1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
Môn: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THEO CHUẨN MỰC QUỐC TẾ
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ
AN TOÀN VỐN (CAR) CỦA CÁC NHTM TẠI
VIỆT NAM
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
Nhóm 27 MSSV
Đàm Minh Hoàng K094040549
Lưu Phước Tấn K094040595
Tiêu Hữu Thạnh K094041839
1
Lời mở đầu
Hệ thống tài chính là một trong những thành phần quan trọng, nếu không muốn nói là giữ
vai trò huyết mạch của bất kỳ một nền kinh tế nào trên thế giới. Nhờ có các hoạt động của hệ
thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà toàn bộ nền kinh tế được luân chuyển, vận
hành một cách thông suốt, thuận tiện. Nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng phát triển, và hệ
thống tài chính cũng không ngừng tiến bộ, phát triển. Tuy nhiên, nó vẫn còn bộc lộ nhiều
vấn đề về khả năng đảm bảo an toàn trong các hoạt động tín dụng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo theo sự đổ vỡ của hàng loạt các định chế tài chính
vào năm 2008 đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các ngân hàng VN trong việc thắt chặt
quản lý tín dụng, theo đó, cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc thì
việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế để đánh giá quản lý an toàn hệ thống NHTM Việt Nam
càng trở nên có ý nghĩa hơn trong bối cảnh mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng được
đánh giá là khá cao, khó lường trước các hậu quả xảy ra. Vì vậy, việc áp dụng và tuân thủ
việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) trên cơ sở hiệp ước Basel trở thành một vấn
đề cấp bách. Cho nên trong bài tiểu luận này chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và phân tích về
ADEQUACY RATIO)
1.1 Tỉ lệ an toàn vốn (CAR)
1.1.1 Khái niệm
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính
theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi
ro của ngân hàng.
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng
và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỉ lệ này người
ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối
mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm
đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi
tiền.
Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và
giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ởViệt Nam tỉ lệ này hiện
đang là 8% (đã thay đổi lên Basel II), giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống ngân
hàng trên thế giới áp dụng phổ biến.
Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn
nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn
cao hơn. Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở lên, các ngân hàng còn phải đảm bảo
tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I.
4
1.1.1.1 Vốn cấp 1/vốn nòng cốt (Tier 1 capital/core capital)
Vốn cấp 1 là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân
hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý, được định nghĩa trong Basel.
Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh
khoản tốt nhất, chủ yếu đề cập đến vốn cổ đông. Các ví dụ về vốn cấp 1 có thể kể đến: cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Theo
nghĩa này, vốn cấp 1 không hoàn toàn giống nhưng có liên quan mật thiết đến khái niệm vốn
này trong hệ thống pháp lý của mình.
Có một vài cách phân loại vốn cấp 2, nếu theo chuẩn Basel I, vốn cấp 2 bao gồm: lợi
nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các
công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. Với cách phân loại này, trái phiếu
chuyển đổi cũng được xếp vào vốn cấp 2 vì nó chính là một dạng công cụ tài chính lai giữa
cổ phiếu và trái phiếu.
Tuy có vai trò và độ tin cậy thấp hơn vốn cấp 1, song vốn cấp 2 là một trong hai thành
6
tố quan trọng để đánh gia mức độ an toàn vốn của một ngân hàng.
1.2 Hiệp ước tín dụng quốc tế Basel
Uy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision -
BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan
giám sát của các nước phát triển (GIO) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn
chặn sự sụp đố hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80.
Vào năm 1988, ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề
cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
Đến ngày 26/6/2004, bàn Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức
được ban hành và có hiệu lực vào tháng 1/2007.
