PHỤ LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
I.Lí do chọn đề tài 1
II.Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1
1.Mục đích 1
2.Phương pháp. 1
III.Giới hạn của đề tài 1
IV.Kế hoạch thực hiện . 1
B.PHẦN NỘI DUNG . 2
I.Cơ sở lí luận 2
II.Cơ sở thực tiễn 2
III.Thực trạng 2
1.Thuận lợi 2
2.Khó khăn 2
IV.Các biện pháp giải quyết vấn đề 3
V.Hiệu quả 6
C.PHẦN KẾT LUẬN 6
I. Ý nghĩa 6
II.Khả năng áp dụng 7
III.Bài học kinh nghiệm 7
Tài liệu tham khảo 8
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài :
- Tp vit l mt trong nhng phõn mụn cú tm quan trng c bit tiu
hc i vi hc sinh lp 2. Nú gúp phn rốn luyn k nng vit ch mt trong
nhng k nng hng u trong vic hc ting Vit trong trng.
- Mt khỏc ch vit cng l biu hin nột nhõn cỏch ca con ngi.
- C vn Phm Vn ng ó núi:Ch vit cng l biu hin ca nt
ngi. Dy cho hc sinh vit ỳng, vit cn thn, vit p cng gúp phn rốn
luyn cho cỏc em tớnh cn thn, lũng t trng i vi mỡnh v bn c bi v
* Tổng kết, viết đề tài: Tháng 04/2012
IV. Kế hoạch thực hiện :
- Chọn đềb tài.
- Lập đề cương nghiên cứu.
- Thu thập dữ liệu.
- Thâm nhập thực tế.
- Hoàn thành sáng kiến.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của việc rèn luyện kỹ năng viết đúng, đẹp cho học
sinh lớp2:
Chữ viết là một công cụ dùng đó giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương
tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hóa, khoa học và đời sống …,Do
vậy, ở trường tiểu học việc dạy học sinh biết chữ và từng bước làm chủ công cụ
chữ viết để phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của
môn Tiếng Việt.
- So với chương trình lớp 1, nội dung của phân môn tập viết lớp 2 có
những yêu cầu cụ thể.
II. Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng viết đúng, đẹp cho học
sinh lớp
www.sangkienkinhnghiem.com
3
-Tiếp tục rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết các chữ thường theo cỡ nhỏ
đã học ở lớp 1 nhưng mức độ yêu cầu được nâng cao: viết đúng mẫu và đều nét.
- Chính thức dạy học sinh viết chữ hoa theo cỡ vừa và nhỏ (Ở lớp 1 học
sinh mới làm quen với chữ hoa qua hình thức tập tô trong giai đoạn luyện tập
tổng hợp ở học kỳ 2). Để thực hiện nhiệm vụ này, giáo viên phải giúp học sinh
có những hiểu biết nhất định về mẫu chữ hoa do Bộ mới ban hành nhằm tạo
điều kiện cho các em rèn kỹ năng viết chữ cụ thể:
- Nhớ được hình dáng các chữ cái viết hoa theo mẫu quy định
- Nắm được kích cỡ của từng chữ cái viết hoa (thể hiện trong khung chữ,
cầm bút bằng 5 ngón tay như Phước Huy, Trung Nghĩa, Thanh Tuyền
- Tốc độ viết rất chậm như: Tấn Phát, Thanh Ngân, Tấn Đạt.
- Chữ viết chưa đạt yêu cầu thể hiện ở một số điểm:
+ Chưa đúng hình dáng, cấu tạo chữ cái.
+ Không viết đúng quy trình viết chữ cái (điểm đặt bút chưa đúng ).
+ Không viết đúng độ cao các con chữ.
+ Chưa có kĩ năng viết liền mạch, liên kết chữ cái tạo chữ ghi tiếng.
+ Vị trí dấu thanh sai.
