Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Nghị quyết số 29 -NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI về “Đổi mới toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ ra cần
phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng
các phương tiện tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
Thực tế cho thấy một thời gian dài vừa qua, hầu hết các trường đều áp
dụng phương pháp dạy học truyền thống thụ động, một chiều, vừa quá tải về
kiến thức, vừa gây nhàm chán cho người học. Môn Ngữ văn cũng không phải
là ngoại lệ. Chất lượng cũng đang ngày càng đi xuống. Số lượng học sinh
chọn học các môn xã hội, trong đó có môn văn có chiều hướng giảm; nhiều
người học theo kiểu đối phó, thuộc vẹt, học tủ; sự hứng khởi và đam mê của
học sinh với môn văn có biểu hiện mất dần.
Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, rất nhiều phương
pháp dạy học tích cực đã được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Một trong những phương pháp dạy học mới đã được đưa vào là Phương pháp
dạy học bằng bản đồ tư duy. Tuy nhiên, việc ứng dụng bản đồ tư duy trong
quá trình dạy học là vấn đề còn khó khăn, lúng túng đối với nhiều giáo viên,
trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn. Họ tỏ ra băn khoăn không biết sử
dụng bản đồ tư duy vào khâu nào trong quá trình dạy học? Phương pháp thiết
kế bản đồ tư duy, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh ra sao? Nhất là
đối với những giáo viên mới vào nghề và những giáo viên chưa quen với việc
ứng dụng Công nghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế.
Trường THCS Ba Khâm -Trang 1- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
ID=
;G9JDKL
Năm học 2013 - 2014 là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo
đang tiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con
người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ
giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp
soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo
luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ
động chiếm lĩnh kiến thức. Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải triệt để thực
hiện theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủ
động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy học.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học
có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con
người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Cung cấp cho học sinh những hiểu biết
về văn hóa, con người Việt Nam và thế giới, hướng các em đến những giá trị
cao đẹp của cuộc sống như Chân – Thiện – Mĩ. Mặt khác nó cũng là môn học
thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các
môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động
tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần
học tốt môn văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí
thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh
động của cuộc sống.
;;G9JMNL
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở
rộng và đào sâu các ý tưởng. Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền
Trường THCS Ba Khâm -Trang 3- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ,
giảm tải, lược bỏ đi một số bài học hoặc đưa một số bài học chính vào phần
đọc thêm. Song không vì thế mà chương trình đã thật sự nhẹ nhàng. Giáo viên
và học sinh vẫn phải gồng mình dạy và học để theo kịp chương trình.
Qua thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy rằng có rất nhiều biểu
hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ thể là:
- Học sinh thờ ơ với Văn: Đa phần các em xem thường và không muốn
học Văn. Các em thường chỉ quan tâm đến các môn tự nhiên và phần lớn
dành thời gian cho các môn này. Và nếu có học thì đó cũng chỉ là đối phó,
qua loa. Mặt khác, chính vì môn văn có khối lượng kiến thức nhiều và khó,
tâm lí thực dụng nặng nề nên nhiều em học sinh thấy học văn là một công
việc nặng nhọc, mệt mỏi, khó khăn! Đôi khi giờ học văn đối với các em thật
vất vả…
- Khả năng trình bày: Khi học sinh tạo lập một văn bản giáo viên có
thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết
câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc
biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng Đây là một
tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong bậc học
THCS.
Điều đó, một phần thể hiện rõ qua kết quả khảo sát đầu năm học 2013-
2014 như sau:
Điểm
Lớp
Điểm 8-10 Điểm trên 5 Điểm dưới 5
SL % SL % SL %
Lớp 6 (31 HS) 1 3,2 16 51,6 14 45,2
Lớp 9 (33 HS) 2 6,1 18 54,5 13 39,4
U&,-V!WL
- Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận
tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh. Tuy nhiên, vẫn
còn những mặt hạn chế sau:
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện
chủ đề của kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ
bản đồ tư duy thông qua câu hỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh
trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ
lại kiến thức và định hình được cách vẽ Bản đồ tư duy theo yêu cầu.
Ue$%L Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại” tiết 1,
2 trước khi tìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương châm hội
thoại ở Tiết 3 (Tiết 13, lớp 9), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em
lập bản đồ tư duy để củng cố, hệ thống kiến thức đã học ở hai tiết học trước
thông qua câu hỏi sau: Ta đã học qua những phương châm hội thoại nào? Em
hãy lập bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức về chúng? Sau đó, giáo viên ghi
cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “Phương châm hội thoại”, rồi gọi một em
xung phong lên bảng vẽ. Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được bản đồ tư duy theo nội
dung yêu cầu. Dưới đây là bản đồ tư duy về các phương châm hội thoại có
tính chất minh họa, các em vẽ bản đồ tư duy đảm bảo các nội dung tương tự
như sau là tốt.