Và vào ngày 12-9-2010 các nhà quàn lý ngân hàng các nước thuộc ủy ban Basel về
giám sát ngân hàng đã đồng thuận một quy định mới có tính lịch sử về quản lý ngân hàng
nhằm xây dụng hệ thống tài chính toàn cầu ổn định hơn. Quy định mới, gọi là Hiệp định
Basel III. Tuy nhiên, để tránh gây áp lực lên công cuộc hồi phục kinh tế đang rất chập chờn
trên khắp thế giới, các nhà quàn lý ngân hàng đồng ý rằng việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
được triển khai dần dần trong khoảng thời gian tám năm, chậm hơn một năm so với đề xuất
của Mỹ nhưng sớm hơn một năm so với đề xuất của Đức. Theo thỏa thuận này, một số thay
đổi sẽ được áp dụng ngay từ năm 2013, nhưng một số thay đổi khác sẽ chỉ có hiệu lực hoàn
toàn vào năm 2019.
1.2.1 Basel 1
Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế;
thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không
Tiêu chuẩn của Basel 2: Basel II sử dụng khái niệm"Ba trụ cột":
Trụ cột thứ 1: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc.
8
Trụ cột thứ 2: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, trì trên mức tối
thiểu.
Trụ cột thứ 3: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo
nguyên tắc thị trường.
Do giới hạn trong phạm vi đề tài này nên chúng ta chỉ đề cập đến trụ cột thứ nhất –Các
yêu cầu vốn tối thiểu. Trên cơ sở kế thừa Basel I, trụ cột thứ nhất của Basel II cũng yêu cầu
CAR >= 8%. Ngoài ra, Basel II có những điểm mới so với Basel I:
- Thêm vào vốn cấp 3 (Short-term subordinated debt covering market) là các khoản
vay ngắn hạn.
- Bổ sung phương pháp đo lường rủi ro thị trường (phương pháp chuẩn hóa và
phương pháp mô hình nội bộ).
- Bên cạnh rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động
(rủi ro vận hành) với các phương pháp đo lường: phương pháp chỉ số cơ bản, phương pháp
chuẩn hóa, phương pháp nâng cao.
- Việc xác định hệ số rủi ro của tài sản có sự thay đổi: thay vì quy định hệ số rủi ro có
4 mức là 0%, 20%, 50%, 100% và ưu đãi hơn với các nước thuộc OECD, Basel II quy định
hệ số rủi ro có 5 mức là 0%, 20%, 50%, 100%, 150% và không còn đặc quyền nào với các
nước OECD. Bên cạnh đó, hệ số rủi ro không áp dụng cứng nhắc như quy định của Basel I
mà được chi tiết theo độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại và phụ thuộc vào hệ số tín nhiệm
của các đối tượng.
- Ngoài ra, theo Basel II, mẫu số của công thức tính hệ số an toàn vốn CAR sẽ bao
gồm 2 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng cộng với 12,5 lần tổng vốn
quy định cho dự phòng rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Chẳng hạn, tổng tài sản đã điều
chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng của một ngân hàng là 1000 USD, vốn quy định phòng ngừa
rủi ro thị trường là 10 USD, vốn quy định tối thiểu để phòng ngừa rủi ro tác nghiệp là 20
USD thì mẫu số để xác định tỷ lệ vốn tối thiểu sẽ là: 1000 + (10 + 20) x 12,5 = 1375 USD.
9
Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ
chức họp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and
Development). Basel 2 quy định từ 0- 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả
phân cấp bên trong và bên ngoài.
Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel 2 thừa nhận về
kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh
tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
1.2.3 Basel III
Nội dung bao trùm của Basel III là:
- Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%.
- Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%.
- Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%.
- Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm
theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng
vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity). Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong
trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín
dụng một cách có hệ thống.
Ngoài ra, Basel III còn đưa ra các biện pháp giám sát chặt chẽ các ngân hàng và nhằm
ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng, hoặc chia cổ tức cao trong bối cảnh tình trạng tài
chính và tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo. Basel III cũng đồng thời rà soát lại các tiêu chuẩn
(định nghĩa) vốn cấp 1, vốn cấp 2 và sẽ loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn khi giám
sát chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu (Loại bỏ vốn cấp 3 ra khỏi định nghĩa vốn).