* Phân loại theo VSCS :
SÜ sè Lo¹i A Lo¹i B Lo¹i C
SL % SL % SL %
32 17 53,1 12 37,5 3 9,3
III. Các biện pháp giải quyết vấn đề :
Với kết quả như trên tôi đã suy nghĩ để tìm ra các biện pháp để rèn chữ
viết cho học sinh như sau:
Biện pháp1: Phân loại chữ viết của học sinh theo các mức độ
Ngay từ đầu năm học tôi đã cho kiểm tra chữ viết của các em. Tôi xem
xét kỹ để phân loại chữ viết của học sinh theo các mức độ khác nhau. Từ đó tôi
lên kế hoạch để sửa “tật”cho từng em.
www.sangkienkinhnghiem.com
5
VD: Những em có điểm đặt bút chưa đúng tôi chỉ bảo cho các em cách
tính dòng kẻ, xác định điểm đặt bút …Những em viết chưa thẳng tôi có kế hoạch
cho luyện nét sổ thẳng, chữ chưa tròn tập viết nét cong tròn…
- Nhờ vậy các em đã nhớ lại được quy trình viết từng con chữ, biết luyện
dần từng chữ. Dần dần kết quả đã tốt hơn rất nhiều .
Biện pháp 2: Rèn tư thế viết đúng cho học sinh.
Tôi nhận thấy khi học sinh ngồi viết đúng tư thế sẽ là điều kiện thuận lợi
cho các em viết đúng, viết đẹp. Mặt khác việc làm đó cũng góp phần để phòng
mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu, chữ mẫu của giáo viên …mỗi loại chữ mẫu
có tác dụng khác nhau. Cụ thể:
+ Chữ mẫu phóng to trên bảng sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo
điều kiện cho các em phân tích hình dạng, kích thước và các nét cơ bản cấu tạo
chữ cái cần viết trong bài học.
+ Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng giúp học sinh nắm được thứ tự
viết các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm
bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh.
+ Chữ viết trong hộp chữ giúp các em kết hợp mắt nhìn, tay sờ để phối
hợp các thao tác viết chữ một cách đồng bộ.
+ Chữ của cô khi chấm bài, chữa bài cũng được học sinh quan sát như
một loại chữ mẫu. Vì vậy tôi luôn cố gắng viết đẹp đúng mẫu, rõ ràng.
Tóm lại để hỗ trợ cho việc dạy tập viết đạt hiệu quả cao người giáo viên
cần triệt để sử dụng các hình thức chữ mẫu cũng như nắm vững tác dụng của mỗi
hình thức chữ mẫu đó.
Biện pháp 4: Rèn kỹ thuật viết chữ.
Tập trung rèn luyện kĩ thuật liên kết liền mạch chữ cái viết hoa với chữ cái
viết thường. Tôi đã phân loại các trường hợp viết liên kết như sau:
* Trường hợp viết nối thuận lợi: Nét móc cuối cùng của chữ cái đứng trước
nối với nét móc đầu tiên của chữ cái đứng sau
VD: Bài A – Anh em thuận hoà
- Quy trình viết nối chữ Anh
www.sangkienkinhnghiem.com
7
- Viết chữ cái A đã học. Từ điểm cuối của nét lượn ngang thân chữ cái A
lia bút xuống điểm cuối của nét móc ngîc phải chữ cái A để viết tiếp nét nối với
nét móc trái của chữ cái n. Tiếp tục viết nét móc thứ hai của n. Khi viết đến phần
móc phải phía dưới lượn cong bình thường có thể viết nối với phần nét khuyết
của chữ cái h, sau đó viết hoàn chỉnh chữ cái h.
* Trường hợp viết nối không thuận lợi: đó là trường hợp nét cuối của chữ
+ Xác định điểm kết thúc (dùng bút) ở chữ cái trước để lia bút viết tiếp chữ
cái sau sao cho liền mạch tạo thành một khối các chữ cái.
+ Điều chỉnh phần cuối nét móc của chữ cái trước hơi doãng rộng một chút
để khi viết tiếp chữ cái sau sẽ có khoảng cách vừa phải (không gần quá)
VD: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ ao, giao viên lưu ý nhắc HS điều
chỉnh phần cuối nét móc của chữ a để khi viết tiếp chữ cái o sẽ có khoảng cách
giữa a và o không gần quá (bằng khoảng cách giữa a và i (ai).
