ĐỀ CƯƠNG
ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
(Dành cho đối tượng là học viên lớp Trung cấp LLCT - HC)
Câu1: Hãy phân tích định nghĩa vật chất của Lê Nin?
Trả lời:
1. Định nghĩa vật chất của Lênin
Tổng kết từ những thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình
về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất như sau:
Định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không phụ thuộc vào cảm giác”.
Ví dụ : Các sự vật như: nguyên tử, phân tử, các thiên hà, siêu thiên hà trong vũ trụ,…các hiện
tượng như mưa, nắng, thuỷ triều,…chúng tồn tại một cách khách quan.
2. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin:
- Vật chất là một phạm trù triết học cho ta thấy vật chất là một pham trù rộng nhất, khái quát nhất,
không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hay
trong đời sống hàng ngày. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất vơi các vật thể cụ thể hay một thuộc
tính nào đó của vật chất.
- Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Thực tại khách quan là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức
của con người. Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phan biệt cái gì là vật
chất, cái gì không phải là vật chất. Tất cả những gì tồn tại bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức, và
đem lại cho chúng ta trong cảm giác, trong ý thức là vật chất.
- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không phụ thuộc
vào cảm giác”. Điểu đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác và ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc
khách quan của cảm giác, ý thức
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh”. Điều này khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới vật
chất.
Như vậy, vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được ý
thức con người phản ánh, do đó về nguyên tắc, không thể có đối tượng vật chất không thể nhậ thức
sức trừu tượng và có tính khái quát cao.Tuy nhiên sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh bởi vì ý
thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.
Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển XH nên về bản chất là có tính XH.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
* Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức:
- Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, là nguồn gốc
sinh ra ý thức.Não người là dạng vật chất có tổ chức cao, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức.Ý
thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách
quan.
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan.Thế
giới khách quan là nguồn gốc của ý thức quyết định nội dung của ý thức.
* Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất.
- Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất có tính năng động sáng tạo nên có thể tác động
trở lại vật chất góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người
- Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con
người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất.
- Ý thức phản ánh ko đúng hiện thực khách quan ở mức độ nhất định có thể kìm hãm hoạt động
thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội.
* Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người:
2
Con người dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan, hiểu biết những qui luật
khách quan từ đó đề ra mục tiêu phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu ấy.
Vai trò tích cực chủ động sáng tạo của ý thức con người trong quá trình cải tạo thế giới hiện thực
được phát triển đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan và các
điều kiện khách quan.
3. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ vật chất - ý thức.
- Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất của các qui luật tự nhiên và XH.
Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm
căn cứ cho hoạt động của mình.
- Phát huy tính năng động chủ quan phát huy vai trò của ý thức nhân tố con người trong việc phản
động thực tiễn. Quan điểm toàn diện đòi hỏi:
+ Khi nhận thức sự vật phải nhận thức trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác; trong
mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố của bản thân sự vật đó.
+ Để cải tạo sự vật trên thực tế phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp.
+ Phải biết phân loại đúng các mối liên hệ, trên cơ sở đó nhận thức đúng và giải quyết để thúc
đẩy sự vật tiến lên.
+ Chống lại quan điểm chiết trung - lắp ghép một cách máy móc vô nguyên tắc những cái trái
ngược nhau vào làm một; chống lại ngụy biện - một kiểu đánh tráo các mối liên hệ một cách có ý thức,
có chủ định.
- Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú cho nên trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
phải tôn trọng quan điểm lịch sử.
- Chống lại quan điểm phiến diện, một chiều trong nhận thức cũng như trong hành động.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi không được bình quân, dàn đều khi xem xét sự vật mà phải có
trọng tâm, trọng điểm.
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm: theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học chỉ khái
quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là mâu thuẫn trong bản thân sự vật.
Quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn đó quy định sự vận động, phát triển của sự vật.
b. Tính chất:
- Phát triển mang tính khách quan: nghĩa là phát triển của sự vật là tự thân, nguồn gốc của
phát triển nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, chỉ phụ thuộc
vào mâu thuẫn bên trong sự vật.