Hình 1- bản đồ tư duy: Phương châm hội thoại
Trường THCS Ba Khâm -Trang 7- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em
nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
b. Sử dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra 15 phút, 1 tiết:
Chúng ta cũng có thể dùng bản đồ tư duy trong các hình thức kiểm tra
trên giấy (15 phút, 1 tiết) một cách dễ dàng để tăng cường việc rèn luyện thói
quen tư duy lô-gic, tư duy hệ thống cho học sinh thông qua các bài kiểm tra
viết, nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho các em. Tuy nhiên, giáo
viên cũng cần lưu ý rằng kiểm tra kiến thức cũ bằng phương pháp vẽ bản đồ
tư duy chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm việc giúp học sinh củng cố, hệ
thống kiến thức có tính chất lý thuyết. Do đó, giáo viên nên chọn kiểm tra
*e$%XL Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập bản đồ tư duy
minh họa với cụm từ khóa sau: “Sự phát triển của từ vựng”
Hình 5- bản đồ tư duy: Sự phát triển của từ vựng
*e$%jL Em hãy lập bản đồ tư duy trình bày những hiểu biết của em về
nhà thơ Nguyễn Du (Tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc đời, sự nghiệp văn
học?)
U+,kL
Trường THCS Ba Khâm -Trang 10- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
- Giáo viên có thể linh hoạt sử dụng các câu hỏi yêu cầu học sinh lập
bản đồ tư duy ở khâu kiểm tra bài cũ và kiểm tra viết (15 phút, 1 tiết) hoán
đổi cho nhau đều được.
- Đối với kiểm tra miệng, 15 phút ta lấy thang điểm 10; còn đối với
kiểm tra 1 tiết thì tùy theo mức độ của từng câu hỏi, ta có thể cho từ 2-3 điểm.
(xem như câu hỏi yêu cầu lập bản đồ tư duy là một phần trong đề kiểm tra)
Hình 6- bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du
;X;9#$%&()*+$,-./&$2-!4135l03&!(&L
Lâu nay, việc sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ đắc lực
cho việc dạy học bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng.
Tuy nhiên, việc sử dụng bản đồ tư duy vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự
tìm hiểu, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi
bảng cô đọng kiến thức tiết dạy, bài dạy của giáo viên thì quả là việc làm còn
hết sức mới mẻ. Qua trao đổi với anh chị em giáo viên trong tổ chuyên môn,
trong trường, trong cụm trường ở những buổi sinh hoạt chuyên môn, hầu hết
anh chị em đều có chung quan niệm xem bản đồ tư duy là công cụ, phương
tiện, là một thứ “bảng phụ” hỗ trợ, minh họa cho tiết dạy mà thôi. Ai cũng
Trường THCS Ba Khâm -Trang 11- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
cho rằng không thể dùng bản đồ tư duy thay cho phần ghi bảng của giáo viên
được. Thực ra thì ta vẫn có thể thực hiện kết hợp chúng trong quá trình dạy
gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý
nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm học sinh vẽ xong, cho một
số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết
luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Hình 8- bản đồ tư duy: So sánh
Trường THCS Ba Khâm -Trang 13- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Ue$%EL Khi dạy bài giới thiệu về “Truyện Kiều cuả Nguyễn Du” (Tiết
26, lớp 9), sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “TRUYỆN
KIỀU (Nguyễn Du)” lên trung tâm bảng đen. Sau đó, giáo viên đưa ra hệ
thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài học. Đầu tiên, ta cho các em tìm
hiểu về tác giả bằng cách vẽ nhánh chính thứ nhất đặt tiêu đề nhánh “I. TÁC
GIẢ”. Rồi đưa ra các câu hỏi gợi ý tìm hiểu về Tên hiệu, Xuất thân, Thời đại,
Cuộc đời, Sự nghiệp văn học của nhà thơ. Tìm hiểu đến đâu, giáo viên phát
triển nhánh, cô đọng kiến thức đến đó. Sau khi dẫn dắt các em tìm hiểu xong
phần tác giả, giáo viên tiếp tục vẽ nhánh thứ hai, đặt tiêu đề “II. TÁC PHẨM”
đưa ra các câu hỏi gợi ý các em tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc, Thể loại, Kết
cấu, Giá trị (nội dung, nghệ thuật) của tác phẩm (cách làm tương tự như trên).
Kết thúc 2 tiết học, ta có bản đồ tư duy giới thiệu một cách cô đọng, khái
quát, lô-gic những tri thức cơ bản về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện
Kiều” trên bảng đen như sau:
Hình 9- bản đồ tư duy: Truyện Kiều
Trường THCS Ba Khâm -Trang 14- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Ue$%XLKhi dạy bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống”
(Tiết 99 lớp 9), sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “NGHỊ
LUẬN SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG” lên bảng, rồi bắt đầu tiết học
với mục Tìm hiểu bài. Giáo viên vẽ nhánh chính thứ nhất, ghi tiêu đề “I. TÌM
HIỂU BÀI”. Sau đó, cho học sinh đọc văn bản “Bệnh lề mề” – SGK, giáo
Trường THCS Ba Khâm -Trang 16- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng Bản đồ tư duy kết hợp trong
việc dạy học bài mới với dùng chính nó để cô đọng kiến thức của bài học cho
học sinh ghi. Việc sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy học bài mới sẽ
giúp học sinh từng bước phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức
bài học một cách khoa học, có hệ thống, lô-gic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm
từ trung tâm thể hiện trọng tâm kiến thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt
của giáo viên, các em tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học
(các ý lớn, nhỏ) một cách liền mạch, có hệ thống, đến khi tiết học kết thúc
cũng là lúc toàn bộ kiến thức của bài học được cô đọng và trình bày một cách
sinh động, khoa học và sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn hình). Bản đồ
tư duy ấy không chỉ cung cấp cho các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức
của bài học mà nó còn giúp cho các em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức
của bài học. Do đó, chúng ta có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của
giáo viên để học sinh ghi chép.
