín dụng có liên hệ cá nhân với chủ hoặc nhân viên của
doanh nghiệp là người có nhiều cơ hội tiếp cận với những thông tin mềm, và có thể
nhận định việc cho vay trên cơ sở thông tin đó. Việc những cán bộ này được trao
nhiều quyền quyết định hơn có thể giúp các doanh nghiệp SME tiếp cận với các
khoản vay ngân hàng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, phụ thuộc quá nhiều vào thẩm quyền
cá nhân như vậy có thể tạo ra tham nhũng.
Sự chậm trễ trong thủ tục của cơ quan nhà nước:
Thủ tục rườm rà trong cho vay không chỉ là vấn đề của các ngân hàng. Một số
doanh nghiệp SME còn gặp khó khăn do sự chậm trễ trong khâu xin cấp chứng nhận
quyền sử dụng đất từ cơ quan nhà nước.
2.1.5 Những khó khăn chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam:
Mặc dù đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển
của xã hội, nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng còn gặp không ít khó khăn. Với
tạo, thiếu kỹ năng, sư hỗ trợ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
còn thiếu cả khuôn khổ pháp lý cũng như công cụ thực thi.
Trong những năm đổi mới vừa qua, do sức ép của thị trường và những tác
động của cơ chế quản lý kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta đã có sự đổi
mới công nghệ ở mức độ nhất định, đó là từng bước cơ khí hóa từng phần hoặc toàn
SVTH: NGŨ VẠN ĐĂNG
30