- Phát triển mang tính phổ biến: phát triển diễn ra cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy, diễn ra ở
mọi lúc, mọi nơi.
- Phát triển mang tính đa dạng, phong phú: tức là tuỳ thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các
dạng vật chất mà phát triển diễn ra cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở
sự tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước môi trường; ở khả năng tự sản sinh ra chính mình
với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn.
- Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ con
của phép biện chứng duy vật). Ví dụ, quy luật phủ định của phủ định tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và
tư duy.
Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chia thành:
- Quy luật tự nhiên - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tự nhiên. Ví dụ, quy luật đồng hoá và
dị hoá;
- Quy luật xã hội - nẩy sinh và tác động trong lĩnh vực xã hội. Ví dụ, quy luật đấu tranh giai
cấp trong xã hội có giai cấp;
5
- Quy luật tư duy - nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tư duy. Ví dụ, quy luật kế thừa, v.v.
Vì vậy, Quy luật của phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy. Các quy luật này phản ánh sự vận động, phát triển của sự vật dưới những
phương diện cơ bản nhất. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự
vận động, phát triển của sự vật. Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại chỉ ra cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quy luật phủ định của phủ định
chỉ ra khuynh hướngvận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
II. Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại
1. Khái niệm chất và khái niệm lượng
a. Khái niệm chất: Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự
vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải cái khác; ví
dụ, cái bàn, cái ghế, v.v.
b. Khái niệm lượng: Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành
sự vật.
2. Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất
a. Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất: Mỗi sự vật đều có lượng, chất
và chúng thay đổi trong quan hệ chặt chẽ với nhau. Lượng thay đổi nhanh hơn chất, nhưng không phải
mọi thay đổi của lượng đều ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất.
b. Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng: Chất mới ra đời sẽ tác động
trở lại tới sự thay đổi của lượng mới (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ v.v phát triển của sự vật).
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt
đối lập. Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá
trình vận động, phát triển của sự vật; ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa
những nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó. Vì vậy, thống nhất của các mặt đối lập là tương đối.
2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật.
Bởi lẽ, khi các mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật còn là nó. Nhưng khi mâu thuẫn từ khác biệt
trở nên gay gắt cần giải quyết thì khi ấy sự thống nhất cũ của sự vật mất đi, xuất hiện sự thống nhất
mới, chính là sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ. Sự thống nhất mới này lại mâu thuẫn nhau, rồi lại
được giải quyết, cứ như vậy sự vật vận động, biến đổi, phát triển. Nói cách khác, khi hai mặt đối lập tác
động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi và được giải quyết thì mâu thuẫn cũ
mất đi làm sự vật không còn là nó. Sự vật mới ra đời, mâu thuẫn mới lại xuất hiện. Cứ như vậy sự vật
vận động, phát triển. Lưu ý rằng, cả thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đều có vai trò quan
trọng trong sự vận động, phát triển của sự vật.
3. Phân loại mâu thuẫn
- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu
thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
- Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, người ta chia thành mâu thuẫn
cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật trong một giai
đoạn phát triển nhất định, người ta chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu.
7
- Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu
thuẫn không đối kháng.
Từ trên rút ra nội dung quy luật mâu thuẫn: Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh
hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên
mâu thuẫn. Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hoá lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải
quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
- Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến nên nhận thức mâu thuẫn là cần thiết và phải khách quan.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ phủ định sạch trơn; đồng thời, phải
biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ.
- Chống thái độ hư vô chủ nghĩa; đồng thời, chống bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã lạc
hậu lỗi thời, không chịu đổi mới.
- Phải hiểu phát triển không phải là đường thẳng mà theo đường xoáy ốc đi lên. Nghĩa là, có
nhiều khó khăn, phức tạp trong quá trình vận động, phát triển. Phát triển không phải là đường thẳng.
Câu 5: Đồng chí hãy nêu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn?
Trả lời:
1. Một số khái niệm:
- Thực tiễn là gì? Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã
hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ
hoạt động vật chất của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh
thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động vật chất "cảm tính" của con
người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, được thực hiện một cách
tất yếu khách quan và được tiến hành trong các quan hệ xã hội, là hoạt động mang tính năng động, sáng
tạo, là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội loài người.
