Phân tính và tìm hiểu hàng rào kỹ thuật trong thương mại - Pdf 26

Chương 1: Khái niệm, phân loại, xu hướng rào cản thương mại :
1.1. Rào cản thương mại là gì ?
a.Khái niệm : Rào cản thương mại có thể hiểu là biện pháp hay hành động gây cản trở đối
với thương mại quốc tế. Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định
bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng
không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ.
b.Theo WTO : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 2 loại là các biện pháp thuế quan
và các biện pháp phi thuế quan
c.Theo Hoa Kỳ : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 9 nhóm cơ bản : Chính sách
nhập khẩu; Tiêu chuẩn, kiểm tra, nhãn mác và chứng nhận; Mua sắm của chính phủ; Trợ cấp
xuất khẩu; Bảo hộ sở hữu trí tuệ; Các rào cản dịch vụ; Các rào cản đầu tư; Các rào cản chống
cạnh tranh; Các rào cản khác(tham nhũng, hối lộ, …)
1.2 Phân loại rào cản
Dựa trên cách tiếp cận của tổ chức WTO rào cản trong thương mại quốc tế được chia
thành 2 loại : Rào cản thuế quan (TARIFF) và Rào cản phi thuế quan (Non TARIFF)
1. Rào cản thuế quan : có 3 loại thuế quan phổ biến
như sau.
a. Thuế phần trăm : Được đánh theo tỉ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập
khẩu.Đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất nhưng nhìn chung còn ở mức cao.
b. Thuế phi phần trăm : Bao gồm 3 loại, được áp dụng chủ yếu cho hàng nông sản.
• Thuế tuyệt đối : Thuế xác định bằng một khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập
khẩu.
• Thuế tuyệt đối thay thế : Quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần trăm hay thuế
tuyệt đối.
• Thuế tổng hợp : Là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối
• Thuế quan đặc thù :
+Hạn ngạch thuế quan : là một biện pháp quản lý nhập khẩu với 2 mức thuế suất
nhập khẩu. Hàng hóa trong hạn ngạch thuế quan thì có mức thuế suất thấp còn ngoài
hạn ngạch thuế quan thì chịu mức thuế suất cao hơn
+Thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp xuất khẩu) : đánh vào sản phẩm nhập khẩu
để bù lại việc nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ

doanh xuất nhập khẩu nào đó.
d. Các thủ tục hải quan : khi nó quá phức tạp, chậm chạp thì sẽ trở thành các rào cản, như là
quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan…
2
e. Rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế : là các quy định và tiêu chuẩn kĩ thuật, các quy
định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn.
f. Các biện pháp vệ sinh động thực vật : bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu cầu, và
thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng, các quá trình và phương pháp sản
xuất thử nghiệm… liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm.Đây là một trong những loại
rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi.
g. Các quy định về thương mại dịch vụ : như quy định vềthanh toán và kiểm soát ngoại tệ,
quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại… đều có thể trở thành rào cản trong
thương mại quốc tế nếu chúng không minh bạch và có sự phân biệt đối xử.
h. Các quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại như lĩnh vực không hoặc chưa cho
phép đầu tư nước ngoài… nhằm phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước
với doanh nghiệp nước ngoài.
i. Các quy định chuyên ngành về các điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông và phân phối
các sản phẩm được xác định trong các hiệp định của WTO như : Hiệp định nông
nghiệp, Hiệp định về hàng dệt may và may mặc…
j. Các quy định về sở hữu trí tuệ : như là quy định về xuất xứhàng hóa, thương hiệu hàng
hóa, kiểu dáng công nghiệp…
k. Các quy định về bảo vệ môi trường bao gồm :
+ Quy định về môi trường bên ngoài biên giới theo hiệp ước hoặc công ước quốc tế.
+Quy định trực tiếp về môi trường trong lãnh thổ quốc gia
+ Quy định liên quan trực tiếp đến môi trường nhưng thuộc mục tiêu đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm
l. Các rào cản về văn hóa : sự khác biệt về văn hóa và cách nhìn nhận, đánh giá về giá trị đạo
đức xã hội…
m. Các rào cản địa phương : ở một số nước, luật lệ của Chính phủ trung ương cũng có sự
khác biệt so với các quy định mang tính địa phương.

