SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH TÌM HIỂU ĐỀ, TÌM Ý, CHỌN
VÀ SẮP XẾP Ý KHI LÀM MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN”
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1. Lí do chọn đề tài:
Hoà chung với nhịp độ đi lên của đất nước đang trên đường tiến vào thế kỉ XXI. Một
thế kỉ công nghiệp hoá – hiện đại hoá ( CNH- HĐH). Mục tiêu của Giáo dục hiện nay là:
“ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đó là một nhiệm vụ hết sức
vinh quang nhưng cũng không kém phần nặng nề của ngành Giáo dục. Như Nghị quyết
đại hội Đảng lần thứ VIII của Ban chấp hành TW đã khẳng định đẩy mạnh CNH-HĐH
đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng , dân chủ và văn minh,
đất nước vững bước đi lên CNXH. “Giáo dục & Đào tạo là quốc sách hàng đầu.”Theo
định hướng đó thì bậc tiểu học là nền tảng. Mục tiêu giáo dục là nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, nhằm đào tạo một thế hệ trẻ vừa “ hồng” vừa “chuyên”, có đầy đủ” Đức-
Trí- Mĩ- Duc”; có kiến thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nhiệp, lao động tự chủ,
sáng tạo, có kĩ thuật, giàu lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng
với nhu cầu phát triển của đất nước trong những năm 2012-2020 và trong tương lai. Mỗi
một môn học ở bậc tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ ;
cung cấp cho trẻ những trí thức cần thiết. Đặc biệt môn Tập làm văn là một phân môn hết
sức quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng nói và viết cho trẻ. Vì vậy dạy cho học sinh
biết tìm hiểu đề ,quan sát tìm ý … để hình thành một thói quen chuẩn bị tốt trước khi
làm một bài Tập làm văn là một yêu cầu hết sức quan trọng. Muốn tìm hiểu đề tốt, học
sinh cần nắm được cách đặt các câu hỏi tìm trọng tâm của đề một cách chính xác và
những yêu cầu để làm tốt một bài Tập làm văn.
Đối với cả giáo viên và học sinh đều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của
giờ hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, quan sát, tìm ý , chọn lọc ý và sắp xếp ý nên chất
lượng giờ dạy còn hạn chế. Từ thực tế trên, qua quá trình giảng dạy, khi thấy học sinh
thường sai đề một cách đáng tiếc.Với mong muốn có một đóng góp nhỏ bé trong việc
giáo dục học sinh phát triển toàn diện; nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân. Xuất
phát từ những suy nghĩ trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài : “ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu
bổ cứu trong cách dạy của mình. Sau đây là những bước nhằm giúp học sinh làm bài một
cách có chất lượng qua “Tìm hiểu đề, tìm ý, chọn lọc và sắp xếp ý” trước khi làm một
bài Tập làm văn hoàn chỉnh của lớp 4+5.
I.5. Phương pháp nghiên cứu:
Dùng phương pháp tổng kết kinh nghiệm, ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp
sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm ( Nghiên cứu bài làm của các em).
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc, tham khảo tài liệu qua sách báo,
- Khảo sát tình hình thực tế, dự giờ thăm lớp.
- Phương pháp thực hành, so sánh đối chiếu,….
II. PHẦN NỘI DUNG:
II.1. Cơ sở lí luận:
Trong thực tế bài làm của học sinh thường không xuất sắc vì rơi vào các trường hợp
sau: sai đề hoàn toàn; bài làm dàn trãi, không thể hiện được trọng tâm yêu cầu của đề ra;
bài làm phiến diện, thiếu cân đối (ý trọng tâm thì lướt qua còn ý phụ lại đi sâu hơn); bài
làm đúng yêu cầu nhưng ý nghèo, nông cạn,… Nguyên nhân chính của những sai sót này
là do học sinh không chịu tìm hiểu kỹ đề, tìm và chọn lọc ý mà chỉ đọc qua quýt rồi làm
bài trực tiếp chứ không thông qua làm nháp. Không chỉ do học sinh lười tìm hiểu đề mà
thực chất do giáo viên chúng ta không chú trọng đến khâu này, không trực tiếp hướng
dẫn và kiểm tra một cách nghiêm túc, chặt chẽ đối với học sinh cho nên các em không có
thói quen tìm hiểu đề, tìm ý. Thậm chí, một số giáo viên có ý thức chú trọng khâu này
nhưng lại lúng túng chưa tìm ra biện pháp hướng dẫn cho học sinh xâm nhập đề ra nên đã
bỏ qua bước quan trọng bậc nhất này. Tìm hiểu đề, tìm ý, chọn và sắp xếp ý khi làm một
bài văn là khâu đầu tiên quan trọng nhất quyết định đúng sai trong quá trình làm bài. Đặc
biệt, đối với học sinh tiểu học khâu này lại càng cần thiết vì các em còn nhỏ, ngây thơ
trong cách học, cách hiểu, cách làm bài.
II.2. Thực trạng:
a/ Thuận lợi - Khó khăn:
- Các em rất giàu tư duy sáng tạo, mỗi em đều có những sở trường riêng. Ở lứa tuổi các
em rất thích tỏ ra mình là một người lớn, biết vâng lời, luôn luôn lắng nghe, ham học
hỏi,say mê tìm tòi,hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng. Các em thường thể hiện nét ngộ
nghĩnh đáng yêu và cảm nhận thế giới xung quanh theo từng cách riêng với trí tưởng
tượng không giống nhau.
- Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Buổi sáng học lý thuyết và buổi chiều được
luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức. Từ đó giúp các em có khả năng sử dụng thành
thạo các bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các phân môn khác.
* Khó khăn:
- Do đặc điểm lứa tuổi học sinh giai đoạn này thường tiếp thu tốt nhưng cũng nhanh
quên; các em còn ngại khó, hễ gặp vấn đề hơi khó là muốn dừng lại mà phân môn Tập
làm văn lại là môn đòi hỏi tính cần cù, nhẫn nại cao.
- Trong trường có học sinh của ba dân tộc khác nhau, nhìn chung khả năng tiếp thu không
đồng đều, một số học sinh vốn ngôn ngữ Tiếng việt hạn chế nên đã ảnh hưởng nhiều đến
khả năng tạo lập văn bản của các em.
- Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa điều kiện để các em phát triển về giao tiếp còn hạn
chế không được mở rộng như thành thị, học sinh chưa nhạy bén trong va chạm, vốn sống
của các em chưa thật phong phú.
- Ý thức học tập của một số em còn hạn chế. Bên cạnh đó học sinh với lối tư duy cụ thể,
khả năng tư duy trừu tượng chưa cao, chưa có ý thức tự giác học bài ở nhà, còn trông chờ
vào sự giúp đỡ của giáo viên nên kết quả học tập chưa cao.
- Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình khi cuộc sống còn gặp
nhiều khó khăn, vất vả, còn có quan điểm '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ thầy cô'' cũng
làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập các môn nói chung và Tập làm văn nói riêng.
b/ Thành công – Hạn chế:
* Thành công: Tất cả: Tìm hiểu đề bài, tìm, chọn, sắp xếp ý là quá trình hoạt động của
trí óc giúp cho học sinh làm bài không lạc đề, bài làm trở nên chặt chẽ và nổi bật trọng
tâm, đầy đủ và phong phú - bài viết hấp dẫn mang phong cách riêng chứ không rập
khuôn theo một khuôn mẫu. Chính vì vậy khi áp dụng phương pháp này trong phân môn
Tập làm văn thì khả năng phát triển của học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
nhau.
+ Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ của học sinh khá, giỏi và học sinh trung bình, yếu
nên giáo viên rất khó sử dụng các phương pháp “hiện đại” để có thể thực hiện tốt nhiệm
vụ giáo dục. Nếu chú ý đến học sinh khá, giỏi thì sẽ bỏ qua học sinh trung bình, yếu.
Nhưng nếu tập trung vào học sinh trung bình, yếu, kiên trì với đối tượng này đạt được
yêu cầu bài văn thì lại ảnh hưởng đến sự phát triển của số học sinh khá, giỏi.
+ Một khó khăn nữa là nhiều học sịnh viết chữ chưa đẹp, nếu không nói là rất xấu, sai
chính tả. Nhiều bài văn có chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. Với một bài văn đầy lỗi chính
tả, tẩy xoá thì việc đọc lại bài, chau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là khó khăn, gian
khổ.
c/ Mặt mạnh- Mặt yếu
* Mặt mạnh:
Do chú trọng khâu này nên đã khắc phục được tình trạng lạc đề hoặc làm bài dàn trãi.
Đối với những em yếu, trung bình thì bài làm đã đúng trọng tâm. Đối với những em khá,
giỏi thì rất phong phú về ý, sâu sắc về nội dung, chặt chẽ trong lập luận. Do vậy, có một
phần không nhỏ cho thành công của học sinh trong mùa thi.
* Mặt yếu:
Còn có nhiều học sinh đọc chưa thông, viết chưa thạo nên khi làm bài văn không tìm
hiểu sâu sát được vấn đề. Vì vậy bài làm của các em thường sai đề một cách đáng tiếc.
d/ Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Các bài Tập làm văn trong sách giáo khoa của học sinh còn hướng dẫn một cách chung
chung, thiếu cụ thể, khó hiểu, chưa gây hứng thú học tập cho các em.
- Có một số giáo viên chuẩn bị bài chưa chu đáo nên khi lên lớp hướng dẫn học sinh tìm
hiểu đề, quan sát chưa kỹ, cho nên học sinh chưa biết cách tìm và chọn lọc ý một cách
hợp lí,…
- Học sinh chưa biết ghi chép những gì mình quan sát được một cách rõ ràng, tỉ mỉ, chưa
biết chọn lọc, sắp xếp các ý mà mình đã quan sát được theo trình tự thời gian, không gian
bằng các giác quan của mình.
- Học sinh thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng trong đề bài. Không quan sát
theo đúng yêu cầu. Vốn ngôn ngữ còn quá ít ỏi , chưa biết dùng từ đặt câu, viết văn còn
- Hướng dẫn, yêu cầu học sinh đặt câu hỏi chọn lọc và sắp xếp ý.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp biện pháp:
+ Tìm hiểu đề: Đọc kỹ đề ra (Đọc nhiều lần, đọc theo từng mức độ khác nhau, vừa
đọc vừa suy nghĩ, cân nhắc từng chữ, từng ý trong đề ra)
- Đọc thầm: Đây là bước đầu tiên tiếp xúc với đề ra nên yêu cầu học sinh thật tập trung
chú ý. Giáo viên yêu cầu cả lớp im lặng nhìn lên đề ra ghi trên bảng và đọc kỹ bằng mắt
cho quen chữ, quen cách ngắt, nghỉ trong từng câu, từng vế của đề ra. Tất nhiên, đây là
lúc giáo viên đọc đề cho các em nghe.
- Đọc to: Yêu cầu vài em đứng dậy đọc to đề cho cả lớp nghe, trong lúc đó, lớp vẫn đọc
thầm bằng mắt theo bạn.
- Đọc diễn cảm: Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình đọc đề, tìm hiểu đề. Diễn cảm
ở đây không phải ngân nga lên bổng xuống trầm mà là đọc rõ, biết ngắt, nghỉ, nhấn giọng
ở những từ ngữ quan trọng (Giáo viên đọc một lần, yêu cầu hai đến bốn em đọc). Qua
đọc, ý của đề ra sẽ rõ ràng, các trọng tâm yêu cầu rất dễ nhận rõ, giúp học sinh thâm nhập
đề ra một cách dễ dàng nhanh chóng.
Giáo viên có thể hỏi: theo em, nên ngắt, nghỉ hơi ở chổ nào? Nhấn giọng ở những từ ngữ
nào? Vì sao? (Có thể cho vài em đọc lại đúng ngữ điệu).
