SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG BÀI THỰC
HÀNH CÔNG NGHỆ THCS"
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Nghị quyết TW2 khoá VIII nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá
trình dạy học bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ….”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã nêu: “Đổi mới và hiện đại hoá phương
pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang
hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người
học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân
tích tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân tăng cường tính chủ động, tính tự chủ
của học sinh ….”
Trong những năm gần đây việc đổi mới phương pháp giảng dạy đã diễn ra một cách
thường xuyên và có hiệu quả nhằm đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của giáo dục đó là
học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, đưa lý luận vào thực tiễn lao động,
nâng cao khả năng thực hành cho học sinh để học sinh hình thành được kĩ năng cơ bản
ban đầu. Sách giáo khoa môn Công nghệ mới đã viết theo hướng mở nhằm mục đích để
giáo viên chủ động phân chia thời gian, phương pháp giảng dạy giúp cho học sinh tiếp
cận kiến thức tốt hơn. Sách giáo khoa môn Công nghệ mới cũng đưa ra rất nhiều tiết thực
hành, chiếm tới 2/3 tổng số tiết, nhằm mục đích nâng cao kĩ năng thực hành cho học sinh.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Công nghệ, tôi đã không ngừng học hỏi, đổi
mới phương pháp nhằm đáp ứng được yêu cầu giảng dạy và mục tiêu giáo dục. Qua đó
đòi hỏi giáo viên dạy bộ môn Công nghệ phải biết lựa chọn từng nội dung, phương pháp
giảng dạy nhằm mục tiêu của giáo dục.
Qua nhiều năm giảng dạy môn Công nghệ ở trường THCS đặc biệt là từ khi thực hiện
thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học tôi nhận thấy đây là một vấn đề bổ
ích về lí luận cũng như thực tiễn. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng
tính tích cực của học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức là Disterverg đã khẳng
định đúng đắn rằng: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lí, người giáo viên giỏi dạy
cách tìm ra chân lí”.
Điều này có nghĩa rằng người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của mình ở việc
đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức có sẵn, bắt các em học thuộc lòng rồi kiểm tra
điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo viên hay trong sách giáo
khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản (bao
gồm kiến thức khoa học, sự hiểu biết về các quy luật, nguyên lí và các phương pháp nhận
thức…) làm cơ sở định hướng cho việc tự khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học
tập và cuộc sống.
Nhằm để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và chương trình giáo dục đổi mới hiện nay,
người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với hướng dạy học
“Lấy học sinh làm trung tâm”. Đó cũng chính là vấn đề của mỗi người giáo viên Công
nghệ đã và đang quan tâm hiện nay, với hy vọng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
bộ môn Công nghệ . Vì vậy mà trong bài viết này tôi xin trình bày: “Phương pháp dạy
học tích cực ở một số bài thực hành môn Công nghệ 6” sẽ giúp cho việc dạy học theo
phương pháp mới và việc thực hiện chương trình giáo dục mới sẽ đạt hiệu quả cao hơn
như mong muốn.
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài:
Về lí luận và thực tiễn, việc phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ thực hành
môn Công nghệ 6 là điều cần thiết và quan trọng để nâng cao hiệu quả giáo dục. Đó
chính là lí do chủ yếu để nghiên cứu vấn đề này. Nội dung gồm:
a. Cơ sở lí luận của việc dạy-học thực hành môn Công nghệ 6
b. Thực tiễn của việc dạy-học thực hành môn Công nghệ 6
c. Những biện pháp dạy-học thực hành môn Công nghệ 6 có hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu:
a- Đối tượng nghiên cứu.
- Nội dung chương trình SGK.
- Sách hướng dẫn giáo viên, phân phối chương trình Công nghệ THCS, và các tài liệu có
liên quan
đào tạo.
2. Ngoài bài giảng của GV ở trên lớp
dành cho GV thuyết trình, giảng
giải, HS thụ động tiếp thu kiến
thức thông qua nghe và ghi lại
lời của GV.
3. Học sinh chỉ làm việc một
mình trên lớp, ở nhà hoặc với
GV khi kiểm tra.
4. Nguồn kiến thức thu nhận
được của HS rất hạn hẹp, thường
giới hạn ở các bài giảng của GV,
SGK
5. Hình thức tổ chức dạy học chủ
yếu ở trên lớp
HS được tiếp xúc với nhiều nguồn kiến
thức khác, vốn kiến thức đã học, kiến
thức của bạn bè, SGK, tài liệu tham
khảo, thực tế cuộc sống.
3. HS ngoài việc tự nghiên cứu còn
trao đổi, thảo luận với các bạn trong tổ,
lớp, trao đổi ngoài giờ. HS đề xuất ý
kiến, thắc mắc, trao đổi với GV.
4. Nguồn kiến thức của HS thu nhận
rất phong phú, đa dang
5. Dạy ở trên lớp, ở thực địa, ngay t¹i
gia ®×nh, líp häc, các hoạt động ngoại
khoá
Như vậy qua so sánh hai kiểu dạy học trên thì ta thấy phương pháp phát huy tính tích cực
của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn .Tuy nhiên nó đòi hỏi giáo viên và học sinh phải
thi tay nghề như ở một số tỉnh bạn.
Ngoài ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng còn nhiều hạn chế, đó là chỉ chú trọng về
mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ thực hành, ít chú ý đến việc phát triển năng lực sáng
tạo.
Cuối cùng điều quan trọng là ý thức trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc thực hiện
các phương pháp dạy học phù hợp cho tiết dạy cũng như chất lượng bộ môn ngày một
nâng cao. Mỗi một GV – HS phải hiểu rõ sự nguy hại của việc thi gì học nấy sẽ làm cho
học vấn của học sinh bị què quặt, thiếu toàn diện
II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Đặc điểm chung của các giờ học thực hành Công nghệ 6
- Hầu hết các giờ học thực hành Công nghệ 6 đều đòi hỏi học sinh có đồ dùng học tập,
chuẩn bị nguyên vật liệu đầy đủ và hoàn thiện sản phẩm khi kết thúc thực hành
- Trong giờ thực hành các em học sinh phải tổ chức thực hành chung theo cặp, theo
nhóm:
Ví dụ: Bài 14 Thực hành : Cắm hoa trang trí , Bài 20 thực hành - Trộn hỗn hợp nộm
rau muống, Bài 24 - thực hành Tỉa hoa trng trí món ăn từ một số loại rau, củ, quả….
- Hoàn thiện sảp phẩm phải được kiểm tra, đánh giá, nhận xét.
2. Tổ chức thực hiện:
Tôi tiến hành dạy thực hành theo các bước như sau:
Bước 1: ( ở tiết trước tiết thực hành )
- Dặn dò tỉ mỉ học sinh chuẩn bị dụng cụ thực hành
- Phân chia nhóm thức hành để học sinh phân công nhau chuẩn bị
Bước 2: ( Trong giờ)
- GV kiểm tra dụng cụ, đồ dùng thực hành.
- Phân công nhóm trưởng các nhóm, các nhóm trưởng phải theo dõi thực hành trong
nhóm, quản lí nhóm.
Bước 3: Gv nêu yêu cầu giờ thực hành, các chú ý khi thực hành như: an toàn khi sử dụng
dao kéo, vệ sinh lớp học….
Bước 4: GV hướng dẫn thực hành
Bước 5: Tổ chức thực hành
Mẩu vật : các mẩu vải cho chương 1,
Dụng cụ : dụng cụ thực hành may áo gối, dụng cụ tỉa hoa cho chương 3
Vật liệu tiêu hao : chỉ, phấn may, vải, hoa…
Theo tôi, nên sử dụng đồ dùng dạy học trong các trường hợp sau đây:
- Khi đối tượng thật quá to hay quá nhỏ.
Ví dụ: phối hợp các loại vải, các loại quần áo…
- Khi đối tượng hay quá trình không có trong lớp học
Ví dụ : như khi giảng về sắp xếp đồ đạc hợp lí trong nhà ở thì cần phải có mô hình. giảng
về các món ăn, các phương pháp chế biến thì cần phải có tranh minh hoạ…
- Khi đối tượng mà ta không thấy ở điều kiện thường được.
Ví dụ như các phương pháp chế biến thực phẩm
* Những tác dụng của việc sử dụng đồ dùng dạy học.
