SKKN Giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả ở lớp 5 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIÚP HỌC SINH GIẢM BỚT LỖI CHÍNH TẢ Ở LỚP 5”
I) Lý do chọn đề tài:
Phân môn chính tả là một phân môn có tầm quan trọng trong việc dạy học tiếng Việt cho
học sinh Tiểu học. Phân môn chính tả còn là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí
quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối
với việc học môn Tiếng Việt và các môn học khác. Chính tả là hệ thống chữ viêt được
xem là chuẩn mực của một ngôn ngữ. Vì vậy, muốn viết đúng chính tả, ta phải tuân theo
những quy định, quy tắc đã được xác lập. Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất
nhiều. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài
viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở
môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất
tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát. Chính vì lẽ đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm
hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp “ để giúp học sinh viết đúng chính tả”, giúp
các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương
lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
II) Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài:
1./ Thuận lợi:
- Hằng ngày, giáo viên được gần gũi và tiếp xúc trực tiếp với học sinh nên tìm hiểu và
nắm bắt được những khó khăn và sai sót của các em khi viết chính tả rất thuận lợi.
- Việc tham dự các buổi hội thảo chuyên đề, hội giảng của trường, của Phòng giáo dục đã
góp phần cho giáo viên được học hỏi, phấn đấu tìm tòi nâng cao kiến thức, kĩ năng thực
hành sư phạm. Từ đó vận dụng sáng tạo và linh hoạt trong phương pháp giảng dạy để
nâng cao chất lượng học tập của HS.
2./ Khó khăn:
- Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn chính tả, đòi hỏi người giáo viên
phải có kiến thức sâu rộng, phong phú.
- Đa số học sinh nói và phát âm chưa chính xác một số âm, vần, dấu thanh do ở nhiều
vùng miền khác nhau nên đã ảnh hưởng nhiều khi viết chính tả.
- Một số học sinh đọc không trôi chảy nên thường viết sai chính tả nhiều.

* Về âm đầu:
Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm dầu như: l/n (đi nàm, no nắng ), g/gh (gê sợ,
gi nhớ ), c/k (céo co ), ch/tr (cây che, chiến chanh ), ng/ngh (ngỉ ngơi, nge nhạc ), s/x
(xa mạc, sung phong )
Trong các lỗi này, lỗi về s/x, ch/tr đối với lớp tôi là phổ biến hơn cả.
* Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần như: an/ang ( cây bàn, bàng
bạc ), ât/âc (chấc phát, nổi bậc ), ên/ênh (nhẹ tên, bên vực ), at/ac (mặn chác, khát
nước ), ăt/ăc (khuôn mặt, giặc quần áo ),
* Về viết hoa danh từ riêng:
Học sinh thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ tên người, tên địa lý, tên riêng
nước ngoài, nhất là học sinh yếu, nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính
tả thì khó có thể viết đúng được.
b. Nguyên nhân mắc lỗi:
Đa số là do học sinh đọc và phát âm chưa chính xác vì do phương ngữ phát âm của mỗi
vùng miền khác nhau, do học sinh chưa hiểu được nghĩa của từ và chưa nắm được những
quy tắc viết chính tả.
c. Một số biện pháp khắc phục lỗi:
Biện pháp 1: Luyện phát âm:
- Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho đúng, rõ để
học sinh dễ phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ
ghi âm, âm thế nào, chữ ghi thế ấy.
- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện
thường xuyên, liên tục, lâu dài trong các tiết học khác.
- Với những học sinh đọc yếu thì thường viết chính tả sai nhiều. Trong giờ Tập đọc, tôi
rèn cho các em luyện phát âm hoặc cho đánh vần những từ, tiếng các em đọc sai. Sau đó,
giáo viên giao việc ở nhà cho học sinh là tập đọc một đoạn nào đó và viết đoạn đó vào
vở. Hôm sau, học sinh đem lên lớp cho giáo viên hoặc tổ trưởng kiểm tra vào 10 phút
truy bài đầu giờ.
- Với những HS có vấn đề về phát âm như nói ngọng, nói lắp , giáo viên lưu ý học sinh

chính tả, nhưng đối với học sinh lớp 5, giáo viên cần giúp học sinh ghi nhớ một số mẹo
luật chính tả đơn giản như:
-Viết âm đầu gh khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: ghi, ghế, ), viết g trong các trường
hợp còn lại (Ví dụ: gà, gọn, ).
- Viết âm đầu ngh khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: nghĩ, nghề, ), viết ng trong các
trường hợp còn lại (Ví dụ: người, ngành, ngắm, ).
- Viết âm đầu k khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: kiến kẻ, ). Viết q khi sau nó là âm đệm
u (Ví dụ: quả, quyết, quẻ, quê, ), viết c trong những trường hợp còn lại (Ví dụ: cá, con,
câm, cười, ).
- Viết i đối với các âm bắt đầu bằng h, k, l, m, t (Ví dụ: kĩ luật, hi sinh, tỉ mỉ, ).
- Luật hài thanh: ngang/sắc/hỏi - huyền/ngã/nặng:
Để khắc phục trường hợp lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã, trong các từ láy tiếng Việt, nếu
một trong hai tiếng mang thanh huyền hoặc thanh nặng thì tiếng còn lại mang thanh ngã,
nếu một trong hai tiếng mang thanh không(thanh ngang) hoặc thanh sắt thì tiếng còn lại
mang thanh hỏi. Để ghi nhớ điều này, học sinh chỉ cần thuộc câu thơ lục bát sau:
“ Chị Huyền mang nặng ngã đau
Anh không sắc thuốc hỏi đâu mà lành”.
Ví dụ: đẹp đẽ, vồn vã, vất vả,
- Viết sai do không phân biệt s/x, có thể sử dụng:
+ Mẹo âm đệm trong các từ có âm đệm thì viết x, trừ từ suyễn, suy, súy, soát (lục soát,
soát vé).
+ Mẹo từ láy trong các từ láy âm đầu, cà hai tiếng cùng x hoặc cùng s (VD: xa xôi, sạch
sẽ, ). Còn từ láy vần lại thường là x (VD: lao xao, loăn xoăn, )
Đối với những học sinh yếu không ghi nhớ hết được một số mẹo luật chính tả,
giáo viên sẽ áp dụng biện pháp 1, 2, 3, 5.
Ngoài ra, việc chuẩn bị bài ở nhà của các em cũng không kém phần quan trọng, giúp giáo
viên và học sinh tiết kiệm và đỡ mất thời gian trên lớp.
Ví dụ: Sau khi các em chuẩn bị bài ở nhà, lên lớp giáo viên chỉ cần nghe học sinh báo cáo
những từ nào khó viết, dễ lẫn lộn và hay viết sai. Các em chỉ cần nêu, giáo viên tổng hợp
và giúp các em giải quyết. Các em sẽ nhớ lâu hơn và ít viết sai.

- Đàn siếu đang sãi cánh trên cao.
- Muồi hương đưa theo chiều gió ngào ngạc.
- Sung quanh hòn đá thần người ta cheo những cành hoa đang bằng che.
Bài tập điền khuyết:
Điền vào chỗ trống:
- s/x: ung phong, cây ào, ản phẩm, ngày ưa.
- l/n: ông dân, àm việc, ền nhà, thung ũng.
- an/ang: đ` hoàng, đ` ông, s loáng, b` ghế.
- ưi/ươi: khung c , s ấm, g thư, t cây.
Bài tập tìm từ:
. Tìm từ ngữ chứa tiếng bắt đầu bằng ch hoặc tr có nghĩa như sau:
- Loại cây có quả kết thành nải, thành buồng.
- Làm cho người khỏi bệnh.
- Cùng nghĩa với nhìn.
. Tìm từ chỉ hoạt động:
- Chứa tiếng bắt đầu bằng r.
- Chứa tiếng bắt đầu bằng d.
- Chứa tiếng bắt đầu bằng gi.
- Chứa tiếng có vần ươt.
- Chứa tiếng có vần ươc.
. Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có nghĩa như sau:
- Trái nghĩa với đóng.
- Cùng nghĩa với vỡ.
- Bộ phận ỡ trên mặt dùng để thở và ngửi.
Bài tập phân biệt:
. Đặt câu để phân biệt từng cặp từ như: căn – căng, vắn – vắng, xâu – sâu.
. Bài tập giải câu đố:
- Điền vào chỗ trống iên hoặc iêng rồi giải câu đố:
Trên trời có giếng nước trong
Con k chẳng lọt, con ong chẳng vào.

khó khăn, vướng mắc hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn
nắn.
- Giáo viên phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ tay
nghề. Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc phục
lỗi một cách có hiệu quả.
- Giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của mỗi lớp, mỗi
học sinh mình dạy mà có phương pháp dạy cho phù hợp.
VI) Kết luận:
Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Tuy nhiên vận dụng có
hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào khả năng truyền đạt của người giáo viên và sự
chăm chỉ học tập của học sinh. Để học sinh đạt được kết quả cao trong học tập, ngoài
kinh nghiệm giảng dạy, người giáo viên phải luôn luôn theo dõi những tiến bộ trong học
tập của học sinh, qua đó kịp thời cải tiến, điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả hơn.
Điều quan trọng là với lương tâm và trách nhiệm, trí tuệ và tâm huyết, mỗi người giáo
viên cần biết tự rèn luyện, tự học tập, tự sáng tạo để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ
trẻ phấn đấu và rèn luyện, xứng đáng với niềm tin của nhân dân, góp phần trong sự
nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
Với kinh nghiệm ít ỏi tích lũy được trong thực tế giảng dạy của bản thân, tôi rất mong
nhận sự góp ý, giúp đỡ của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học ngày càng đi lên.
VII) Tài liệu tham khảo:
- Tiếng Việt thực hành - Nhà Xuất bản Giáo dục
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III - Nhà Xuất bản Giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status