- Lý luận là gì? Lý luận là sản phẩm phát triển cao của nhận thức lý tính. Xét về bản chất lý
luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng khái quát, đúc kết từ thực tiễn, phản ánh
những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: lý luận và thực tiễn có mối quan hệ tác
động qua lại nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định.
- Thực tiễn quyết định lý luận: thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, lý luận
đồng thời là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thực, lý luận. Nến không có thực tiễn thì không có lý luận.
Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Lênin viết: "Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận. Vì nó
có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp".
- Tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn: thể hiện ở 3 điểm chủ yếu sau:
+ Lý luận hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, lý luận khoa học là "kim chỉ nan" cho thực tiễn. Nó
giúp cho thực tiễn hoạt động đúng hướng, có hiệu quả, tránh mò mẫn, tự phát. Hồ Chí Minh đã chỉ ra
rằng: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi".
+ Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát
hội càng ngày càng phát triển, như Ph.Ăngghen viết "điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với
xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất".
Vì vậy sản xuất là hoạt động chỉ có ở con người nhằm tạo ra của cải vật chất đẻ thoả mãn nhu
cầu tồn tại và phát triển của con người.
Thứ hai: sản xuất vật chất là hoạt động có tính mục đích sáng tạo.
Quá trình sản xuất ra của cải vật chất con người đồng thời đã sáng tạo ra tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Các quan hệ về Nhà nước, pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo… đều hình thành và biến đổi
trên cơ sở sản xuất vật chất.
Trong quá trình sản xuất vật chất thì con người luôn tìm cách sáng tạo ra công cụ lao động ngày
càng tiến bộ hơn từ đó tạo ra năng suất lao động cao hơn so với trước thoả mãn nhu cầu ngày càng
phong phú hơn của con người.
10
VD: Trong xã hội nguyên thuỷ công cụ lao động chủ yếu làm bằng đã với tính chất thô sơ
không đem lại hiệu quả cao, còn trong xã hội hiện đại, bằng sức mạnh của khoa học công nghệ đã,
đang và sẽ tăng năng suất lao động cao hơn.
Thứ ba: sản xuất vật chất có tính lịch sử và mang tính xã hội.
Các Mác đã kết luận rằng " tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó tiền đề
của con người lịch sử; đó là: người ta phải có kỹ năng sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử". Nhưng
muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, nước uống, nhà cửa, quần áo và một số thứ khác
nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoải mãn những nhu cầu ấy,
việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất"
Con người sinh ra và sử dụng công cụ lao động tác động và tự nhiện để tạo ra của cải nuôi sống
bản thân. Khi xã hội phát triển với những phương tiện kỹ thuật ngày càng hiện đại thì con người vẫn
tiến hành sản xuất vật chất để tạo ra của cải vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng phong phú và
đa dạng của bản thân.
Trong quá trình sản xuất có sự phân công lao động xã hộ, cơ sự hợp tác với nhau đẻ tạo thành
sản phẩm. Để tiến hành sản xuất vật chất con người tất yếu phải thiết lập nên những mối quan hệ nhất
định với nhau.
Vì vậy, khẳng định sản xuất vật chất mang tinhs lịch sử và xã hội.
3. Vai trò của sản xuất vật chất:
này có nghĩa là LLSX phát triển thì sớm hay muộn QHSX cũng biến đổi theo cho phù hợp với trình độ
phát triển của LLSX. Khi LLSX phát triển đến 1 mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn đến QHSX lạc hậu,
điều này đòi hỏi phải xoá QHSX cũ, xác lập QHSX mới phù hợp với trình độ của LLSX để thúc đẩy
phương thức sản xuất mới ra đời.
- QHSX tác động trở lại LLSX: mặc dù bị quy định bởi LLSX nhưng QHSX có vai trò tác động
trở lại LLSX thể hiện ở chỗ: Nếu QHSX phù hợp với trình độ của LLSX nó sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện
cho LLSX phát triển. Ngược lại Nếu QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì khi ấy
sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của LLSX.
