phân tích thực trạng ứng dụng hiệp ước Basel III về đảm bảo thanh khoản tại các ngân hàng Việt Nam - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Khả năng thanh khoản, hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài
sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn là điểm cực kỳ quan trọng đối với sự tồn
tại của bất kỳ ngân hàng nào. Vì vậy, quản lý khả năng thanh khoản là một trong những
hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng. Quản lý khả năng thanh khoản tốt sẽ giúp
giảm xác suất xảy ra những tổn thất nghiêm trọng. Tầm quan trọng của khả năng thanh
khoản thực sự vượt ra khỏi phạm vi của những ngân hàng đơn lẻ vì sự suy giảm khả năng
thanh khoản tại một ngân hàng có thể có ảnh hưởng tới toàn hệ thống. Vì lý do đó, việc
phân tích khả năng thanh khoản đòi hỏi các bộ quản lý ngân hàng không chỉ đo lường
khả năng thanh khoản của ngân hàng một cách liên tục mà còn nghiên cứu xem các yêu
cầu cấp vốn có khả năng diễn biến như thếnào trong những hoàn cảnh khác nhau bao
gồm cả những điều kiện bất lợi.
Trong các công việc về giám sát khả năng thanh khoản, Ủy ban Basel đã nỗ lực
mở rộng cách hiểu về cách thức một ngân hàng quản lý khả năng thanh khoản của mình ở
phạm vi toàn cầu trên cơ sở bù trừ các giao dịch trong nội bộ. Những tiến bộ gần đây về
phương diện tài chính và công nghệ đã cung cấp cho các ngân hàng những phương pháp
mới để cấp vốn cho các hoạt động của mình và quản lý khả năng thanh khoản. Ngoài ra,
sự suy giảm khả năng chỉ trông cậy vào hoạt động nhận tiền gửi , sự tăng cường các
nguồn vốn bán buôn cùng những xáo trộn gần đây trên thị trường tài chính toàn cầu đã
thay đổi cách thức các ngân hàng nhìn nhận về khảnăng thanh khoản. Những thay đổi
này cũng đặt ra những thách thức mới cho các ngân hàng.
Tính chính thức và mức độ tinh vi của quá trình quản lý khả năng thanh khoản phụ
thuộc vào quy mô và mức độ phát triển của ngân hàng cũng như bản chất và mức độ
phức tạp của hoạt động của ngân hàng đó. Tùy nội dung của tài liệu này tập trung vào các
ngân hàng lớn nhưng các nguyên tắc có thể áp dụng cho tất cả các ngân hàng.
1
I. TỔNG QUAN VỀ BASEL
1. Quá trình ra đời của Hiệp ước vốn Basel
Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những
dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Nhằm củng cố hoạt động và
tạo ra một cơ chế cạnh tranh bình đẳng của hệ thống ngân hàng, Uỷ ban Basel về giám

hoạt động quốc tế. Thời đó, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và
cơ quan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì
vậy, mức rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo
rủi ro của ngân hàng. Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi
ro tín dụng của ngân hàng đó. Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ
ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động
kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996,
Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường.
Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường
cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có sự
biến động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của
một loại tài sản nhất định. Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là
tỷ giá lãi suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Rủi ro thị trường có thể được tính
theo 2 phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các mô hình giá
trị chịu rủi ro nội bộ của các ngân hàng. Những mô hình nội bộ này chỉ có thể được sử
dụng nếu ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn định tính và định lượng được quy định
trong Basel.
Mục đích của Basel I:
Chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa nhằm củng cố sự ổn
3
định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế.
Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh
không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Thành tựu của Basel I:
(i) Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung
nhất về vốn của ngân hàng. Theo đó, vốn của ngân hàng được chia làm 2 loại: Vốn cấp 1,
Vốn cấp 2. Trong đó: Vốn tự có = Vốn cấp 1+Vốn cấp 2.
Vốn cấp 1 (vốn cơ bản) là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố,
như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ
công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có

(hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với
rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn
toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp. Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm
nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng.
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp
cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này
cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ
thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp
ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).
Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân
hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục
rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó. Thứ hai, các
giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của
ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát
viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả
của quy trình này. Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao
hơn mức tối thiểu theo quy định. Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để
5
đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể
yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.
(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo
nguyên tắc thị trường. Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng
phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến
những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro
thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro
này.
Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra,
các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch
hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu
được rủi ro.

cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Đó là:
- Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có thể
được chấp nhận rộng rãi.
- Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu lỳ kinh
doanh.
- Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm dịch vụ
có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao.
Mới đây, lãnh đạo hàng đầu của các nền kinh tế thuộc G20 đã hối thúc Ủy ban
Basel đưa ra biện pháp cải thiện chất lượng và số lượng vốn của các ngân hàng và thắt
chặt yêu cầu thanh khoản (Basel III) để các ngân hàng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng
và ngăn khủng hoảng tài chính lặp lại mà không cần đến hỗ trợ từ chính phủ. Theo dự
thảo đưa ra tại G20, đến cuối năm 2012, Basel khuyến cáo các nước cần áp dụng tiêu
chuẩn mới về vốn và đưa ra các biện pháp linh hoạt hơn để khuyến khích các ngân hàng
thay đổi. Hiệp định Basel III được thống đốc các ngân hàng trung ương và các cơ quan
quản lý ngân hàng 27 thành viên (gồm Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc,
Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico,
Hà Lan, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ,
7
Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ) ký kết hôm 12/9/2010 tại Thành phố Basel, Thụy Sỹ. Basel III
với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu cao hơn, cùng phương
pháp giám sát an toàn vĩ mô được đánh giá là sự thay đổi lịch sử trong quy định về hoạt
động ngân hàng. Trong đó, hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) được giữ nguyên ở mức
8%, nhưng Basel III yêu cầu vốn chủ sở hữu (vốn cấp 1) của các ngân hàng phải nâng từ
4% lên 6%. Trong 6% vốn cấp 1 đó, 4,5% phải là vốn của các cổ đông phổ thông. Bên
cạnh đó, những tài sản “Có” với chất lượng vốn có vấn đề cũng sẽ được loại trừ dần khỏi
vốn cấp 1 và vốn cấp 2, như các khoản đầu tư vượt quá giới hạn 15% vào các tổ chức tài
chính. Đặc biệt, Basel 3 yêu cầu áp dụng bổ sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở
mức 3%. Đây là tỷ lệ của vốn cấp 1 so với tổng tài sản có cộng với các khoản mục ngoại
bảng. Việc áp dụng thử nghiệm tỷ lệ này cho phép Ủy ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ
đòn bẩy thực của các ngân hàng theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về

dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng;
d) Phần chênh lệch dương giữa số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng gửi có
kỳ hạn đến hạn thanh toán gửi tại các tổ chức tín dụng khác, trừ Ngân hàng Chính sách
Xã hội và số dư tiền gửi có kỳ hạn, giá trị sổ sách của vàng có kỳ hạn đến hạn thanh toán
của các tổ chức tín dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng;
đ) Giá trị sổ sách của các loại trái phiếu, công trái do Chính phủ Việt Nam, chính phủ
9
hoặc ngân hàng trung ương các nước thuộc OECD phát hành hoặc được Chính phủ Việt
Nam, chính phủ hoặc ngân hàng trung ương các nước thuộc OECD bảo lãnh thanh toán;
e) Giá trị sổ sách của tín phiếu Kho Bạc, tín phiếu do Ngân hàng Nhà nước phát hành;
g) Giá trị sổ sách của trái phiếu do chính quyền địa phương, công ty đầu tư tài chính địa
phương, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành;
h) Giá trị sổ sách của các chứng khoán được niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán
tại Việt Nam, nhưng tối đa không vượt quá 5% tổng Nợ phải trả;
i) Giá trị sổ sách của các loại chứng khoán, giấy tờ có giá khác được Ngân hàng Nhà
nước chấp nhận cho tái chiết khấu hoặc lưu ký, giao dịch thực hiện nghiệp vụ thị trường
tiền tệ.
1.2. Tổng Nợ phải trả được xác định bằng số dư trên khoản mục Tổng nợ phải trả.
2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp
theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp
theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và
đồng đô la Mỹ (bao gồm đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi
sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày).
2.1. Tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau bao
gồm:
a) Số dư tiền mặt tại quỹ cuối ngày hôm trước;
b) b) Giá trị sổ sách của vàng cuối ngày hôm trước, kể cả vàng gửi tại Ngân hàng Nhà
nước, tổ chức tín dụng khác;
c) Số dư tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (trừ tiền gửi dự trữ bắt buộc), tiền gửi không
kỳ hạn tại tổ chức tín dụng khác cuối ngày hôm trước;