Như vậy, có thể thấy rằng, loại trừ khoản vốn đệm phòng ngừa rủi ro tài chính 2,5%,
tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu không thay đổi (vẫn là 8%). Tuy nhiên, kết cấu của các loại
11
vốn đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng vốn cấp 1, đồng thời tăng tỷ trọng
vốn chủ sở hữu phổ thông trong vốn cấp 1. Nếu tính đầy đủ cả 2 khoản vốn đệm dự phòng
suy giảm tài chính và dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu được
điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) tăng lên thành 9,5% (4,5% + 2,5% + 2,5%) ở Basel III. Nếu
loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế 2,5% (không bắt buộc trong điều kiện bình
NAM VÀ CHUẨN MỰC QUỐC TẾ BASEL
2.1 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu
với chuẩn mực Việt Nam
Xét trên góc độ quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tình hình thực hiện tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng Việt Nam có thể chia theo 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Áp dụng Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN5 quy định về các tỷ lệ
đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM. Thời kỳ này, khối NHTM Nhà nước không
đảm bảo được mức an toàn vốn tối thiểu. Tại thời điểm năm 2000, trước thực trạng tỷ lệ nợ
xấu quá cao, có nguy cơ dẫn đến sự phá sản của các NHTM Nhà nước, Chính phủ đã trực
tiếp cấp 12.000 tỷ đồng dưới dạng cấp trái phiếu đặc biệt thời với hạn 20 năm để tăng vốn tự
có cho 4 NHTM Nhà nước đưa tổng mức vốn tự có của khối này lên mức hơn 18.000 tỷ
VND, chiếm 51% vốn tự có của toàn hệ thống. (Xem Bảng 1)
Bảng 1: Vốn tự có và hệ số CAR (hệ số an toàn vốn) của các NHTM NN thời điểm
31/12/2005
Đvt: tỷ VNĐ
STT Tên ngân hàng Tổng TS có Vốn tự có CAR (%)
1 VCB
136.721 4.279 7,32
2 Vienbank
116.373 3.405 5,35
3 BIDV
121.404 3.971 5,51
4 Agribank
179.281 6.411 4,79
5 MHB
12.676 910 8,48
14
Do thị phần hoạt động của 5 NHTM trên chiếm đến 70-75%; vì vậy, có thể nói sự an
toàn trong hoạt động của nhóm ngân hàng này quyết định sự an toàn của toàn bộ hệ thống
NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, xem xét Bảng 1, chúng ta có thể thấy hầu hết các NHTM NN
VCB 9.57 12.6 9.2 8.9 8.11 9 11.14 14.83
Agribank 0.41 4.9 7.2 7.9 4.86 6 8 9.49
Vie.nbank 6.07 5.18 11.62
12.02 8.06 8.02 10.57 10.33
BIDV 3.36 5.5 6.67 8.94 7.55 9.32 11.7
Techcombank 15.72 17.28 14.3 13.99 9.6 13.11 11.4 12.6
ACB
12.1 10.89 16.19 12.44 9.97 9 9.25 13
Bên cạnh đó, làn sóng chuyển đổi từ NHTMCP nông thôn sang NHTMCP đô thị trong
giai đoạn này đã khiến cho bức tranh toàn hệ thống ngân hàng về an toàn vốn tồn tại nhiều
gam màu xám. Nếu căn cứ theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP (ngày 22/11/2006), thì đến cuối
năm 2010, các NHTMCP phải đạt mức vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ VND. Một số
ngân hàng đã thực hiện tăng mức vốn pháp định theo qui định để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu. Nhưng còn nhiều ngân hàng vẫn đang trong quá trình triển khai kế hoạch tăng vốn
pháp định. Do đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống ngân hàng có tăng lên, nhưng
vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Vấn đề đáng lưu ý ở
giai đoạn này là do tác động của chính sách kích cầu cũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ
của NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng đột biến. Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài
sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm trên đều có xu
hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn, trong đó, VCB đã tụt xuống gần mức an toàn tối thiểu 8%
trong năm 2009.