1.5 Phân loại TBT và hệ thống TBT:
*** Phân loại:
1. Rào cản phi thuế quan:
4
Là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính để phân biệt
đối xử chống lại sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá trong nước. Các
nước công nghiệp phát triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích của
người tiêu dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuế quan để
giảm thiểu lượng hàng hoá nhập khẩu.
Nhật Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Pháp không cho nhập
khẩu thịt bò mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng chất tăng trọng. Tháng 2/2002 EU loại
Trung Quốc ra khỏi danh sách các nước được phép xuất khẩu thuỷ sản vào khu vực do nước
này không đáp ứng được yêu cầu kiểm soát dư lượng kháng sinh Cloramphenicol.
2. Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barrier to Trade ):
Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh
doanh, điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường.
*** Hệ thống TBT gồm có:

Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng. ISO 9001:2000 đề cập chủ yếu đến
các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
(UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ:
 Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
 Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viên trong doanh nghiệp.
 Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế.
 Gia tăng thị phần, diện tích, lợi nhuận và phát triển bền vững.
Trong thực tế, sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận phù hợp
với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường các nước phát triển.

Hệ thống quản trị môi trường ISO 14001:2000

18 hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được xây dựng và thực thi. Theo Hiệp
định TBT, hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như Tiêu chuẩn và Văn bản
quy phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật; quy trình đánh giá sự phù hợp. Đây là
hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm
kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường.
6
Hiệp định này ra đời nhằm đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn, các trình tự đánh giá
chất lượng, hợp chuẩn mà các thành viên WTO tiến hành không tạo ra các trở ngại không
cần thiết đối với hoạt động thương mại.
Hiệp định này thừa nhận rằng các nước có quyền chấp thuận các quy định kỹ thuật có
mô tả các tiêu chuẩn bắt buộc của sản phẩm (trong đó có các yêu cầu về đóng gói và ghi
nhãn). Ngoài một số mục đích khác, các quy định này được ban hành để đảm bảo chất lượng
của hàng hóa xuất khẩu bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người, động vật và thực vật.
Hiệp định này yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo rằng các quy định kỹ thuật của họ
đáp ứng được một số yêu cầu sau:
- Các quy định kỹ thuật cần phải áp dụng trên cơ sở MFN đối với hàng hóa nhập khẩu
từ tất cả các nguồn;
- Các quy định kỹ thuật không được đối xử đối với hàng hoá nhập khẩu kém ưu đãi
hơn so với các hàng hóa được sản xuất trong nước (nguyên tắc đối xử quốc gia);
- Các quy định kỹ thuật không được xây dựng và áp dụng bằng cách thức có thể gây ra
“trở ngại không cần thiết cho thương mại”
- Các quy định kỹ thuật cần phải dựa trên các thông tin và chứng cứ kỹ thuật.
Hiệp định này cung cụ thể hóa các tiêu chuẩn mà các cơ quan quản lý phải đáp ứng
trong quá trình xây dựng các quy định kỹ thuật, để đảm bảo các quy định này không tạo ra
các cản trở không cần thiết đối với thương mại.
***Mục tiêu của Hiệp định
- Thúc đẩy các mục tiêu của hiệp định chung về hàng rào thuế quan
- Khẳng định vai trò quan trọng trong các tiêu chuẩn và các hệ thống quốc tế về đánh
giá sự phù hợp trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh thương mại
7

quan chính phủ trung ương ban hành
Điều 3 : Xây dựng, ban hành và áp dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật do các cơ
quan nhà nước địa phương và tổ chức phi Chính phủ ban hành
Điều 4 : Xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn
Điều 5 : Các quy trình đánh giá sự phù hợp do các cơ quan nhà nước trung ương thực
hiện
Điều 6 : Thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp bởi các cơ quan nhà nước trung
ương
Điều 7 : Quy trình đánh giá sự phù hợp do các cơ quan nhà nước địa phương thực
hiện
Điều 8 : Các quy trình đánh giá sự phù hợp do các tổ chức phi chính phủ thực hiện
Điều 9 : Các hệ thống quốc tế và khu vực
Điều 10 : Các thông tin về các văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình
đánh giá sự phù hợp
Điều 11 : Trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên khác
Điều 12 : Đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước thành viên đang phát triển
Điều 13 : Uỷ ban về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Điều 14 : Tham vấn và giải quyết tranh chấp
Điều 15 : Điều khoản cuối cùng
- Bảo lưu
- Soát xét
Phụ lục 1 (của Hiệp định TBT) : Thuật ngữ và định nghĩa của Hiệp định này
1. Pháp quy kỹ thuật
2. Tiêu chuẩn
3. Các quy trình đánh giá sự phù hợp
4. Tổ chức hoặc hệ thống quốc tế
9
5. Tổ chức hoặc hệ thống khu vực
6. Cơ quan Chính phủ trung ương
7. Cơ quan Chính phủ ở địa phương

