Tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Pdf 26

Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Chương I:
Tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
I. lý luận chung về tín dụng trung - dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa hai
chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử
dụng trong thời gian nhất định, đồng thời nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn
trả theo thời gian đã thoả thuận.
1.2. Phân loại tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại theo những tiêu
thức khác nhau.
1.2.1. Theo thời hạn sử dụng:
Cho vay có kỳ hạn là khoản vay mà thời hạn hoàn trả và thời điểm hoàn
trả được xác định một cách cụ thể ngay từ khi ký hợp đồng tín dụng. Có ba loại:
 Cho vay ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm, dùng để
bổ sung cho phần vốn lưu động còn thiếu phát sinh trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp hay phục vụ tiêu dùng đối với nhu cầu cá nhân.
 Cho vay trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 12 đến 60 tháng.
 Cho vay dài hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm đến thời hạn được
phép tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp đi vay.
SV: Thái Phương Linh 1 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Cho vay không kỳ hạn là khoản cho vay không quy định thời điểm hoàn
trả cụ thể khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là những điều kiện cụ thể về trả
nợ của người vay và việc thu hồi tiền cho vay của NH. Điều kiện ở đây là người
đi vay sẽ hoàn trả khi không có nhu cầu sử dụng hay khi có nguồn khác bù đắp.
Còn Ngân hàng phải báo trước để người vay tìm nguồn khác trả nợ cho ngân
hàng. Loại hình cho vay này sẽ góp phần tạo điều kiện chủ động cho khách
hàng trong việc sử dụng tiền vay, giảm chi phí còn đối với Ngân hàng sẽ có kế

1.2.5. Theo phương thức trả góp:
Cho vay trả góp cho tiêu dùng.
Cho vay hoàn trả một lần khi đến hạn thường áp dụng đối với những khoản
cho vay nhỏ hay ngắn hạn.
Cho vay từng món được phát sinh khi doanh nghiệp bán hàng nhưng chưa
thu được tiền không có giấy tờ để chiết khấu hay thấu chi, khi mở rộng
chu kỳ kinh doanh có tính chất nhất thời không vĩnh viễn, có thể xác định
được lượng tiền cần vay và thời hạn sử dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay mà khách hàng và
Ngân hàng thoả thuận xác định lượng tín dụng tối đa theo đó trong một
SV: Thái Phương Linh 3 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
khoảng thời gian nhất định thì khách hàng có thể toàn quyền được vay
trong điều kiện tổng dư nợ tại thời điểm đó không vượt quá số quy định.
Cho vay hợp vốn là hình thức nhiều tổ chức tín dụng khác nhau đồng tài
trợ cho một đối tượng đi vay. Có ưu điểm là san sẻ rủi ro, song nhược
điểm là lơi lỏng trong việc kiểm soát tiền vay của khách hàng.
1.2.6. Theo nguồn gốc hình thành các khoản cho vay.
Cho vay trực tiếp là những cơ sở hình thành trực tiếp giữa Ngân hàng và
nguời vay diễn ra ở Ngân hàng hoặc doanh nghiệp. Hiện nay, phần lớn các
khoản cho vay của Ngân hàng là cho vay trực tiếp.
Cho vay gián tiếp được thực hiện thông qua mua lại những khoản cho vay
của Ngân hàng khác hoặc thông qua mua lại những khoản cho vay của
Ngân hàng khác hoặc thông qua trái phiếu của công ty, chính phủ.
1.2.7. Theo kỹ thuật cung cấp tín dụng được phân thành:
Bảo lãnh là hình thức Ngân hàng dùng uy tín của mình đứng ra bảo lãnh
cho người mua trước người bán. Hình thức bảo lãnh rất đa dạng và phong
phú như bảo lãnh ký quỹ dự thầu, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh đối ứng…
Tín dụng thuê mua là hình thức mà người thuê sau một thời gian sử dụng