Giai đoạn 3: Thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 9% theo tinh thần của Thông tư
số 13/2010/TT-NHNN. Trong giai đoạn này, bức tranh về đảm bảo an toàn vốn là khá phức
tạp. Nếu nhìn vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống NHTM Việt Nam đã đảm bảo
được hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%.
16
Bảng 4: Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 - 2012
Đvt: %
Năm 2010 Năm 2011 Tháng 10
năm 2012
dụng tăng trưởng thấp.
Đặc biệt là đến 2012 tất cả các thành viên đã đảm bảo yêu cầu vốn pháp định, một số
trường hợp đã tăng mạnh vốn điều lệ, điển hình như Vietcombank (sau khoảng hai năm chật
vật đảm bảo hệ số CAR). Tính đến 31/10/2012, quy mô vốn điều lệ của toàn hệ thống cũng
đã tăng đáng kể, tăng 9,59% so với cuối năm 2011.
2.2 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu
với chuẩn quốc tế Basel II & III
Căn cứ theo các số liệu được công bố chính thức, hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống
NHTM đạt ở mức trên 8% (theo Quyết định 457/2005/NHNN) và trên 9% (theo Thông tư
13/2010/TT-NHNN). Tuy nhiên, nếu căn cứ đúng những quy định của Ủy ban Basel về an
toàn vốn tối thiểu thì sự an toàn của hệ thống NHTM về vốn cần có những đánh giá lại.
18
Thứ nhất, đối với khối NHTMCP, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, đã chứng kiến sự
mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam, đặc biệt là ở
nhóm NHTMCP với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản trung bình vào khoảng 45%/năm. Tuy
nhiên, tốc độ tăng vốn tự có của nhóm NHTMCP lại không theo kịp tốc độ mở rộng tổng tài
sản. Ðiều đó dẫn đến hiện tượng hệ số an toàn vốn của nhóm ngân hàng này có xu thế giảm,
đặc biệt trong năm 2010 và 2011. Hơn thế, như khuyến nghị của Basel III, trong tình huống
hệ số an toàn vốn ổn định nhưng tỷ lệ đòn bẩy tăng cao cũng có thể báo hiệu những rủi ro
tiềm ẩn trong hệ thống NHTM. Ðối với khối NHTMCP, xu hướng hệ số đòn bẩy tài chính
cao có thể nhận thấy khá rõ. Trên đà tăng như hiện nay (hình 3), khả năng chống đỡ của
NHTMCP trước rủi ro là rất đáng lo ngại.
19
Bên cạnh đó, danh mục tài sản có của các NHTMCP trong giai đoạn 2010-2011 đang
có sự thay đổi đáng chú ý: tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM và chứng khoán đầu tư tăng lên
đáng kể trong khi tỷ trọng tín dụng giảm xuống. Bên cạnh tác động khách quan từ nền kinh
tế và hạn mức tăng trưởng tín dụng 20%, việc NHNN yêu cầu các NHTM giảm tín dụng phi
sản xuất xuống còn 16% vào cuối năm 2011 có thể đã hạn chế năng lực mở rộng các khoản
cho vay đối với các ngân hàng này, đặc biệt là các NHTMCP nhỏ vốn có tỷ lệ dư nợ cho vay
kinh doanh bất động sản trên tổng dư nợ ở mức cao. Do thị trường bất động sản đang rơi vào
nghiệp). Hơn thế, theo khuyến nghị của Basel III, cần nâng mức an toàn vốn tới 13% để bao
gồm cả rủi ro do biến động kinh tế vĩ mô (rủi ro có tính chu kỳ) và rủi ro chéo trong trường
hợp ngân hàng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính. Nếu xét tình huống Việt Nam
trong năm 2011 thì cả hai vấn đề rủi ro có tính chu kỳ và rủi ro chéo cần được tính tới. Hơn
thế, khi đánh giá trong mối quan hệ với các NHTM trong khu vực, mức độ an toàn vốn của
các NHTM Việt Nam ở mức khá thấp.