- Trường hợp 4: Nét cong của chữ cái trước nối với nét cong của chữ cái
sau VD: o – e = oe; o – a = oa; x- o = xo Đây là trường hợp nối chữ khó nhất
vừa đòi hỏi các kỹ thuật rê bút, lia bút, chuyển hướng bút để tạo nét nối vừa yêu
cầu việc ước lượng khoảng cách hợp lý, trên cơ sở thói quen và kĩ năng viết khá
thành thạo của học sinh.
Lưu ý học sinh trường hợp viết chữ oe, oa.:
+ Rê bút từ điểm cuối của chữ cái o chúc xuống để gặp điểm bắt đầu của
chữ cái e sao cho nét vòng ở đầu chữ cái không được to quá (oe). Rê bút từ điểm
cuối của chữ cái o sang ngang rồi lia bút viết tiếp chữ cái a (oa).
Ngoài ra tôi còn hướng dẫn các em cách viết liền mạch. Viết liền mạch là
viết tất cả các hình cơ bản của chữ cái trong một chữ ghi tiếng rồi sau đó mới đặt
dấu (kể cả dấu phụ của con chữ) và dấu ghi thanh.
VD Viết chữ ruộng: Viết chữ liền mạch các hình cơ bản của chữ cái
thành ruong sau đó đặt dấu mũ (dấu phụ) trên 0 và dấu nặng (dấu thanh) dưới ô
để thành ruộng.
Như vậy, với việc phân tích cách liên kết, cách viết liền mạch ngay từ
những bài viếtđầu tiên, nhiều học sinh trong lớp đã nắm được quy trình viết c¸c
từ ứng dụng. ở các bài tiếp theo, không cần sự hướng dẫn tỉ mỉ của cô giáo c¸c
www.sangkienkinhnghiem.com
9
em còng có thể viết đúng chữ theo mẫu. Tốc độ viết chữ của cả lớp nhanh dần.
Chính vì vậy chất lượng học tập của học sinh môn Tiếng Việt được nâng lên
một cách rõ rệt.
bài viết đẹp tôi vẫn cố gắng động viên các em kịp thời. Tôi dành một góc trong
lớp để trưng bày các bài viết đẹp. Nhờ vậy đã tạo được một không khí thi đua
trong lớp. Các em hào hứng luyện viết và tiết học không còn khô khan nữa.
* Kết hợp với PHHS trong việc rèn chữ cho các em ở nhà.
Vì đối tượng học sinh của tôi phần lớn là con em lao động nghèo, bố mẹ
không có thời gian cũng như không có kĩ thuật viết đúng đẹp để kèm con em nên
ngay từ buổi họp CMHS đầu năm học tôi đã trao đổi với các vị phụ huynh một
số điểm cần lưu ý khi dạy viết. Tôi cũng sưu tầm một số tài liệu, một số bài viết
đẹp của các học sinh kh¸c, photo tới tận tay từng vị phụ huynh để các vị có cơ sở
làm mẫu cho con em mình luyện viết.
Bằng sự phối hợp các biện pháp nêu trên một cách hài hoà, chữ viết của
học sinh lớp tôi tiến bộ rõ rệt; đồng thời kết quả học tập các em cũng được nâng
cao qua các đợt kiểm tra.
V. Hiệu quả :
*VSCĐ
Các đợt KT
Loại A Loại B Loại C
SL % Sl % SL %
Đầu năm 12 37,5 17 53,1 3 9,3
Giữa kì I 17 48,5 12 37,5 3 9,3
Cuối kỳ I 20 62,5 10 31,2 2 6,2
Giữa kì 2 22 68,7 10 31,2 0 0
Cuối kỳ 2 26 81,2 6 18,7 0 0
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa :
Việc rèn chữ, giữ vở và luyện viết chữ cho học sinh lớp 2 có thể viết
đúng, đẹp là một công việc hết sức bền bỉ, kiên trì của cả thầy và trò.
II. Khả năng áp dụng :
- Giáo viên chủ nhiệm kết hợp dạy kỹ thuật viết chữ với rèn chính tả, mở
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Vở tập viết lớp 2 ( tập 1,2 ) – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
2. Quyết định 31 về mẫu chữ viết để dạy học ở trường tiểu học .
(Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo )
3.Phương pháp dạy học tập viết.
www.sangkienkinhnghiem.com
13
www.sangkienkinhnghiem.com
14
www.sangkienkinhnghiem.com
15