SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH
LỚP 2”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài :
- Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu học đối với học
sinh lớp 2. Nó góp phần rèn luyện kỹ năng viết chữ một trong những kỹ năng hàng đầu
trong việc học tiếng Việt trong trường.
- Mặt khác chữ viết cũng là biểu hiện nét nhân cách của con người.
- Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói:“Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học
sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp cũng góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận,
lòng tự trọng đối với mình và bạn đọc bài vở của mình”
-Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học,Tiếng Việt rất cần phải tạo điều kiện
cho học sinh tự giác luyện tập và rút kinh nghiệm qua thực hành luyện viết dưới sự
hướng dẫn của giáo viên. Việc rèn luyện kỹ năng viết nhanh, đẹp cho học sinh sẽ góp
phần đáp ứng được yêu cầu này.
-Trường Tiểu học An Thạnh 1 nằm trên địa bàn dân cư có mặt bằng dân trí cao.Có đủ
điều kiện cho học sinh học tập.Nhưng còn một số phụ huynh do chưa thực sự quan tâm
nên một số học sinh chữ viết xấu,chưa đúng mẫu,chưa sạch đẹp.
Từ những vấn đề thực tế trên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết cho học
sinh lớp 2”
II. Mục đích và pương pháp nghiên cứu:
1. Mục đích :
Tìm ra một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng, đẹp trong phân môn tập viết nhằm nâng
cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2D.Rèn cho học sinh tư thế ngồi
viết đúng, chữ viết đẹp, sạch,thói quen cẩn thận tốc độ nhanh khi viết,Trau dồi ngôn ngữ
nói, viết.
2. Phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
thể:
- Nhớ được hình dáng các chữ cái viết hoa theo mẫu quy định
- Nắm được kích cỡ của từng chữ cái viết hoa (thể hiện trong khung chữ, trong mối quan
hệ giữa chữ cái viết thường).
VD: Trong cùng cỡ chữ, các chữ cái viết hoa: A, ¡ , ¢, B, C… có độ cao bằng các
chữ cái viết thường: b g, h, k, l, y, riêng hai chữ cái viết hoa được viết với chiều cao 4
li Y, G.
- Nắm được thao tác viết từng nét chữ để tạo nên chữ cái viết hoa (đưa nét theo đúng quy
trình viết ).
* Dạy học sinh biết nối (ghép) chữ cái viết hoa với chữ cái thường trong một chữ ghi
tiếng đảm bảo tính thẩm mỹ, phục vụ cho yêu cầu viết chính tả và trình bày bài.
III. Thực trạng :
1. Thuận lợi :
Trường Tiểu học An Thạnh 1 nằm trên địa bàn dân cư đông, có mặt bằng dân trí
cao.Có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất cho các em học tập.Học sinh lớp 2D có đủ đồ
dùng học tập.
2. Khó khăn :
Trong trường tiểu học việc dạy học sinh lớp 2D viết chữ là một công việc học sức khó
khăn chiếm nhiều thời gian và công sức của người giáo viên. Muốn học sinh tiểu học viết
đúng mẫu chữ, cỡ chữ tiến tới viết nhanh viết đẹp người giáo viên phải uốn nắn từng li
từng tí, phải tỉ mỉ chỉ bảo cho các em. Chính vì vậy nhiều giáo viên rất “ngại” khi rèn
sửa cho các em.
* Về phía học sinh: Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, 2
còn yếu thiếu bền vững. Các em mau quên lại chóng chán.
Chính vì vậy một số không ít học sinh còn có thái độ tiêu cực:lười biếng, cẩu thả … khi
viết.
- Năm học 2011-2012 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp 2. Sau khi làm
quen với lớp, tôi nhận thấy :
- Nhiều học sinh ngồi sai tư thế khi viết, lưng không thẳng, mắt dí sát vào vở như các em
Linh Duy, NgọcThanh, Trí Trung, Huỳnh Như, Hà Ly cả em cầm bút bằng 5 ngón tay
* Tư thế ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở
từ 25cm – 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ
vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải để ở trên mặt bàn
- Cách cầm bút: Khi viết học sinh cầm bút và điều khiển bút bằng ba ngón tay (ngón trỏ,
ngón cái và ngón giữa của bàn tay phải). Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên, đầu ngón cái giữ
bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào cạnh đốt đầu ngón tay giữa.
* Vị trí đặt vở: Vở đặt nghiêng so với mép bàn một góc khoảng 30 độ nghiêng về phía
bên phải.
- Để học sinh có kĩ năng trên, tôi đã làm một số công việc sau:
- Treo tranh mẫu tư thế ngồi viết và cách cầm bút trong phòng học ở lớp, đồng thời
thu nhỏ các hình ảnh này trên một trang giấy, phát cho từng học sinh kẹp trong vở tập
viết của mình để đánh dấu trang cần viết và luôn quan sát được khi viết
- Luôn nhắc nhở và uốn nắn tư thế viết ở tất cả giờ học chú trọng đặc biệt trong giờ
tập viết.
- Trao đổi cha mẹ học sinh về việc kiểm tra nhắc nhở con em khi tập viết ở nhà ngay
trong buổi họp CMHS biết để uốn nắn ở nhà.
Ngoài việc rèn tư thế tập viết đúng tôi còn chú trọng việc phân loại các lỗi sai của
học sinh trong quá trình viết để có thể rèn cho các em.
Biện pháp 3: Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, phương tiện dạy học.
Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 1,2 tôi thấy việc sử dụng đồ dùng trực
quan ( chữ mẫu)trong mỗi tiết tập viết là cần thiết. Đây cũng là điều kiện đầu tiên để các
em viết đúng
Chữ mẫu có nhiều hình thức: Chữ mẫu in sẵn, chữ mẫu phóng to trên bảng, chữ mẫu
trong vở tập viết, hộp chữ mẫu, chữ mẫu của giáo viên …mỗi loại chữ mẫu có tác dụng
khác nhau. Cụ thể:
+ Chữ mẫu phóng to trên bảng sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo điều kiện
cho các em phân tích hình dạng, kích thước và các nét cơ bản cấu tạo chữ cái cần viết
trong bài học.
+ Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng giúp học sinh nắm được thứ tự viết các
nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết
- Trường hợp 1: nét móc cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc hoặc nét hất
đầu tiên của chữ cái sau:
VD: a – n = an; i – m = im; t – ư = tư
Nhìn chung trường hợp này viết dễ dàng thuận lợi
Lưu ý học sinh: Khi nối 2 nét móc ở hai chữ cái, cần điều tiết về độ doãng (khoảng
cách giữa 2 chữ cái) sao cho vừa phải, hợp lý để chữ viết đều nét và có tính thẩm mĩ.
- Trường hợp 2: Nét cong cuối cùng của chữ cái sau với nét móc (hoặc nét hất) đầu
tiên của chữ cái sau
VD: e - m = em; c – ư = cư Trường hợp nối chữ này cũng tương đối dễ dàng.
- Lưu ý: Điều chỉnh khoảng cách giữa hai chữ cái sao cho không gần quá hay xa quá
(VD: em,cư ) Hoặc chuyển hướng ngòi bút ở cuối nét cong (kín) để nối sang nét móc
(hoặc nét hất) sao cho hình dạng hai chữ cái vẫn rõ ràng, khoảng cách hợp lý (VD ơn,
oi )
- Trường hợp 3: Nét móc (hoặc nét khuyết) của chữ cái trước nối với nét cong của
chữ cái sau (VD: a – c = ac, h – o = ho, y – ê = yê ) đây là trường hợp nối chữ tương
đối khó, vừa đòi hỏi kỹ thuật lia bút vừa yêu cầu việc ước lượng khoảng cách sao cho vừa
phải, hợp lý.
- Lưu ý học sinh:
+ Xác định điểm kết thúc (dùng bút) ở chữ cái trước để lia bút viết tiếp chữ cái sau sao
cho liền mạch tạo thành một khối các chữ cái.
+ Điều chỉnh phần cuối nét móc của chữ cái trước hơi doãng rộng một chút để khi
viết tiếp chữ cái sau sẽ có khoảng cách vừa phải (không gần quá)
VD: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ ao, giao viên lưu ý nhắc HS điều chỉnh phần
cuối nét móc của chữ a để khi viết tiếp chữ cái o sẽ có khoảng cách giữa a và o không
gần quá (bằng khoảng cách giữa a và i (ai).
- Trường hợp 4: Nét cong của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái sau VD: o
– e = oe; o – a = oa; x- o = xo Đây là trường hợp nối chữ khó nhất vừa đòi hỏi các kỹ
thuật rê bút, lia bút, chuyển hướng bút để tạo nét nối vừa yêu cầu việc ước lượng khoảng
cách hợp lý, trên cơ sở thói quen và kĩ năng viết khá thành thạo của học sinh.
Lưu ý học sinh trường hợp viết chữ oe, oa.:
+ Rèn luyện kĩ năng viết chữ phải tiến hành toàn diện, ở lớp, ở nhà, ở đủ các môn
học khác.
+ Kiên trì sửa và rèn chữ viết cho học sinh
Như vậy, với việc tăng cường luyện tập thực hành, học sinh lớp tôi đã có được kĩ năng
viết nhanh, đẹp đồng thời rèn luyện được ý thức tự giác luyện tập trong các môn học như
Toán, Tiếng Việt.
Ngoài các biện pháp nêu trên tôi còn kết hợp các công việc sau:
* Khuyến khích, khen ngợi kịp thời các em viết đúng, viết đẹp.
Công việc này tưởng chừng đơn giản nhưng hiệu quả của nó cũng tương đối rõ rệt.
Vì đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2 rất thích được khen nên với mỗi bài viết đẹp tôi
vẫn cố gắng động viên các em kịp thời. Tôi dành một góc trong lớp để trưng bày các bài
viết đẹp. Nhờ vậy đã tạo được một không khí thi đua trong lớp. Các em hào hứng luyện
viết và tiết học không còn khô khan nữa.
* Kết hợp với PHHS trong việc rèn chữ cho các em ở nhà.
Vì đối tượng học sinh của tôi phần lớn là con em lao động nghèo, bố mẹ không có
thời gian cũng như không có kĩ thuật viết đúng đẹp để kèm con em nên ngay từ buổi họp
CMHS đầu năm học tôi đã trao đổi với các vị phụ huynh một số điểm cần lưu ý khi dạy
viết. Tôi cũng sưu tầm một số tài liệu, một số bài viết đẹp của các học sinh kh¸c, photo
tới tận tay từng vị phụ huynh để các vị có cơ sở làm mẫu cho con em mình luyện viết.
Bằng sự phối hợp các biện pháp nêu trên một cách hài hoà, chữ viết của học sinh
lớp tôi tiến bộ rõ rệt; đồng thời kết quả học tập các em cũng được nâng cao qua các đợt
kiểm tra.
V. Hiệu quả :
*VSCĐ
Các đợt KT
Loại A Loại B Loại C
SL % Sl % SL %
Đầu năm 12 37,5 17 53,1 3 9,3
Giữa kì I 17 48,5 12 37,5 3 9,3
Cuối kỳ I 20 62,5 10 31,2 2 6,2