21
Bảng 6: Hệ số an toàn vốn hệ thống các TCTD tại Việt Nam và một số quốc gia trên
thế giới
Quốc gia CAR
Việt Nam 11,85%
TCTD Việt Nam 11,13%
TCTD nước ngoài 28,58%
Trung Quốc 11,8%
Ấn Độ 13,6%
Indonesia 17,6%
Malaysia 16,4%
Pakistan 13,6%
Philippines 16,7%
Rõ ràng, khi kinh tế xuất hiện những bất ổn, các NHTM có thể gặp những khó khăn
hơn rất nhiều so với trong giai đoạn bình thường của nền kinh tế. Việc nâng cao mức an toàn
vốn tương tự như một “tấm đệm” giúp các NHTM chống các “cú sốc” từ môi trường kinh
doanh biến động.
22
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ CÁC THÔNG TƯ CỦA NHNN QUY ĐỊNH
VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN ĐỐI VỚI NHTM TẠI VIỆT NAM
3.1 Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam trước khi Thông tư 13 được
ban hành
Từ sau năm 1986, với sự mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có
những chuyển biến tích cực. Song hành với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống tài chính,
bao gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, mà theo Basel I thì, đó thực chất chỉ
mới là vốn cấp 1, một phần trong vốn tự có bên cạnh vốn cấp 2. Mức yêu cầu tỷ lệ tối thiểu
vốn cấp 1 trong Basel I chỉ là 4%. Do vậy, Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN đã vô hình
trung áp đặt mức an toàn vốn rất cao cho các ngân hàng. Vì thế, không có ngân hàng nào
đáp ứng được tiêu chuẩn đó.(3)
Những quy định còn bất cập và chưa phù hợp đó đã dần được Ngân hàng Nhà nước
điều chỉnh và sửa đổi. Ngày 19/04/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết
định số 457/2005/QĐ-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng. Những nội dung chưa hợp lý như quy định về vốn tự có trong Quyết định số
297/1999/QĐ-NHNN trước đây đã được sửa đổi cho phù hợp. Bên cạnh đó, trong Quyết
định này, Ngân hàng Nhà nước đã tách bạch giữa hoạt động của ngân hàng thương mại và
hoạt động của ngân hàng đầu tư. Chức năng chính của các ngân hàng thương mại là thanh
toán, huy động vốn và cấp tín dụng cho vay, còn hoạt động thuộc về lĩnh vực đầu tư, chứa
đựng nhiều rủi ro như kinh doanh chứng khoán thuộc về lĩnh vực của ngân hàng đầu tư. Sự
phân định này giúp hệ thống ngân hàng phần nào thêm tính an toàn và ổn định.
Ngày 22/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định về
danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Theo đó, vốn điều lệ tối thiểu các
ngân hàng được yêu cầu ở mức 3000 tỷ đồng. Quy định này cộng với hệ số an toàn vốn tối
thiểu 8% được quy định trong Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN nhằm siết chặt hơn hoạt
động tín dụng của các ngân hàng.
24
Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống tín dụng lại dần bộc lộ nhiều rủi ro, yếu kém trong
quá trình phát triển của nó theo đà hội nhập và phát triển kinh tế nước nhà.
Hệ thống ngân hàng mở rộng một cách nhanh chóng với một loạt các ngân hàng vừa và
nhỏ được thành lập, trong đó, rất nhiều ngân hàng có vốn điều lệ chưa đạt mức 3000 tỷ
đồng. Các hoạt động tín dụng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Giữa các ngân hàng đã
xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt về nguồn vốn huy động và cấp tín dụng cho vay.
Với uy tín có sẵn và mạng lưới chi nhánh rộng lớn, các ngân hàng lớn có lợi thế về mặt
huy động vốn, do đó, nguồn vốn huy động được là rất lớn, trong khi khả năng cho vay cũng
dừng ở một chừng mực nào đó, nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn.