NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường
1. Khái niệm ngân hàng thương mại (NHTM)
Khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại các nhà kinh tế học có nhiều quan
điểm khác nhau về ngân hàng thương mại. Người thì cho rằng “ ngân hàng
thương mại là tổ chức nhận tiền gửi để cho vay ”. Người khác lại nhận định
rằng “ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép của chính
phủ để vay tiền và mởi tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng
séc”. Sở dĩ có tình trạng trên là do hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa
dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ lại phức tạp và vấn đề này luôn biến
động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế. Ở nước ta ngân hàng đầu tiên
được thành lập đó là ngân hàng Đông Dương của Pháp vào giữa thế kỉ XIX để
phục vụ cho giới thương gia Pháp trên thị trường Việt Nam. Sau đó có thêm
các ngân hàng nước ngoài của Trung Quốc , Anh ...
Đến năm 1990 pháp lệnh ngân hàng Nhà nước ta ra đời đã chính thức phân
chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp là ngân hàng Trung Ương và ngân
hàng thương mại .
Từ đó khái niệm ngân hàng thương mại hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh
vực đã ra đời.
Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-12-1997 thì “ Tổ chức tín dụng là một tổ
chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán chi
trả hộ ...” mà ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Như vậy
“ Ngân hàng chính là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cho vay, thực
hiện các dịch vụ chi trả hộ, cung ứng các phương tiện thanh toán cùng các
hoạt động kinh doanh khác”. Mục tiêu hoạt động kinh doanh của ngân hàng là
tiết kiệm không kì hạn của các tổ chức kinh tế và dân cư. Đó là khoản tiền gửi
mà người gửi có thể rút bất cứ lúc nào .
+ Tiền gửi có kì hạn : Đây là loại tiền gửi mà có sự thoã thuận về thời gian
rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy về nguyên tắc khách hàng gửi
tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn đã thoã thuận. Lãi suất của loại tiền gửi này
thường cao hơn so với tiền gửi không kì hạn.
• Nếu phân chia theo mục đích bao gồm :
+ Tiền gửi giao dịch : Đây là khoản tiền do khách hàng gửi vào ngân hàng
và họ có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán và chi trả cho họ bất cứ lúc nào.
Người gửi có thể nhận được khoản lãi hoặc không tuỳ thuộc vào qui định của
ngân hàng nhưng mục đích chính của người gửi là phục vụ mục tiêu thanh
toán giao dịch chứ không phải là mục tiêu hưởng lãi.
+ Tiền gửi phi giao dịch : Bao gồm tiền gửi có kì hạn của tổ chức kinh tế,
tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Mục tiêu chính của khách hàng là hưởng lãi, do
vậy ngân hàng phải trả một khoản khá cao cho loại tiền gửi này .
+ Vay từ tổ chức tín dụng khác .
Sau khi đã sử dụng hết vốn mà vẫn chưa đáp ứng dược nhu cầu vay vốn của
khách hàng hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng. Các
ngân hàng thương mại có thể đi vay ở ngân hàng Trung Ương và ngân hàng
thương mại khác bằng cách kí hợp đồng vay vốn có tài sản đẩm bảo, chiết
khấu các giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại, vay dưới hình thức tiền gửi
có kì hạn. Ngoài ra ngân hàng còn có thể vay các tổ chức ngoài nước... Vốn đi
vay chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn nhưng
nó rất cần thiết và quan trọng để đảm bảo ngân hàng kinh doanh một cách
bình thường
+ Các hình thức huy động khác.
Ngoài hai hình thức huy động chính là huy động tiền gửi, vay vốn từ các tổ
chức tín dụng khác, ngân hàng còn huy động bằng hình thức phát hành chứng
chỉ tiền gửi , phát hành trái phiếu hoặc huy động các nguồn vốn trong thanh
toán, vốn phát sinh từ các hoạt động dịch vụ khác. Như vậy, để hoạt động huy
hàng thương mại vì chỉ có lãi suất cho vay mới ù đắp nổi các chi phí khác của
ngân hàng. Thông thường hoạt động tín dụng bao gồm :
• Hoạt động cho vay:
Đây là một trong những hoạt động đầu ra và là hoạt động quan trọng nhất
quyết định đến sự thành bại của ngân hàng. Chỉ khi nào ngân hàng điều hành
tốt hoạt động này thì hoạt động chung của ngân hàng mới đem lại hiệu quả
cao vì đây chính là hoạt động sinh lời chủ yếu. Là hoạt động đem lại nguồn thu
nhập chính cho ngân hàng nên cho vay cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro
nhất. Để tránh điều đó quản lí tiền vay được tiến hành rất chặt chẽ, đặc biệt là
đối với các món vay lớn, thời hạn dài.
Căn cứ vào các hình thức phân loại khác nhau ta có các hình thức cho vay khác
nhau
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay.