g) Giá trị các cam kết cho vay không hủy ngang đối với khách hàng đến hạn thực hiện
trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau;
h) Giá trị các cam kết bảo lãnh vay vốn đối với khách hàng đến hạn thực hiện trong 7
ngày tiếp theo, kể từ ngày hôm sau;
i) Giá trị các cam kết bảo lãnh thanh toán, trừ phần giá trị được bảo đảm bằng tiền, đến
hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo, kể từ ngày hôm sau;
k) Các khoản tiền lãi, phí đến hạn phải trả vào từng ngày trong 7 ngày tiếp theo, kể từ
ngày hôm sau.
12
III. ÁP DỤNG BASEL III ĐỂ ĐẢM BẢO THANH KHOẢN TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
1. Sự cần thiết của Basel III trong hoạt động của các ngân hàng Việt Nam
Những lí do khiến hệ thống NHTM Việt Nam cần phải ứng dụng Basel III vào hoạt động
đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng, đó là:
Thứ nhất, hoạt động của ngân hàng không còn bó buộc trong phạm vi một quốc gia
mà trải rộng ra nhiều quốc gia, nhiều khu vực với những danh mục sản phẩm dịch vụ đa
dạng. Trên thực tế, nhiều NHTM Việt Nam đã và đang tìm cách mở chi nhánh của mình
ở nước ngoài nhằm tăng tính chủ động trong hoạt động đồng thời tận dụng tốt thị trường
tiềm năng trên thế giới. Khi đã lực chọn mở chi nhánh ngân hàng tại quốc gia khác thì
phải tuân theo pháp luật hiện hành của họ, không thể chỉ gữ riêng theo pháp luật Việt
Nam.
Thứ hai, trong thời gian tới, hoạt động của ngân hàng nước ngoài dự báo sẽ phát
triển mạnh trên lãnh thổ Việt Nam, việc kiểm soát để hạn chế đến mức tối đa rủi ro cho
toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng như bảo vệ quyền lợi của những người gửi
tiền là hết sức cần thiết. Nếu không có quy định luật phát đi trước một bước thì khi chậm
chân hơn, hệ thống ngân hàng chúng ta sẽ phải nhận những hậu quả có thể rất năng nề.
Thứ ba, hoàn thiện theo các chuẩn mực quốc tế sẽ giúp các ngân hàng có thể so sánh
và đánh giá một cách chính xác, khách quan nhất về những điểm yếu và bất lợi. Điều này
sẽ giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững và an toàn hơn.
Với những lý do trên, việc hướng đến ứng dụng Basel nói chung và Basel III nói