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho
phép chứ không nên lạm dụng bản đồ tư duy để khỏi phải ghi bảng ở tất cả
các tiết dạy. Mặt khác, việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng
ta sử dụng phần mềm Mind Map và soạn giảng bằng bài giảng điện tử (Power
Point. Chúng ta cũng nên đánh số thứ tự vào các khâu lên lớp (tìm hiểu bài,
bài học, luyện tập), các ý chính trong mỗi đơn vị kiến thức của bài học để học
sinh thuận tiện trong việc theo dõi, ghi chép vào vở. Giáo viên cũng cần dành
ít phút cuối tiết học, cho học sinh quan sát bản đồ tư duy và thuyết trình -
“đọc hiểu” lại toàn bộ nội dung kiến thức của bài học.
;XE9#$%&()*+$,-./&01!!&?1m&1bh!a1
d,5n3!41?5n !o1md3!41L
Sau khi dạy xong mỗi phần (một đơn vị kiến thức) của bài học, hay mỗi
bài học, giáo viên cho học sinh hình dung, nhớ lại và vẽ bản đồ tư duy để
củng cố, hệ thống phần kiến thức đó, hoặc toàn bộ kiến thức của bài học.
thống kiến thức của bài học. Dưới đây là bản đồ tư duy củng cố, hệ thống
kiến thức bài “Bàn về đọc sách":
Hình 15- bản đồ tư duy: Bàn về đọc sách
;XX9#$%&()*+$,-./&016s bh!a1L
a. Sử dụng bản đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống
kiến thức sau mỗi chương, phần:
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống
kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ bản đồ tư
duy. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành
tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một
cách nhanh chóng, dễ dàng.
Ue$%L Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ
bản đồ tư duy sau mỗi bài học để mỗi em có một tập bản đồ tư duy về các từ
loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hệ tự, trợ từ, thán
từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng
tổng hợp kiến thức về từ loại tiếng Việt bằng bản đồ tư duy dựa vào tập bản
đồ tư duy đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong
bản đồ tư duy sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có
Trường THCS Ba Khâm -Trang 20- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích…
rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ bản đồ tư
duy cho các em.
Hình 16- bản đồ tư duy: Từ loại (Tổng kết Ngữ pháp)
b. Sử dụng bản đồ tư duy để ôn tập và hệ thống kiến thức đã học.
Ue$%L Cho học sinh lập bản đồ tư duy hệ thống kiến thức bài “Ôn tập
Tiếng Việt” học kỳ II (Tiết 139,140 lớp 9) như sau:
Hình 17- bản đồ tư duy: Ôn tập Tiếng Việt
Trường THCS Ba Khâm -Trang 21- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết
kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ
giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên
kết chặt chẽ của tri thức.
Sau một thời gian ứng dụng bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp
dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng,
tôi thấy bước đầu có những kết quả khả quan. Tôi đã nhận thức được vai trò
tích cực của ứng dụng bản đồ tư duy trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy
học. Biết sử dụng bản đồ tư duy để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học,
tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng bản đồ tư duy để ghi chép
bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số học sinh trung bình đã biết dùng bản
đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Đối với môn Ngữ
văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng bản đồ tư duy để ghi chép bài
nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng Việt.
Trường THCS Ba Khâm -Trang 23- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương
Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS
Thực tế kết qua kiểm tra hết học kỳ I năm học 2013-2014 cho thấy chất
lượng môn văn của nhà trường nói chung đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Cụ thể là:
Điểm
Lớp
Điểm 8-10 Điểm trên 5 Điểm dưới 5
SL % SL % SL %
Lớp 6 (31 HS) 3 9,7 23 74,2 5 16,1
Lớp 9 (33 HS) 4 12,1 26 78,8 3 9,1
Như vậy, qua kết quả giảng dạy trên tôi nhận thấy rằng những giải pháp
tôi đưa ra trong đề tài hoàn toàn có thể thực hiện được đối với học sinh trường
THCS Ba Khâm. Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh có sự hào hứng với
giờ học, gắn bài học với thực tiễn nhanh và hiệu quả. Giờ học trở nên sôi nổi
Trường THCS Ba Khâm -Trang 25- Giáo viên: Nguyễn Hải Dương