đương.
Ngoài ra, Hiệp định SPS còn có một số yêu cầu quan trọng khác, trong đó đáng chú ý
là:
- Thứ nhất, Hiệp định SPS cho phép các tiêu chuẩn được áp dụng trên cơ sở phân biệt
đối xử nếu chúng “không phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện và không chính đáng giữa các
thành viên có các điều kiện giống hoặc tương tự như nhau”. Lý do của quy tắc này là do có
sự khác nhau về khí hậu, tỷ lệ xuất hiện của côn trùng hoặc bệnh tật và các điều kiện về an
toàn thực phẩm, không phải lúc nào cung có thể áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ như
nhau cho các sản phẩm động và thực vật có xuất xứ từ các nước khác nhau.
- Thứ hai, Hiệp định SPS dành cho các nước mức độ linh hoạt để tránh né việc áp
dụng các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn mức mà một số hiệp định như Hiệp định TBT cho phép.
- Mặt khác, Hiệp định SPS quy định rằng, một nước có thể áp dụng hoặc duy trì một
biện pháp vệ sinh dịch tễ mà đạt được mức độ bảo vệ về vệ sinh dịch tễ cao hơn so với một
tiêu chuẩn quốc tế nếu có giải trình khoa học hoặc khi nước đó xác định rằng mức độ bảo vệ
cao hơn là cần thiết. Đối với lý do sau, Hiệp định này đưa ra một số hướng dẫn. Hiệp định
này quy định rằng mức độ bảo hộ thích hợp cần phải dựa trên đánh giá về rủi ro phù hợp với
các hoàn cảnh, các chứng cứ khoa học sẵn có, các quy trình và các phương pháp sản xuất có
liên quan, và sự tồn tại của các dịch bệnh hoặc trùng bệnh cụ thể.
11
- Thứ ba, trong khi đánh giá những rủi ro đối với cuộc sống hoặc sức khỏe của động
hoặc thực vật, cần phải xem xét các yếu tố về kinh tế như sự hình thành và lan truyền của
côn trùng hoặc dịch bệnh, các chi phí cho việc kiểm soát hoặc loại trừ chúng ở các nước
thành viên nhập khẩu; và tính hiệu quả về chi phí có liên quan của các biện pháp tuỳ chọn để
hạn chế các rủi ro.
- Thứ tư, trong khi xác định mức độ bảo vệ thích hợp về vệ sinh dịch tễ, cần tính đến
mục tiêu của việc giảm thiểu các ảnh huởng tiêu cực đối với thương mại.
- Thứ năm, Hiệp định SPS cho phép các nước chấp nhận các biện pháp vệ sinh dịch tễ
trên cơ sở tạm thời như một hành động ngăn ngừa trong các trường hợp sắp xảy ra rủi ro của
việc lan truyền bệnh dịch nhưng không có các “chứng cứ khoa học” đầy đủ.
***Các nguyên tắc chính của Hiệp định SPS

xây dựng các biện pháp SPS.
Mỗi thành viên WTO đều có quyền quyết định mức độ bảo vệ phù hợp cho riêng
mình .Tuy nhiên, khi đưa ra quyết định đó các nước thành viên WTO phải tính đến mục tiêu
giảm thiểu tác động tiêu cực tới thương mại. Ngoài ra, các thành viên WTO buộc phải áp
dụng nhất quán khái niệm về mức độ bảo vệ phù hợp; tức là họ phải đảm bảo “không áp
dụng tùy tiện và thiếu căn cứ” dẫn đến “hậu quả là sự phân biệt đối xử hay vô hình trung hạn
chế thương mại quốc tế”.
Đánh giá rủi ro:
Hiệp định SPS yêu cầu các thành viên WTO khi xây dựng các biện pháp SPS của
mình trên cơ sở đánh giá rủi ro, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Trong việc thực hiện
các đánh giá rủi ro, các thành viên WTO được yêu cầu xem xét đến các biện pháp kỹ thuật
được các tổ chức quốc tế liên quan xây dựng như đã trình bày ở trên.
13
Lý do mà các thành viên WTO tiến hành đánh giá rủi ro là để quyết định các biện
pháp SPS cần áp dụng cho một mặt hàng nhập khẩu nhằm đạt được mức độ bảo vệ phù hợp
của mình. Tuy nhiên, những biện pháp SPS mà một nước thành viên WTO áp dụng không
được hạn chế thương mại nhiều hơn so với yêu cầu nhằm đạt được mức độ bảo vệ phù hợp
riêng và phải xem xét tính khả thi cả về mặt kỹ thuật lẫn về mặt kinh tế.
Tính minh bạch:
Nguyên tắc chính về tính minh bạch trong Hiệp định SPS là yêu cầu các nước thành
viên WTO phải cung cấp thông tin về các biện pháp SPS và thông báo những thay đổi về các
biện pháp SPS của mình. Các nước thành viên WTO cũng được yêu cầu công bố các quy
định về SPS của mình. Những thông báo này cần được thực hiện thông qua một Cơ quan
thông báo của quốc gia. Mỗi nước thành viên WTO cũng cần chỉ định một đầu mối quốc gia
cung cấp các thông tin liên quan nhằm giải đáp những thắc mắc về SPS của các nước thành
viên WTO khác. Một cơ quan có thể thực hiện cả hai chức năng là thông báo và hỏi đáp.
***Phân biệt các biện pháp TBT và các biện pháp SPS :
Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên
cạnh các “biện pháp kỹ thuật” (TBT), các nước còn duy trì nhóm các “biện pháp kiểm dịch
động thực vật” (SPS). Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này.

nước tham gia Hiệp định phải chấp hành.
Trước tiên, các bên cam kết không tạo ra các hàng rào về kỹ thuật đối với thương mại
bằng cách phải minh bạch hóa các quy định theo các nguyên tắc xây dựng chung; phân định
rõ các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định kỹ thuật; hàng hóa phải được đối xử bình đẳng; xây
dựng hệ thống phân phối hỏi đáp thông tin về các yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm hàng
hóa ở mỗi nước; các hàng hóa chỉ có thể thiết lập các yêu cầu kỹ thuật khi liên quan đến vệ
sinh, an toàn, điều kiện môi trường… Chúng ta hiện chưa có những điều khoản tự bảo vệ
này.Vậy bắt đầu như thế nào? Theo một số chuyên gia, mục đích rào cản đối với thương mại
chủ yếu bảo vệ người tiêu dùng khỏi các sản phẩm hàng hóa kém chất lượng, không đảm bảo
an toàn, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường… Đồng thời, đây cũng là các rào cản “hợp lý”
nhằm hạn chế nhập khẩu, trong đó hạn chế nhập khẩu hàng hóa không đạt tiêu chuẩn từ các
nước, tăng chi phí kiểm tra và kiểm định hàng hóa cũng như các chi phí lưu kho, bảo quản
15
làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu. Vấn đề còn lại chính là phương thức tạo
ra các rào cản này sao cho hợp với quy định chung của Hiệp định TBT.
Thực tế như Nhật Bản thường áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao với những bộ tiêu
chuẩn riêng không theo hệ thống ISO khiến cho hàng hóa các nước muốn vào thị trường này
sẽ bị kiểm tra rất gắt gao.
Ở Hoa Kỳ, các tiêu chuẩn về môi trường cực kỳ khắt khe, các yêu cầu về an toàn
trong sử dụng. Với EU, các tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng như các chỉ tiêu về tồn dư hóa
chất, thuốc bảo vệ thực vật… Còn thực tế ở nước ta trong thời gian qua, các bộ Tiêu chuẩn
Việt Nam được ban hành hầu như không còn phù hợp với xu thế phát triển nhanh về công
nghệ, yêu cầu bảo vệ môi trường.
Việc chỉnh sửa và nâng các bộ tiêu chuẩn này cũng như ban hành thêm các tiêu chuẩn
mới hiện hết sức cần thiết, song khối lượng công việc này cũng rất nhiều. Tại Bộ Công
nghiệp, chỉ sơ bộ rà soát toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật cho 4 ngành hóa
chất, thép, thiết bị điện và dệt may, thì trong hàng trăm tiêu chuẩn kỹ thuật của mỗi ngành đã
có hàng chục tiêu chuẩn không còn tương thích, gần cả trăm tiêu chuẩn cần xây dựng mới
trong giai đoạn tới.
Đơn cử trong ngành thép, rà soát 250 tiêu chuẩn kỹ thuật, có đến 26 tiêu chuẩn không