thanh khoản cao cấp độ 1. Tuy nhiên như chúng ta đã thấy, khi môi trường thắt chặt thì
14
những hoạt động kiếm tiền chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tức là tính thanh khoản đẩy lợi suất loại
này lên cực cao, ngân hàng cũng mất thanh khoản.
Vấn đề tiếp từ định nghĩa đó là cách hiểu tài sản " Nợ" phải thanh toán trong vòng 30
ngày. Nó không chỉ dừng lại ở giá trị sổ sách vì nó còn phụ thuộc vào lãi suất của từng
loại tài sản, tức là dòng tiền ròng sẽ tăng lên nếu tỷ lệ lãi suất cao ( như repo, các khoản
nhận tiền gửi với kinh phí khác nhau, tiền vay liên ngân hàng, ).
Theo Cơ quan giám sát cao nhất thuộc Basel GHOS, các nhà giám sát sẽ xem xét
khả năng cho phép các ngân hàng tính dự trữ bắt buộc tại NHTW vào LCR, tiếp tục đánh
giá cách thức LCR tương tác với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản của NHTW.
Bên cạnh điểm tích cực, một số chuyên gia vẫn băn khoăn về hiệu lực của thỏa thuận
đạt được. Một số nước đã đưa ra cam kết để tuân thủ thỏa thuận này, nhưng không dễ
chuyển lời nói thành hành động, trong bối cảnh sản xuất đình đốn và các ngân hàng ngại
cho vay nhằm hạn chế rủi ro.
Qui định cuối cùng về LCR đang cản trở nguyên tắc cho phép các ngân hàng sử
dụng nợ quốc gia để đáp ứng các nghĩa vụ LCR, nếu các trái phiếu được sử dụng để giải
phóng rủi ro theo qui định về vốn liên ngân hàng.
Từ năm 2010, Các ngân hàng được phép sử dụng tiền mặt và trái phiếu chính phủ để đáp
ứng LCR tùy theo qui định về chất lượng của nợ quốc gia, các ngân hàng cũng có thể sử
dụng nợ doanh nghiệp chất lượng cao hay trái phiếu có bảo đảm để đáp ứng 40% yêu cầu
LCR.
Thỏa thuận mới đạt được mở rộng giới hạn nợ doanh nghiệp mà các ngân hàng có
thể sử dụng, cho phép tính thêm một số chứng khoán hạng thấp, các ngân hàng cũng có
thể được phép sử dụng một số cổ phiếu và chứng khoán cầm cố nhà ở hạng cao. Do chất
lượng thấp, nên chứng khoán tăng thêm sẽ dễ giảm giá hơn so với những loại chứng
khoán ưu đãi theo qui định năm 2010 về LCR, nên các ngân hàng không được phép tính
quá 15% vốn đệm LCR của ngân hàng.
15
Thứ hai là NSFR (Net Stable Funding Ratio = Available Stable Funding

tháng
trở lên
Không kỳ
hạn và
dưới 12
tháng
Từ 12
tháng
trở lên
Các NHTM Nhà nước (không bao gồm
NHNo & PTNT), NHTMCP đô thị, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
liên doanh, công ty tài chính, công ty cho
thuê tài chính
3% 1% 8% 6%
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
1% 1% 7% 5%
NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác,
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương 1% 1% 7% 5%
TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ
bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ
sở, Ngân hàng Chính sách xã hội
0% 0% 0% 0%
(Nguồn: Văn bản số 1925/QD-NHNN 26/8/2011)
Còn theo quy định mới của Basel III, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng
có hoạt động quốc tế là 7% so với tiêu chuẩn 2% theo Basel II. Như vậy quy định của
NHNN đã phù hợp với chuẩn của Basel đối với các nguồn vốn bằng ngoại tệ. Tại Việt
Nam hiện tại chỉ có một số ít các ngân hàng có chi nhánh hoạt động ở nước ngoài như
BIDV, Agribank, MB, Sacombank, Vietinbank. Hầu hết các ngân hàng đều hướng đến