- Cho vay không kì hạn : Đây là loại hình cho vay mà khách hàng có thể trả
tiền bất kì thời gian nào họ có tiền mà không bị ràng buộc bởi thời gian.
- Cho vay ngắn hạnbao gồm:
. Cho vay ngắn hạn thông thường : Là loại cho vay có thời hạn ít hơn một
năm như :
Chiết khấu thương phiếuvà các giấy tờ có giá : Đây là nghiệp vụ ít rủi ro và
không làm đóng băng vốn của ngân hàng. Thời hạn cho vay ngắn, điều này
nâng cao tính thanh khoản trong quản lí tài sản có của ngân hàng. Đây chính
là tiền đề để người mua thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình và có
khả năng để thanh toán nợ cho ngân hàng. Đồng thời, tất cả những người kí
tên trên thương phiếu đều chịu trách nhiệm liên đới theo qui định của pháp
luật. Như vậy , trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng gồm nhiều chủ thể
khác nhau. Hơn nữa , với nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng thương mại có thể
tái chiết khấu ở NHTƯ khi gặp khó khăn về vốn để cũng cố, tăng cường năng
lực thanh toán cũng như mở rộng qui mô tín dụng.
Nghiệp vụ chiết khấu mang lại lợi ích cho ngân hàng tuy nhiên vẫn có rủi ro
xảy ra. Vì vậy, trước khi chiết khấu ngân hàng phải nghiên cứu kĩ khách hàng
hợp đồng. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp
đồng.
2.3 Hoạt động trung gian
Đây là hoạt động mà ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng,
thông qua đó ngân hàng tăng thêm thu nhập và nâng cao uy tín cho ngân
hàng.
Hoạt động trung gian của ngân hàng bao gồm :
2.3.1 Dịch vụ thanh toán hộ.
Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng
các phương tiện thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng
nhằm thực hiện thanh toán cho khách hàng, tức là nhận hộ tiền cho người bán,
trả hộ tiền cho người mua thông qua hình thức kế toán trên chứng từ.
2.3.2 Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán.
Do có uy tín nên ngân hàng thường tham gia bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các Công ty cổ phần muốn huy động vốn, tư vấn đầu tư chứng
khoán cho khách hàng. Do thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt
động nên thị trường chưa sôi nổi. Các hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn
đầu tư ...chủ yếu là do công ty chứng khoán đảm nhiệm mà không có sự tham
gia của các ngân hàng trong lĩnh vực đó.
2.3.3 Dịch vụ mua bán ngoại tệ.
Ngân hàng thương mại tham gia trên thị trường ngoại hối để đáp ứng
nhu cầu chi trả thanh toán ngoại tệ của khách hàng.
Ngoài ra ngân hàng còn có các dịch vụ như bảo quản tài sản quỹ, cho
thuê két sắt. Ở nước ta hiện nay hoạt động trung gian vẫn chưa phát triển
mạnh vì nền kinh tế còn phát triển chậm.
Có thể nói, các hoạt động của ngân hàng đều rất quan trọng và liên quan
chặt chẽ với nhau. Hoạt động huy động vốn là tiền đề tạo nguồn vốn tích luỹ
cho hoạt động sử dụng vốn. Ngược lại hoạt động sử dụng vốn thực hiện có hiệu
quả mới thúc đẩy hoạt động hoạt động huy động vốn phát triển. Hoạt động tín
dụng và đầu tư đem lại thu nhập chính cho ngân hàng còn các hoạt động khác
hàng hoá và lưu thông tiền tệ trong khu vực. Khối lượng tiền mặt trong nền
kinh tế đi qua quỹ nghiệp vụ NHTM là những công cụ tác động trực tiếp vào
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế ảnh hưởng đến
đời sống của các tầng lớp dân cư.
Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng và tiền tệ,
NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế. Đây là dịch
vụ trung gian tạo cho ngân hàng thương mại những nguồn lợi đáng kể góp
phần tăng thêm các khoản thu nhập cho ngân hàng, đồng thời cũng tạo ra
những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện và thoã mãn các yêu
cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
Như vậy, với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết kinh tế vi mô
ngân hàng đã xâm nhập vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, cá nhân, các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán.
3.2 Góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thông qua chức năng tạo tiền của
ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về
NHTƯ. NHTƯ thực hiện chức năng này thông qua việc xây dựng chiến lược
phát triển kinh tế xã hội và chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ là loại công cụ chính sách can thiệp bằng kinh tế, dựa trên
bản thân cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó. Nhưng NHTƯ
không trực tiếp giao dịch với công chúng, do đó phải dựa vào thông tin phản
hồi từ các định chế tài chính trung gianđể soạn thảo chính sách tiền tệ. Như
vậy, rõ ràng là nếu không có hệ thống NHTM hoàn chỉnh , không có thông tin
phản hồi do NHTM cung cấp thì việc hoạch định chiến lượcvà soạn thảo chính
sách tiền tệ của NHTƯ sẽ không hoàn hảo. Chính sách tiền tệ được thiết kế và
khởi động từ NHTƯ lan ra đến mợi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt
động dây chuyền của NHTM và các tổ chức tài chính trong nước. Như vậy, nếu
không có sự chấp hành của hệ thống NHTM thi ý đồ chính sách tiền tệ của
NHTƯ không thực hiện được.