SV: Thái Phương Linh 5 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
 Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: Tín
dụng trung dài hạn đầu tư vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của
doanh nghiệp làm kích thích sản xuất phát triển. Khi đó các doanh nghiệp
cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng sự phát triển sản xuất, điều đó tạo ra
thị trường sử dụng vốn ngắn hạn. Tốc độ phát triển sản xuất càng cao nhu
cầu vốn lưu động càng lớn và tín dụng trung dài hạn đã tạo điều kiện cho
tín dụng ngắn hạn phát triển.
 Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá: Thông qua nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn,
Ngân hàng có thể cho vay đáp ứng với sự phát triển của ngành này, cũng có
thể hạn chế đối với một số ngành kinh tế khác. Công nghiệp hoá không chỉ
đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền
kinh tế mà là cả quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới cơ bản về
công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nhờ có vốn đầu tư tín dụng trung dài hạn mà các doanh nghiệp có thể
nhập khẩu máy móc trang thiết bị công nghệ. Đối với những nước đang phát
triển như Việt Nam thì việc mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu là một điều tốt,
đây là con đường ngắn nhất để chúng ta đuổi kịp các nước về mặt công nghệ.
Ngoài ra nhờ việc nhập máy móc thiết bị, năng lực sản xuất của doanh nghiệp
được tăng lên, sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng
yêu cầu của thị trường nước ngoài, để có thể tăng khả năng cạnh tranh và xuất
khẩu.
 Tín dụng trung – dài hạn góp phần tiết kiệm được lượng tiền mặt trong lưu
thông, tạo điều kiện cho việc quản lý và điều hoà lưu thông tiền tệ, góp phần
SV: Thái Phương Linh 6 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
kiểm soát các hoạt động trong nền kinh tế, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng sử

thức sở hữu. Quá trình đổi mới đó đã chuyển hoạt động của các Ngân
hàng thương mại sang chế độ hạch toán kinh doanh, góp phần quan trọng
để kiềm chế và đẩy lùi làm phát, thúc đẩy các doanh nghiệp củng cố lại
chế độ hạch toán kinh doanh, sử dụng vốn có hiệu quả khai thác tối đa
tiềm năng về vốn trong nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, bên cạnh các nguồn vốn vật tư,
kỹ thuật, đất đai, lao động, tri thức khoa học, tín dụng trung – dài hạn là một
kênh vốn quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH –
HĐH. Trước hết đó là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế
hàng hoá, hình thành góp phần giữ ổn định nền kinh tế thị trường.
1.2. Tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(DNNQD)
1.2.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1.1. Khái niệm:
Xét về hình thức sở hữu thì doanh nghiệp nước ta chia thành 2 loại:
Doanh nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu của Nhà nước, còn doanh nghiệp ngoài
quốc doanh mang hình thức sở hữu phi nhà nước. Trước năm 1986 kinh tế
ngoài quốc doanh ở nước ta chỉ là kinh tế tập thể với hình thức sở hữu tập thể
về tư liệu sản xuất. Từ sau năm 1986 nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường,
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích mở rộng các doanh
SV: Thái Phương Linh 8 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
nghiệp có tính chất tư hữu bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã.
1.2.1.2. Phân loại:
- Doanh nghiệp tư nhân:
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty hợp danh
- Hợp tác xã

khác như xây dựng, tài chính, Ngân hàng … yêu cầu về vốn và trình độ quản lý
rất cao, trong khi đó, việc quay vòng vốn lại lâu gây khó khăn cho họ, chỉ
những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh về kinh tế thì mới có đủ điều kiện đầu tư.
• Môi trường kinh doanh
Trước hết là về thông tin thị trường. Đây là khối kinh tế năng động, phản
ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thị trường, nhưng đối với những nước
đang phát triển còn thiếu nhiều yếu tố của một nền kinh tế thị trường hoàn
SV: Thái Phương Linh 10 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
chỉnh. Chính vì vậy, họ thường gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nắm bắt thông
tin thị trường về giá cả, sản phẩm đối thủ cạnh tranh … Đây là những khó khăn
chung mà doanh nghiệp phải gánh chịu trong nền kinh tế chưa hoàn chỉnh.
Những thông tin như vậy chỉ có thể có một cách đầy đủ tại nhứng nước phát
triển
• Vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là một vấn đề đang được các DNNQD rất quan tâm. Trước hết là
vốn chủ sở hữu. Phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô sản xuất nhỏ
hẹp. Nguồn vốn này lại được tập trung chủ yếu vào đầu tư cơ sở hạ tầng và
trang thiết bị, bao gồm cả mặt bằng kinh doanh. Từ đó, khả năng thanh toán
ngắn hạn của vốn chủ sở hữu còn nhiều hạn chế.
Nguồn vốn này có khả năng tăng lên trong quá trình kinh doanh từ việc
trích một phần lợi nhuận hoặc huy động thông qua phát hành cổ phiếu. Song
việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu từ việc trích lợi nhuận để lại phải mất một
thời gian tương đối dài mới hình thành lượng vốn lớn. Với vốn sở hữu nhỏ như
vậy, sẽ gây nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh vì ít có khả năng cạnh
tranh.
Ngoài vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều nguồn
khác nhau. Đối với huy động thông qua vay mượn bạn bè, người thân hoặc
thông qua tín dụng thương mại, đây là những khoản vay hoặc là nhỏ hoặc là
ngắn hạn không đủ đáp ứng về quy mô, thời gian và các mục tiêu dài hạn của

Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
doanh thích ứng với sự thay đổi của thị trường, cơ chế chính sách của
Nhà nước.
 DNNQD có khả năng tận dụng triệt để lợi thế để kinh doanh: Xuất phát
từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các thành phần này lại không được sự
hỗ trợ về tài chính của Nhà nước hoặc tổ chức khác. Nguồn lao động là
nguồn được khai thác triệt để nhất vì đây là nguồn lực dồi dào, họ lại
áp dụng cách thức quản lý rất chặt chẽ theo khu vực, địa phương, gia
đình. Nguồn khoa học công nghệ cũng được tận rất cao. Dù rằng trình
độ khoa học công nghệ không được đánh giá cao như DNNN, song họ
biết tận dụng một cách tối đa khả năng của các loại thiết bị máy móc
hiện có để phát triển sản xuất.
 Các DNNQD thường có bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh gọn nhẹ:
Xuất phát từ ngành nghề kinh doanh thường là những ngành đơn giản,
dễ quản lý, có chu kỳ kinh doanh ngắn. Mặt khác, nguồn vốn kinh
doanh bắt đầu thường thất điều đó dẫn tới bộ máy quản lý gọn nhẹ. Vì
vậy, các quyết định về quản lý hoặc kinh doanh được thực hiện nhanh
chóng. Công tác kiểm tra được thực hiện trực tiếp đã góp phần đáng kể
trong việc giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
 Các DNNQD có tính linh động cao, có khả năng chuyển hướng kinh
doanh nhanh chóng, dễ dàng. Đó là vì họ có cơ cấu vốn thấp và thường
chủ yếu là vốn tự có, lại kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực thương
mại, dịch vụ. Họ có thể dễ dàng chuyển hướng kinh doanh sang mặt
hàng khác khi thấy cần thiết và có lợi. Ngoài ra, các DNNQD cũng có
thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp thu được những tiến bộ khoa học, kỹ
SV: Thái Phương Linh 13 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
thuật mới giúp họ có thể tiến nhanh trong quá trình phát triển, đón đầu
những công nghệ mới.
1.2.2.2. Hạn chế:

triển của doanh nghiệp thì mới tồn tại được.
 Từ hàng loạt những hạn chế trên dẫn đến một hạn chế tất yếu nữa là
khả năng cạnh tranh của nhiểu DNNQD thấp, bị nhiều hạn chế, thường
bị động trong các quan hệ thị trường. Đặc biệt là khi phải trực tiếp cạnh
tranh với các DNNN có vốn lớn, trình độ quản lý tương đối hiện đại.
Mặt khác, khả năng tiếp thị của doanh nghiệp này lại yếu do trình độ
chưa đạt yêu cầu và thiếu kinh phí đầu tư, nguy cơ phá sản cao.
 Hiện tượng các DNNQD vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, lừa
đảo … còn diễn ra phổ biến. Bởi đây là các doanh nghiệp này thành lập
chủ yếu là tự phát và thiếu sự điểu chỉnh của các cấp quản lý. Ngoài ra,
đa số các doanh nghiệp còn chưa được thực hiện đầy đủ các quy định
của pháp luật về an toàn lao động và đóng bảo hiểm cho người lao
động.
Qua phân tích trên, ta có thể nhìn một cách tổng thể về bức tranh của các
DNNQD. Nó còn rất nhiều ưu điểm, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là các
hạn chế của bản thân doanh nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp này lại đang
phải hoạt động kinh doanh trong một môi truờng kinh tế bất bình đẳng trên cả
giác độ chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan niệm cũng như cách đối xử
SV: Thái Phương Linh 15 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
của các thành phần kinh tế khác. Vậy thì khó khăn đó có thể giải quyết được
hay không còn xem xét từ nhiều phía. Song sự cần thiết đầu tiên là phải có sự
hỗ trợ của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách về thuế, công nghệ và đặc
biệt là vốn. Có thể thấy, với những đặc điểm và hạn chế như đã phân tích trên,
việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài của các doanh nghiệp này là rất khó
khăn. Việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài thông qua phát hành cổ phiếu
hay trái phiếu này lại càng khó, trừ những doanh nghiệp cổ phần mà có nguồn
gốc từ các DNNN, vì cần phải đáp ứng các điều kiện gắt gao về quy mô vốn,
trình độ quản lý … Do đó, nguồn vốn chính mà các DNNQD luôn mong đợi là
nguồn vốn vay từ Ngân hàng thương mại.