hướng giảm mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát.”
Với tình hình lạm phát giảm như hiện nay thì việc xem xét gỡ bỏ trần lãi xuất huy
động sẽ khiến cho các ngân hàng có thể huy động được các nguồn vốn mới từ công
chúng chứ không phụ thuộc quá lớn vào thị trường liên ngân hàng như những gì đã diễn
ra. Bên cạnh đó, hiện nay các ngân hàng cũng đang tự nguyện cắt giảm lãi suất huy động,
điều này sẽ khiến cho lãi suất cho vay cũng giảm theo, các doanh nghiệp có thể tiếp cận
được nguồn vốn rẻ để cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó sẽ làm tăng hoạt
động tín dụng đặc biệt là dài hạn và từ đó sẽ giảm được tình hình thanh khoản cũng như
nợ xấu.
2. Nợ xấu
Đây là bản chất của vấn đề thanh khoản ở các ngân hàng thương mại hiên nay, đặc
20
biệt là các ngân hàng thương mại nhỏ. Các khoản nợ xấu này chủ yếu nằm ở lĩnh vực bất
động sản và các lĩnh vực sản xuất có liên quan do sức cầu ở các thị trường này suy giảm
mạnh trong hơn một năm qua. Theo tính toán của NHNN thì chỉ riêng tổng dư nợ bất
động sản là xấp xỉ 200.000 tỉ đồng vào cuối năm 2011. Theo Bộ Xây dựng, đến cuối
tháng 10/2012, tổng dư nợ bất động sản khoảng 207.595 tỷ đồng, trong đó 13,5% là nợ
xấu, tức 28 nghìn tỷ đồng. Bất động sản đóng băng, hàng chục ngàn doanh nghiệp giải
thể; với các lý do: lãi suất quá cao (27,2%), lạm phát cao và thất thường (19,5%), khả
năng tiếp cận vốn khó (17,4%), chi phí vận tải cao (9,7%), điện cung cấp không ổn định
(7%) và chính sách điều tiết kinh tế không ổn định (7%) (Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, 6 tháng đầu năm 2012); đã khiến cho tình trạng nợ xấu đang càng trở nên phức
tạp
Hiện nay tốc độ tăng nợ xấu ở mức báo động, khi chỉ trong 9 tháng đầu năm 2012
đã tăng tới 66% so với cuối năm 2011. Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đến cuối tháng 9 là
8,82% trên tổng dư nợ và ước cả năm vào khoảng 8,5% - 10%.

Biểu đồ IV.2 : Tình hình nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo phân tích ngành - Phương Nam Securities)
Nợ xấu có tài sản đảm bảo bằng bất động sản và bất động sản hình thành trong

BIDV 97.52% 98.52% 110.2% 103.8% 122.2% 112.1%
Vietcombank 68.88% 70.89% 83.76% 86.35% 92.25% 84.79%
MHB 140.0% 133.95% 135.0% 105.7% 112.6% -
Vietinbank 90.68% 99.27% 109.8% 113.7% 114.0% 115.3%
ACB 57.54% 54.24% 71.74% 81.54% 72.29% 82.10%
Sacombank 79.98% 75.89% 98.58% 105.3% 107.2% 89.65%
Đông Á 123.9% 111.13% 122.8% 121.9% 122.0% 107.1%
Techcombank 83.70% 65.16% 87.44% 65.71% 71.58% 61.24%
Exinbank 80.56% 68.76% 99.01% 107.2% 139.1% 106.4%
ABbank 101.2% 91.52% 85.88% 84.74% 98.35% -
HDbank 251.7% 142.39% 87.01% 83.86% 72.54% -
VPbank 104.1% 90.68% 95.90% 105.6% 99.22% 62.01%
MBbank 64.49% 57.95% 74.01% 74.22% 65.94% 63.25%
Maritimebank 88.59% 79.44% 7.94% 65.46% 60.60% 48.58%
Nam Á 96.32% 109.2% 111.3% 91.70% 96.88% 78.47%
Nam Việt 71.06% 90.91% 103.4% 100.4% 87.13% 75.19%*
OCB 130.9% 126.5% 136.8% 133.3% 141.3% 112.8%
Oceanbank 194.8% 9262.% 43.59% 41.64% 49.72% -
Đại Á 144.2% 102.2% 89.15% 127.3% 136.7% 125.3%*
Đông Nam Á 102.7% 87.42% 77.97% 82.74% 57.17% -
Kiên Long 141.9% 132.1% 101.6% 107.0% 103.2% 88.80%*
23
PGbank 146.1% 107.5% 90.88% 101.6% 110.8% 111.8%
Saigonbank 113.87% 110.49% 114.63% 115.32% 125.24% 103.3%*
Southernbank 61.53% 105.47% 134.41% 115.32% 105.77% 76.89%
Trustbank 267.11% 80.59% 133.81% 109.39% 106.78% -
VIBank 94.67% 81.94% 84.51% 112.34% 98.48% 86.73%
Việt Á 125.94% 88.25% 111.39% 92.76% 159.76% -
Western 109.78% 158.78% 54.13% 141.47% 70.10% -
Trung bình cộng 115.23% 96.97% 95.45% 99.68% 100.44% 90.17%

Trích đoạn Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status