Tăng cường hoạt động nhận thức của học sinh: vì các đồ dùng dạy học góp phần
nâng cao tính trực quan của quá trình dạy học, giúp học sinh tiếp cận với các sự vật hiện
tượng; các đồ dùng dạy học còn là phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin.
Giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, phát triển kỹ năng thực hành: ví dụ như đốt sợi
vải, nhúng vải trong nước cho HS quan sát từ đó nêu lên những tính chất của các loại vải,
Hs tự phối hợp các màu sắc của vải từ đó rút ra được nội dung cuả việc phối hợp các loại
trang phục. Đồng thời cũng góp phần xây dụng kỹ năng thực hành cho HS.
Kích thích hứng thú học tập của HS: đồ dùng dạy học có tác dụng kích thích sự hứng
thú học tập của học sinh trong quá trình học tập, tạo ra động cơ học tập cho HS, rèn luyện
thái độ tích cực học tập. ví dụ như khi cho HS quan sát các mẫu áo gối làm sẳn, quy trình
may áo gối HS rất hứng thú và háo hức thực hành tự mình hoàn thiện sản phẩm, hay khi
cho Hs quan sát sản phẩm và quy trình trộn hỗn hợp HS rất thích mong muốn thực hành
và trong tiết thực hành các em làm rất tốt.
Phát triển trí tuệ,, giáo dục nhân cách của HS: Thông qua các thí nghiệm, thực hành,
sủ dụng các mẫu vật tranh ảnh giúp HS nhận thức bản chất và giải thích một cách khoa
học các hiện tượng tự nhiên xã hội, rèn luyện khả năng quan sát, tính cần cù tác phong
làm việc nghiêm túc để hoàn thành công việc một cách khoa học.
Tóm lại : Sử dụng đồ dùng dạy học tốt giúp giáo viên và học mất ít thời gian và công
nghiệm nói chung và môn Công nghệ 6 nói riêng. Vì thông qua việc kiểm tra - đánh giá
thực hành thí nghiệm giúp cho giáo viên nắm thêm những thông tin về kĩ năng thực hành,
ý thức cẩn thận và tính tiết kiệm của mỗi học sinh. Ngoài ra qua hình thức kiểm tra- đánh
giá này còn cho giáo viên thấy được ngoài sự nổ lực học tập cá nhân của mỗi học sinh mà
còn biết nổ lực làm việc trong nhóm- thể hiện sự hợp tác trong học tập.
Như vậy đây là hình thức đánh giá khá toàn diện về kiến thức, kĩ năng và thái độ học tập
của học sinh. Thông qua hình thức đánh giá này giúp cho giáo viên uốn nắn kịp thời
những học sinh có thái độ học tập chưa tốt, ý thức chưa cao, có tính cá nhân… để dần dần
giúp cho việc phát triển nhân cách của học sinh một cách toàn diện. Do đó để đánh giá và
nắm được những thông tin chính xác của từng nhóm, từng học sinh trong một tiết thực
hành thí nghiệm, thì người giáo viên ngoài việc tổ chức - hướng dẫn cho học sinh thực
hành thí nghiệm mà còn phải biết quan sát và quản lí toàn lớp học. Để làm tốt điều này,
theo tôi cần tiến hành bằng 2 phiếu: Phiếu thực hành của học sinh và phiếu quản lí của
giáo viên. Cho học sinh thực hành thí nghiệm theo nhóm, rồi ghi lại tường trình theo
mẫu sau:
1- PHIẾU THỰC HÀNH CỦA HỌC SINH
Bài thực hành số …… Tên bài thực hành………………………………
Lớp……… Nhóm………………
Họ và tên các thành viên trong nhóm:
1/………………………;2/……………………………; 3/……………………
4/…………………………… ;5/………………………; 6 /…………………… …
Phần nhận xét và đánh giá của giáo viên:
Nhận xét Đánh giá
Ý thức
thái độ
(2điểm )
Thao tác
thực hành
(3điểm )
Kết quả
3. Bài mới
Để có một món ăn ngon miệng, ngoài việc lựa chọn thực phẩm, chế biến món ăn, ta
cũng cần chú ý đến trình bày trang trí món ăn để tăng thêm vẻ hấp dẫn ngon miệng. Bài
học hôm nay sẽ giới thiệu cho chúng ta một số cách trang trí món ăn đơn giản mà vẫn
hiệu quả
* Nội dung dạy học
HĐ1: GV nêu yêu cầu giờ thực hành
*/Về kĩ năng:
- Biết được một số nguyên liệu, dụng cụ và kĩ thuật tỉa hoa trang trí món ăn
- Trình bày được sản phẩm trên một món ăn
*/Về ý thức:
- Nghiêm túc, trật tự, vệ sinh sạch sẽ, an toàn
+ Quy tắc an toàn lao động, sử dụng dao kéo an toàn
+ Quy trình thực hành.
+ Kiểm tra chuẩn bị từng nhóm
HĐ2: Giới thiệu quy trình thực hành
HĐ của GV HĐ của HS
a. Nguyên liệu
- Các loại rau, củ, quả: hành lá, hành củ,
ớt, dưa chuột, cà chua…
b. Dụng cụ
- Dao bản to, mỏng; dao nhỏ, mũi nhọn;
dao lam; kéo nhỏ, mũi nhọn; thau nhỏ
- GV hướng dẫn
+ Ngồi thoải mái, vai thẳng, đầu hơi cúi,
mắt chăm chú nhìn dao
+ Tay trái cầm nguyên liệu, tay phải cầm
dao, ngón tay cái tì lên sống dao, ngón
tay trỏ áp vào má dao, giữ cho dao không
- Hs quan sát, theo dõi sự hướng
- Gv chia các nhóm, phân công
nhóm trưởng
- Gv tổ chức cho lơp bắt đầu thực
hành, nêu rõ nhiệm vụ thực hành
- Nhắc nhở học sinh các nguyên tắc
ăn toàn thực hành
- Theo dõi, quan sát, hướng dẫn hs
kịp thời
- Hs nhận nhiệm vụ thực hành
- Hs nhớ các quy tắc an toàn thực
hành
- Hs thực hành dưới sự hướng dẫn
của giáo viên.
- Cho 1 số hs trình bày sản phẩm của
mình trước lớp để các hs khác quan
sát, nhận xét sản phẩm
- Hs lắng nghe, rút kinh nghiệm
- Trình bày sản phẩm, các hs nhận
xét kết quả và rút kinh nghiệm cho
nhau
- Nhóm trưởng theo dõi đánh giá ý
thức từng thành viên vào phiếu
4. Nhận xét, đánh giá kết quả:
A. Nhận xét:
- Sự chuẩn bị của học sinh. ý thức thực hành của nhóm ( cá nhân). Nhận xét ý thức bảo
đảm vệ sinh an toàn lao động. Đánh giá quy trình thực hành của các nhóm.
B. Đánh giá:
*/ Học sinh tự đánh giá: Đánh dấu (+) cho HS có ý thức thực hành tốt
Đánh dấu (-) cho HS có ý thức thực hành chưa tốt
*/ GV thu phiếu và nhận xét cho điểm
- Lớp 6A,6D tôi dạy thực hành theo cách phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, tổ
chức cho học sinh thực hành theo cặp theo nhóm, cho các em chủ động phân chia công
việc, tự theo dõi, đánh giá kết quả chéo nhau trong nhóm. Kết quả thấy rằng: ở lớp 6A,
6D các em học sinh tự tin hơn trong công việc, chủ động hơn trong các giờ thực hành,
trong lớp học sinh có ý thức hơn do bị bạn theo dõi đánh giá, chất lượng sản phẩm tốt
hơn
Lớ
p
Bài
kiểm tra
Sĩ số
Giỏi
8 - 10
Khá
6,5 - <8
Trung
bình
5 - < 6,5
Yếu
< 5
TB trở
lên
>5
S
L
% SL %
S
L
%
S
Lớ
p
Bài
kiểm tra
Sĩ số
Giỏi
8 - 10
Khá
6,5 - <8
Trung
bình
5 - < 6,5
Yếu
< 5
TB trở
lên
>5
S
L
% SL %
S
L
% SL % SL %
6B
TH15'
HKI
29 5 17 10 34,5 10 34,5 4 14 25 86
6C
TH15'
HKI