- Metronidazole
- Các nitrofuran, bao gồm cả furazolidone
- Ronidazole.
Ngày 19/9/2001, EU ra quyết định số 699/EU về tăng cường kiểm tra dư lượng kháng
sinh trong tôm nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam. Tháng 1/2002, EU quy
định chỉ cho phép nhập khẩu lô hàng thuỷ sản nào có dư lượng kháng sinh chloramphenicol
từ 0,3 ppb (phần tỷ) trở xuống. Tháng 3/2002, EU chính thức thông báo phát hiện ra hàng
thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này có hoá chất nitrofuran, do đó quyết định áp
dụng các biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt ở cả 2 chỉ tiêu là dư lượng kháng sinh
chloramphenicol và hoá chất nitrofuran đối với 100% các lô hàng xuất khẩu từ Việt Nam.
Tính đến cuối tháng 7/2002 đã có 66 lô hàng thuỷ sản các loại của Việt Nam bị phát hiện
nhiễm các kháng sinh và hoá chất trên.
Quy định mới của EU rõ ràng đang gây những khó khăn lớn cho xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam. Trước đây, EU đã công nhận phương pháp và thiết bị kiểm tra dư lượng
chloramphenicol của Việt Nam cũng như chấp nhận hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam
18
vào EU phải có hàm lượng chloramphenicol dưới 1,5 ppb. Các phòng kiểm nghiệm tại các
chi nhánh của Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (Nafiqacen) hiện tại chỉ
mới phân tích được chất chloramphenicol ở mức thấp nhất là 1,5 ppb, còn về nitrofuran thì
chưa có phòng thí nghiệm nào ở Việt Nam có khả năng phân tích được. Hiện nay, công tác
quản lý việc sử dụng các chất kháng sinh, hoá chất ở nước ta còn rất yếu kém, hầu hết nông
dân nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản cũng như các đại lý thu gom nguyên liệu chưa được
hướng dẫn về sử dụng kháng sinh và hoá chất, các doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm
chỉnh các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của ngành. Điều đó khiến cho khi gặp các
tiêu chuẩn khắt khe, thuỷ sản Việt Nam khó đáp ứng được.
Khi có lô hàng bị phát hiện có dư lượng kháng sinh và hoá chất cao hơn mức quy
định, thiệt hại đầu tiên đối với doanh nghiệp xuất khẩu là mất trắng tiền hàng do lô hàng đó
không bán được nữa. Nghiêm trọng hơn, EU đã thông báo sẽ tịch thu và tiêu huỷ những lô
hàng đó thay vì trả về cho chủ hàng như trước đây, chủ hàng phải trả chi phí lưu kho và tiêu
huỷ (khoảng 7.100 USD/container).

người tiêu dùng chưa quen với tên sản phẩm mới.
2.1.2. Đối với hàng may mặc :
Mấy năm gần đây, ngày càng nhiều sản phẩm dệt- may của Trung Quốc bị khách
hàng từ chối hoặc phải bồi thường do không phù hợp với những tiêu chuẩn “xanh” - tiêu
chuẩn ra đời từ rào cản thương mại “xanh” greentrade barrier.
Nói tới hàng may mặc “xanh” là nói tới các sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn
sinh thái quy định, an toàn về sức khoẻ đối với người sử dụng và không gây ô nhiễm môi
trường trong sản xuất. Nếu như tình trạng trên đã xảy ra đối với hàng dệt-may của Trung
Quốc, thì tất yếu sẽ xảy ra đối với ngành Dệt- May của Việt Nam và các nước châu Á khác.
Như vậy là, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau khi hạn ngạch dệt- may được rỡ bỏ
và tiêu chuẩn “Eco friendly” được EU áp dụng, thì rào cản thương mại “xanh” là một thách
thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt- may vào các thị trường nói
trên. Cơ hội và thách thức là giống nhau đối với các nước này.
Trong ngành Dệt-May Việt Nam, cho đến nay, việc sản xuất các sản phẩm “xanh”
chưa được quan tâm đúng mức. Một số nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp còn chưa được
20
trang bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu “xanh” đối với các sản phẩm
dệt- may xuất khẩu. Ngoài ra, phần lớn các công ty, xí nghiệp trong dây chuyền nhuộm-
hoàn tất vẫn còn sử dụng một số hoá chất, chất trợ, thuốc nhuộm và các công nghệ gây ô
nhiễm môi trường. Có thể nêu lên vài ví dụ nổi bật sau đây. Trong hồ sợi, ngày càng sử
dụng nhiều PVA làm tăng tải lượng COD (nhu cầu oxy hoá học) trong nước thải và PVA
khó xử lý vi sinh. Nước thải rũ hồ thông thường chứa 4000-8000 mg/l COD. Kỹ thuật “giảm
trọng” polieste bằng kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng lớn terephtalat và
glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần, đưa COD có thể lên tới 80.000 mg/l Trong
thành phần nước thải của các công ty, nhà máy dệt – nhuộm hiện nay, có khoảng 300-400
mg/l COD (đã vượt tiêu chuẩn nước thải loại B 3-4 lần) dự đoán sẽ tăng lên mức 700-800
mg/l và có thể còn tăng hơn nữa trong tương lai.
Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường, trước hết là ô nhiễm nước thải không được
kiểm soát, thì các doanh nghiệp dệt- nhuộm phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng,
phải tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý môi trường, mới đáp ứng được các tiêu chuẩn quy

dụng tiêu chuẩn chất lượng của các nước mà họ định xuất khẩu hàng hóa của mình sang
nhưng họ lại không đầu tư cho việc mua thiết bị, máy móc để thử nghiệm, đó cũng là hạn
chế lớn của các doanh nghiệp.
Hiện nay xu thế các quốc gia chuyển các chất kháng sinh trong thực phẩm từ danh
mục chất hạn chế cấm sang danh mục cấm hoàn toàn đang ngày một trở nên phổ biến.
Trình độ công nghệ, quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, nhiều DNVN khó có
thể áp dụng ngay tiêu chuẩn quốc tế đối với sản phẩm hàng hóa của mình.
DN thiếu thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, đối thủ cạnh tranh hàng hóa
cùng loại, khiến DN khó có những bước đi thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng
hóa của mình, đặc biệt là chất lượng. Môi trường kinh doanh, pháp lý không ổn định và năng
lực quản lý còn yếu là những thách thức của DN.
Trong số 5.600 tiêu chuẩn Việt Nam thì chúng ta mới có khoảng 24% tiêu chuẩn bảo
đảm hài hòa với tiêu chuẩn quy định của quốc tế và khu vực.
2.3 Các hình thức của rào cản thương mại:
2.3.1. Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ
22
Cơ quan chức năng đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu đến kích thước, hình dáng,
thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm. Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm
cuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng
nhận và chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các
phương pháp đánh giá rủi ro liên quan, các yêu cầu về an toàn thực phẩm, … được áp dụng.
Mục đích của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức
khoẻ, đời sống động, thực vật, bảo vệ môi trường, …
Các tiêu chuẩn thường dược áp dụng trong thương mại là HACCP đối với thuỷ sản và
thịt, SPS đối với các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học, …
2.3.2. Các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào, được sử
dụng như thế nào, được vứt bỏ như thế nào, những quá trình này có làm tổn hại đến môi
trường hay không. Các tiêu chuẩn này được áp dụng cho giai đoạn sản xuất với mục đích
nhằm hạn chế chất thải gây ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo.

sản xuất và người tiêu dùng.
2.3.6. Nhãn sinh thái
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết
là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái
được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sản
xuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với
môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó.
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”, có khả năng
cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái do
người tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn. Ví dụ, trên
24
thị trường Mỹ, các loại thuỷ sản có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất
20%, có khi gấp 2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại.
2.4 Một vài qui định về nhập khẩu của Hoa Kì, EU, Nhật Bản:
2.4.1 . MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU HOA KÌ:
Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002 (Public
Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002), gọi tắt là Luật
Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act), do Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush ký
ngày 12/6/2002 đã chỉ định Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân dân tiến hành các biện pháp
cần thiết để đối phó với nguy cơ khủng bố nhằm vào nguồn cung thực phẩm cho Hoa Kỳ.
- Quy định tạm thời của FDA về đăng ký các cơ sở sản xuất/chế biến, bao gói và
bảo quản thực phẩm theo Luật Chống Khủng bố Sinh học.
Để thực hiện Luật này ngày 10/10/2003, FDA đã công bố quy định cuối cùng tạm thời
yêu cầu các sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho người và
động vật tại Hoa kỳ sử dụng phải đăng ký với cơ quan này. Theo qui định này, tất cả các cơ
sở thuộc diện phải đăng ký phải tiến hành đăng ký xong trước ngày 12 tháng 12 năm 2003.
Trong trường hợp có nguy cơ hoặc xảy ra khủng bố sinh học hoặc phát sinh ốm đau
do thực phẩm gây ra, các thông tin đăng ký cơ sở sẽ giúp cho FDA xác định địa điểm và
nguồn gốc sự kiện và thông báo nhanh chóng đến các cơ sở có thể bị ảnh hưởng.
Chỉ các cơ sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status