Tóm lại, đọc kỹ đề là bước đầu tiên quan trọng nhất giúp các em nghe, hiểu, thâm nhập
đề ra một cách chắc chắn nhất. Nhưng mới chỉ đọc thì chưa đủ mà trong quá trình đọc
phải kết hợp vừa đọc vừa suy nghĩ, cân nhắc từng chữ, từng từ để xác định mối quan hệ
giữa các từ ngữ, các vế trong đề ra, đặc biệt là cần đặt câu hỏi để xác định trọng tâm yêu
cầu của đề mà ta sẽ nói ở phần tiếp theo.
+ Xác định trọng tâm yêu cầu của đề ra:
Nếu không xác định trọng tâm yêu cầu của đề thì học sinh sẽ làm sai đề hoăc bài làm của
các em sẽ rơi vào dàn trãi hoặc phiến diện. Học sinh không hiểu đề hay chỉ hiểu một cách
mơ màng mà không biết yêu cầu chính của đề ra.
Muốn xác định đúng trọng tâm của đề ra, yêu cầu các em đặt câu hỏi: Đề yêu cầu chúng
ta phải làm gì? (tả, thuật hay kể?). Đối tượng nào? (Cảnh, vật, người hay đồ vật? ), yêu
cầu: tả, thuật hay kể về cái gì là chính? Muốn trả lời chính xác câu hỏi sau cùng, giáo
viên yêu cầu các em phải suy nghĩ, cân nhắc từng chữ, từng từ, vì có những dạng đề chỉ
"chiều mưa", "quê em" và cùng yêu cầu miêu tả nhưng vị trí các ngữ được đảo lại.
Qua sự đảo lại như vậy giúp em hiểu trọng tâm yêu cầu của mỗi đề.
Đề a: Yêu cầu tả "chiều mưa" là chính, hay tả "quê em" là chính? (tả "quê em" là chính:
Tức là tả cảnh, người, vật "quê em" lúc trời mưa).
Đề b: Tả cảnh nào là chính? (Cảnh "chiều mưa", tức là cảnh mưa như thế nào? Âm thanh,
màu sắc, mức độ gió ra sao? Sấm? Chớp?… Mưa làm cho cảnh vật ra sao?
Sau đó, giáo viên cung cấp hai đoạn văn miêu tả (Viết lên bảng).
Giáo viên hỏi học sinh : Theo em đoạn văn nào tả "quê em chiều mưa" đoạn văn nào tả
"chiều mưa quê em"? qua trả lời của học sinh, giáo viên giúp các em nắm vững hơn về sự
khác nhau trên.
Với những dạng đề trên, nếu học sinh hấp tấp thiếu bình tỉnh sẽ rất dễ sai đề. Nhất là khi
các em được làm một đề (đề a hoặc đề b). Đến khi làm bài kiểm tra, gặp đề còn lại là các
em sẽ lướt qua đề rồi viết y như đã làm bài ở đề trước. Chính vì điều này nên giáo viên
lưu ý các em phải chú ý cân nhắc từng chữ từng từ, không ghi sai hoặc bỏ sót từ ngữ nào
và phải thận trọng khi gặp dạng đề tương tự đề mình đã làm, giúp các em cảnh giác để
tránh những sai lầm đáng tiếc.
Giữa đọc kỹ đề và đặt câu hỏi xác định đề là một yêu cầu quan trọng phải tiến hành cùng
một lúc: vừa đọc kỹ đề vừa cầm bút gạch chân các từ ngữ quan trọng trong đề ra. Trong
óc vừa hình thành câu hỏi thì câu trả lời ghi vào giấy nháp. Hai vấn đề đó không thể tách
rời nhau. Với học sinh tiểu học, giáo viên cần hướng dẫn từng chữ, từng cách đặt câu hỏi,
cách ghi giấy nháp như thế nào, ba dạng đề trên cũng là ba dạng hướng dẫn luyện tập tìm
hiểu đề cho các em. Sau khi đã tìm hiểu, xác định được trọng tâm yêu cầu của đề ra, tiến
hành bước 2: tìm và chọn lọc, sắp xếp ý. Đây là khâu giúp các em hình thành được trọng
tâm bài văn trên dạng ý đầy đủ nên cần hướng dẫn học sinh câu hỏi phù hợp với từng thể
loại, từng dạng đề để học sinh áp dụng cho từng đề cụ thể.
+ Tìm ý
Thông thường học sinh miêu tả hoặc kể, thuật lại một cách chung chung đại khái mà
thiếu những yếu tố riêng, cụ thể.
Ví dụ 4:
Ở lớp 4:
đường nét gì? Màu sắc, hương vị, âm thanh, hoạt động như thế nào?
Đối với tường thuật: Việc gì? Làm việc gì trước, làm việc gì sau? Làm như thế nào? Các
thao tác ra sao? Âm thanh? Động tác? Suy nghĩ? Tâm trạng? Và cảnh vật xung quanh
như thế nào?
Đối với kể chuyện: Diễn biến câu chuyện ra sao? Cần thể hiện các chi tiết như thế nào? Diễn
biến tâm lý nhân vật được bộc lộ qua những hành động ra sao? Hoặc nhân vật sẽ xử lý như
thế nào trước những tình huống? Tất nhiên, giáo viên yêu cầu học sinh phải có vở nháp để
ghi lại những ý trả lời đó.
Luyện tập: giáo viên cho 1 đề cụ thể. Yêu cầu cả lớp thầm đặt câu hỏi trong vở nháp (một
bên là câu hỏi, một bên là câu trả lời). Sau đó, gọi vài em trình bày phần câu hỏi - trả lời;
giáo viên ghi các ý lên bảng - gọi một số học sinh bổ sung những ý còn thiếu - giữ
nguyên hệ thống các ý đó để làm ví dụ minh họa cho nội dung tiếp theo.
+ Chọn lọc ý
Sau khi đã thống kê toàn bộ ý đã tìm được lên vở nháp (giáo viên ghi các ý lên bảng),
giáo viên hướng dẫn học sinh tập chọn ý theo hệ thống câu hỏi: theo các em, những ý
kiến trên, ý nào không quan trọng cần lược bỏ? Ý nào cần tả (hoặc thuật, kể…) lướt qua
vài ba câu? Ý nào cần tập trung tả (hoặc thuật, kể…) kỹ sâu hơn? Tại sao lại không tả
(hoặc thuật, kể…) hết toàn bộ? Tả (hoặc thuật, kể…) một số cảnh (người, vật, sự việc…)
và tả kỹ (…) như vậy nhằm mục đích gì?
Khi học sinh trả lời xong, giáo viên tổng hợp, bổ sung thêm: nếu tất cả các cảnh (hoặc bộ
phận trong 1 cây, 1 người, 1 con vật, 1 đồ vật) hoặc việc làm, thao tác trong công việc cụ
thể đều được tả (hoặc thuật, kể…) một cách đầy đủ, kỹ càng, chi tiết thì: bài làm sẻ dàn
trãi, lan man, dài dòng gây nhàm chán và mất thời gian; nếu chỉ lướt qua tất cả thì bài làm
sẽ nông cạn, hời hợt, thiếu sâu sắc, không cô đọng. Vậy nên, cần chọn lọc ý, xác định ý
nào không quan trọng cần bỏ hoặc lướt qua vài câu, ý nào quan trọng làm nổi bật trọng
tâm yêu cầu đề thì xoáy sâu hơn để bài văn trở nên cô đọng, hấp dẫn.
+ Sắp xếp ý
Sau khi đã chọn lọc, cần có sự sắp xếp ý xem ý nào (cảnh nào, bộ phận nào hoặc sự việc,
thao tác nào?) cần viết trước, ý nào (…) cần viết sau sao cho hợp lý và có tính thuyết
phục. Vấn đề sắp xếp ý cần có sự linh hoạt tùy theo đề bài cụ thể, tùy theo góc độ quan
II. Chuẩn bị:
- Thầy: Giấy khổ to, bút dạ - Bảng phụ tóm tắt những gợi ý giúp học sinh lập dàn ý.
- Trò: Một số tranh ảnh minh họa cảnh đẹp của đất nước.
III. Các hoạt động:
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
1.Bài cũ: - Kiểm tra việc chuẩn bị bài
ở nhà của học sinh.
2.Bài mới:
a/Giới thiệu bài mới
Các em đã quan sát một cảnh đẹp của
địa phương. Trong tiết học luyện tập
tả cảnh hôm nay, các em sẽ lập dàn ý
cho bài văn miêu tả cảnh đẹp ở địa
phương
b/ Phát triển các hoạt động:
* Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh
Tìm hiểu nắm chắc đề bài:
Phương pháp: Đàm thoại
- Giáo viên ghi đề bài lên bảng.
Đặt câu hỏi để gợi ý học sinh tìm ra
yêu cầu trọng tâm của đề bài.
- Thể loại
- Kiểu bài
- Đối tượng miêu tả
- Trọng tâm
- Cảnh đó diễn ra ở đâu? Lúc nào?
Giáo viên vừa gợi ý vừa gạch chân
các từ quan trọng của đề bài.
* Hoạt động 2: Học sinh trình bày
những điều đã quan sát được sắp xếp
tham khảo bài.
+ Vịnh Hạ Long / 81,82: xây dựng
dàn ý theo đặc điểm của cảnh.
thiết
- Hoạt động nhóm
- 1 học sinh đọc yêu cầu
- Các nhóm làm bài
- Đại diện các nhóm trình bày.
- Các nhóm khác theo dõi nhận xét ,
đánh giá.
- 3 phần (Mở bài – Thân bài – Kết bài)
Mở bài: Giới thiệu cảnh đẹp được
chọn tả là cảnh nào? Ở vị trí nào trên
quê hương? Điểm quan sát, thời điểm
quan sát?
Thân bài:
+ Tây nguyên / 82,83: xây dựng dàn
ý theo từng phần, từng bộ phận của
cảnh.
Giáo viên nhận xét, bổ sung
a/ Miêu tả bao quát:
- Chọn tả những đặc điểm nổi bật, gây
ấn tượng của cảnh: Rộng lớn - bát ngát
- đồng quê Việt Nam.
b/ Tả chi tiết:
- Lúc sáng sớm:
+ Bầu trời cao
+ Mây: dạo quanh, lượn lờ
+ Gió: đưa hương thoang thoảng, dịu
dàng đưa lượn sóng nhấp nhô
* Hoạt động 4: Củng cố
Phương pháp: Đàm thoại
Giáo viên đánh giá
- Học sinh lập dàn ý trên nháp - giấy
khổ to.
- Trình bày kết quả
- Hoạt động lớp, cá nhân
- 1 học sinh đọc yêu cầu
- Lớp đọc thầm, đọc lại dàn ý, xác
định phần sẽ được chuyển thành đoạn
văn.
- Học sinh viết đoạn văn
- Một vài học sinh đọc đoạn văn
- Lớp nhận xét
c/ Tổng kết - dặn dò:
- Về nhà hoàn chỉnh đoạn văn, viết
vào vở
- Chuẩn bị: Luyện tập tả cảnh: Dựng
đoạn mở bài - Kết luận.
- Nhận xét tiết học
- Hoạt động lớp
- Bình chọn đoạn văn giàu hình ảnh,
cảm xúc chân thực.
- Lớp nhận xét, phân tích
c/ Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp:
Quá trình này không chỉ có tác dụng riêng đối với môn Tập làm văn mà nếu áp dụng tốt,
biết triệt để vận dụng thì ngay tất cả các môn học khác nó đều phát huy tác dụng.
Giáo viên muốn thực hiện tốt quá trình này phải coi việc tìm hiểu đề, tìm ý, chọn và sắp
xếp ý là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình làm bài của học sinh. Tất cả các bài
tập làm văn của các em không thể thiếu phần này. Và trong phần này phải vạch từng ý,