phận các DNNN sang DNNQD. Chính vì thế nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất
của doanh nghiệp này không ngừng tăng lên, tạo điều kiện để phát triển hoạt
động cho vay của Ngân hàng đối với doanh nghiệp này.
• Xuất phát từ nhu cầu của Ngân hàng
Mở rộng hoạt động kinh doanh là yêu cầu tất yếu của bất cứ Ngân hàng
nao để đáp ứng nhu cầu thay đổi của môi trường kinh doanh. Trong môi trường
cạnh tranh ngày càng gay gắt, các Ngân hàng không ngừng mở rộng các khoản
vay về đối tượng khách hàng và loại hình cho vay. Trong đó, DNNQD chính là
đối tượng khách hàng quan trọng cần phải chú ý đến.
SV: Thái Phương Linh 17 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Hơn nữa bản chất của Ngân hàng là nhận tiền gửi để cho vay. Ngân hàng
sau khi huy động vốn cần thực hiện hoạt động cho vay để tạo thu nhập, bù đắp
chi phí trả lãi và chi phí khác phát sinh trong quá trình huy động vốn. Do đó,
cho vay đối với DNNQD để thực hiện mục tiêu sinh lợi của Ngân hàng.
Tóm lại, việc hình thành và phát triển các khoản vay của NHTM đối với
nhu cầu của cả hai bên, Ngân hàng cần đặt ra các điều kiện nhất định đối với
đối tượng này trên nguyên tắc cả hai bên cùng có lợi.
1.2.4. Các hình thức tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh:
Tín dụng trung dài hạn là một trong nhứng nghiệp vụ của các NHTM.
Thực chất tín dụng trung dài hạn là khoản vốn đầu tư mà đối tượng chủ yếu là
những chi phí cho việc xây dựng mới, đầu tư vào tài sản ccó định. Nghiệp vụ
tín dụng trung dài hạn của NHTM trong những năm gần đây được triển khai
theo các hình thức sau:
1.2.4.1. Cho vay trực tiếp theo dự án:
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi thẩm định
khẳng định tính hiệu quả, khả thi của dự án. Khi khách hàng có nhu cầu vay,
khách hàng được hướng dẫn để lập hồ sơ vay thông qua những yêu cầu về tình
hình tài chính của đơn vị, ngành nghề kinh doanh … thông qua đó Ngân hàng

hoặc dài hơn thời gian khấu hao đều ảnh hưởng tới quá trình trả nợ của khách
SV: Thái Phương Linh 19 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
hàng, vì nguồn vốn khấu hao là một trong những nguồn chủ yếu để trả nợ cho
Ngân hàng.
Về mục đích sử dụng vốn: Khác với tín dụng ngắn hạn là loại hình tín
dụng được sử dụng chủ yếu bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Tín dụng
trung – dài hạn của doanh nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng có mục đích
đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như các dự án xây dựng nhà
xưởng, cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới kỹ thuật và
ứng dụng khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai của
đơn vị. Với mục đích này, đối tượng cho vay của tín dụng trung – dài hạn cho
doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng là
chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án bao gồm giá trị vật tư, máy
móc thiết bị, công nghệ, chi phí nhân công, giá thuế và chuyển nhượng đất đai,
chi phí mua bảo hiểm, giá thuê mua các tài sản và chi phí khác. Mức cho vay
của một dự án đầu tư bằng tổng mức vốn đầu tư trừ đi vốn tự có đầu tư cho dự
án của bên đi vay, nhưng mức tối đa chỉ bằng 70% giá trì tài sản thế chấp, cầm
cố.
Về mức độ rủi ro và tài sản đảm bảo: nguồn vốn cho vay lớn, thời hạn
cho vay dài, nên cho vay trung dài hạn thường tiểm ẩn rủi ro cao, nhất là khi
cấp tín dụng trung – dài hạn cho DNNQD, với đặc điểm của DNNQD như đã
trình bày ở trên nên nhiều Ngân hàng rất lo ngại khi cho DNNQD vay mà
không có tài sản đảm bảo. Hơn thế nữa do nhiều yếu tố tác động đến trong
khoảng thời gian đó nên tình hình hoạt động doanh nghiệp cũng khó tránh khỏi
bị tác động, từ đó mà ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Chính
vì thế mà tín dụng trung – dài hạn thường đòi hỏi tài sản đảm bảo. Thời hạn cho
vay càng dài thì xác suất xảy ra các biến động càng lớn và do đó rủi ro tiềm ẩn
càng cao.
SV: Thái Phương Linh 20 TCDN – 44D