Hiện nay tín dụng trung, dài hạn không chỉ đơn thuần là việc phát tiền vay
với thời hạn trên 1 năm mà nó còn được thể hiện dưới nhiều hình thức. Cụ thể
như sau :
+ Cho vay theo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp . Đây là
loại cho vay được thực hiện theo phương pháp cho vay thông thường dựa trên
cơ sở nhu cầu vốn của từng công trình, hạng mục công trình được xác định
trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của mỗi doanh nghiệp .
+ Cho vay theo dự án là một phương pháp cho vay dựa trên một văn bản hoàn
chỉnh về vay vốn và trả nợ được nghiên cứu soạn thảo xét duyệt, kí kết giữa
người đi vay và ngân hàng, đồng thời dựa trên những căn cứ khoa học kĩ thuật
phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước.
+ Tín dụng tuần hoàn : là phương thức cho vay dựa vào chu kì sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó được coi là tín dụng trung, dài hạn khi thời hạn
của hợp đồng kéo dài từ 1 đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và
được trả nợ khi có nguồn trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Tín dụng tuần
hoàn có thể chuyển thành tín dụng trung, dài hạn theo hợp đồng kí kết nếu
người vay thấy cần thiết vì tình trạng tài chính không sẳn sàng để thực hiện tín
dụng tuần hoàn.
+Tín dụng thuê mua : là hình thức cho vay tín dụng trung, dài hạn bằng tài
sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuê mua. Sau một thời gian thuê nhất
định tuỳ theo thoã thuận của hợp đồng, người đi thuê có thể mua lại tài sản đó.
2. Đặc điểm của tín dụng trung, dài hạn .
2 Hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thường có các đặc điểm
sau:
3 Rủi ro lớn
Nền kinh tế luôn chứa đựng những biến động lớn không thể lường trước
được. Những biến động đó có thể là tích cực hay tiêu cực. Chính vì vậy các
khoản tiền cho vay tín dụng trung, dài hạn luôn có độ rủi ro cao hơn khoản cho
vay ngắn hạn tương ứng.
Lãi suất cao
năng trả lãi cho ngân hàng và thu lợi nhuận.
. Dự án đầu tư trung, dài hạn phải có tính khả thi và các điều kiện kèm theo
đối với những dự án bắt buộc như : xây dựng cơ bản phải có giấy xác nhận
quyền sử dụng đất có thiết kế xây dựng cơ bản được cơ quan Nhà nước phê
duyệt, đối với những ngành nghề ảnh hưởng đến đời sống xã hội phải có giấy
phép của cơ quan quản lí môi trường.
. Phải có vốn tự có đầu tư cho dự án theo mức cụ thể do giám đốc tổ chức tín
dụng qui định theo các đối tượng của dự án .
. Phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bão lãnh của người thứ ba theo quy chế
thế chấp, cầm cố bảo lãnh của thống đốc ngân hàng Nhà nước.
. Phải mua bảo hiểm cho tài sản hình thành bằng vốn vay tại một Công ty bảo
hiểm được phép hoạt động hợp pháp ở Việt Nam, nếu tài sản dó quy định phải
mua bảo hiểm và cam kết số tiền được bồi thường khi gặp rủi ro sẽ dùng trả
nợ cho tổ chức tín dụng. Các trường hợp không phải mua bảo hiểm do giám
đốc tổ chức tín dụng qui định.
. Tổ chức hạch toán, kế toán và quản lí tài chính theo đúng pháp luật kế toán,
thống kê và điều lệ của tổ chức tín dụng.
. Chấp nhận điều lệ quản lí đầu tư xây dựng của Nhà nước, quy định của thể lệ
cho vay trung , dài hạn.
. Đối với bên vay là pháp nhân, ngoài những điều kiện qu định trên còn phải có
thời gian hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoạc giấy phép thành
lập phù hợp với thời gian cho vay trung, dài hạn.
4. Nguyên tắc của tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng đúng nghĩa như Các Mác đã chỉ ra xưa nay, khoa học kinh tế
dưới nhiều phương thức sản xuất khác nhau đã cùng đúc kết, xác lập thành
một số nguyên tắc:
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả.
- Vốn vay phải được bảo đảm bằng vật tư hàng hoá tương đương.
- Vốn vay phải đượchoàn trả cả gốc và lãi đúng kì hạn cam kết.
- Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoã thuận giữa bên cho