phát triển của nền kinh tế.
1.1.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
1.1.2.1. Cơ cấu cho vay:
Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM ở
Việt nam hiện nay, mang lại tới 70% - 80% nguồn thu nhập của các NHTM.
Trong thực tế hiện nay khối lượng cho vay của các NHTM ngày càng
tăng nhanh với các loại hình, phương thức cho vay đa dạng. Hiện nay ở nước ta
cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn cho vay trung - dài hạn. Một cơ
cấu cho vay phù hợp là cơ cấu cho vay mà ở đó tỷ trọng giữa các khoản nợ
ngắn hạn phù hợp với các khoản nợ trung, dài hạn. Cơ cấu này thay đổi theo
từng giai đoạn mà nhân tố ảnh hưởng lớn nhất là cơ cấu, nhịp độ phát triển nền
kinh tế và khả năng huy động nguồn vốn của từng NHTM.
Hiện nay, NHNN đã cho phép các NHTM được chuyển tối đa 40%
nguồn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn, thay vì tỷ lệ 30% và 20% theo
QĐ 381/ 2003/ QĐ - NHNN trước đây. Điều này đã cho phép các NHTM cho
vay trung – dài hạn cao hơn, cải thiện cơ cấu cho vay ngắn hạn quá cao như
hiện nay.
SV: Thái Phương Linh 22 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
1.1.2.2. Dư nợ cho vay tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh:
Đây là chỉ tiêu mang tính chất thời điểm phản ánh số tiền trung – dài hạn
đối với DNNQD mà Ngân hàng giải ngân nhưng chưa thu hồi do khoản vay
chưa đến hạn thanh toán hoặc khoản vay đang bị nợ quá hạn.
Mặc dù bao gồm cả những khoản vay quá hạn nhưng chỉ tiêu dư nợ nói
chung và dư nợ tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD nói riêng được các
NHTM rất quan tâm. Chỉ tiêu này cho biết quy mô tín dụng trung – dài hạn đối
với DNNQD của một Ngân hàng và thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ
khác nhau Ngân hàng sẽ đánh giá được tốc độ phát triển. Trên cơ sở quy trình
tín dụng trung – dài hạn có tính ổn định cao thì sự tăng lên hay giảm đi của dư

Phần lớn các khoản nợ quá hạn là những khoản nợ kém an toàn. Rủi ro
trong cơ chế thị trường là khách quan do đó nợ quá hạn của các NHTM là tất
yếu không thể tránh khỏi.
Để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM người ta thường dùng tỷ
lệ nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn = *100%
SV: Thái Phương Linh 24 TCDN – 44D
Chuyên đề Tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Theo Quyết định 493/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại, trích
lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng
của tổ chức tín dụng có quy định về các loại nợ quá hạn theo thời gian :
 Nợ cần chú ý: bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
 Nợ dưới tiêu chuẩn: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90- 180 ngày
 Nợ nghi ngờ: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày
 Nợ có khả năng mất vốn: bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Và những khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trong hạn, dưới 90 ngày, từ 90 ngày đến
180 ngày, từ 180 ngày đến 360 ngày đã được cơ cấu lại.
1.1.2.5. Nợ sử dụng sai mục đích, nợ không thu được lãi đúng hạn:
Tỷ lệ nợ sử dụng sai mục đích =
* 100%
Có thể xem phần dư nợ này là cả dư nợ mà Ngân hàng không thu được
lãi hàng tháng đầy đủ kịp thời, phải hạch toán lãi không thu được trên tài khoản
ngoại bảng. Thông thường chỉ tiêu này được tính chung với tỷ lệ NQH bởi vì
những khoản nợ này tuy còn trong hạn nhưng nó rất gần với việc khách hàng
vay không trả được đúng hạn, ví dụ như cho vay đảo nợ thực chất là nợ đã đến
hạn nhưng Ngân hàng đã tiếp tục cho thêm một kỳ hạn vay mới bằng hình thức
cho vay mới , thu hồi nợ cũ nên chưa quá hạn. Như vậy, tính toán chỉ tiêu này
chúng ta sẽ dự đoán được chất lượng tín dụng của NHTM và cần có biện pháp
ngăn ngừa phát sinh nợ quá hạn.
1.1.2.6. Chỉ tiêu đánh giá năng lực khách hàng vay:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status