3. Sự vận dụng của Đảng ta:
- Trước 1986 chúng ta có những biểu hiện vận dụng chưa đúng mối quan hệ biện chứng giữa
LLSX và QHSX, điều này thể hiện ở việc do chúng ta đã chủ quan, nóng vội trong xây dựng QHSX
XHCN mà chưa tính tới trình độ LLSX ở nước ta thời điểm đó (LLSX còn thấp - QHSX quá cao).
- Sau 1986 dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nước ta, nhân dân ta đã lựa chọn con đường phát triển
kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, điều này hoàn toàn đúng với quy luật về sự phù hợp của
QHSX với trình độ phát triển của LLSX bởi lẽ: trình độ phát triển LLSX ở nước ta vừa thấp vừa không
đồng đều giữa các vùng, các ngành kinh tế, Chính sự không đồng đều về trình độ, tính chất của
LLSX ở nước ta đã quy định tính đa dạng phong phú của quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ
chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Nói cách khác, tính không đồng đều về trình độ phát triển của LLSX đã quy định tính đa dạng
của QHSX.
Thực tiễn tình hình kinh tế xã hội ở Việt Nam những năm qua đã chứng minh chung ta tiến hành
"đổi mới" là hoàn toàn đúng đắn, "đổi mới" đã giải phóng được LLSX, năng suất lao động tăng lên,
kinh tế xã hội phát triển, đời sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng được cải thiện, quan hệ đối
ngoại ngày càng được mở rộng, an ninh quốc phòng được giữ vững. .
Câu 8: Mối quan hệ giữa CSHT và kiến trúc thượng tầng? Sự vận dụng của Đảng ta?
Trả lời:
1. Một số khái niệm cơ bản:
12
- CSHT: Là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một mô hình thái kinh tế
xã hội nhất định. Đặc trưng cho tính chất của CSHT của xã hội là do quan hệ sản xuất thống trị quyết
kim chỉ nam cho hành đông. Xây dựng hệ thống chính trị XHCN.
+ Xây dựng Nhà nước ta của dân do dân và vì dân.
+ Mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
+ Phát triển nền tảng văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
+ Thực hiện dân chủ XHCN. Phát huy khả năng sáng tạo thành tích cực chủ động của mọi cá
nhân.
Câu 9: Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định: "Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa
vào nhân dân, phát huy tính chủ động sáng tạo của nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của Quần
chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân". Bằng lý luận và thực tiễn, anh chị hãy làm rõ quan
điểm trên?
Trả lời:
I. Các khái niệm cơ bản
1. Quần chúng nhân dân (QCND) và vai trò của QCND
* Khái niệm: QCND là những bộ phận XH có chung lợi ích liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh
đạo của 1 cá nhân hay 1 Đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế,chính trị, XH của 1 thời
đại lịch sử.
- Đặc trưng của QCND: là những người LĐ sản xuất ra của cải vật chất tinh thần cho XH; Là
những bộ phận dân cư đấu tranh chống lại các giai cấp thống trị trong lịch sử. Nói tới quần chúng nhân
dân là nói tới các giai cấp, các tầng lớp XH có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ XH.
* Vai trò của QCND: Theo quan điểm duy vật lịch sử quần chúng nhân dân có vai trò là người
sáng tạo ra lịch sử - nghĩa là sự phát triển của lịch sử XH là do hoạt động của quần chúng nhân dân tạo
nên.
- Vì sao quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử?
+ Vì quần chúng nhân dân là người SX ra của cải vật chất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
XH.
+ Vì quần chúng nhân dân họ là động lực cơ bản của các cuộc cách mạng XH trong lịch sử.
+ Quần chúng nhân dân giữ vai trò chủ yếu sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần của XH
(đương nhiên là không phủ nhận vai trò của các vĩ nhân trong lịch sử như: các nhà tư tưởng lớn, các
nhà khoa học, các nhà văn ).
2. Vai trò của cá nhân (vĩ nhân hoặc lãnh tụ)
thịt giữa Đảng với nhân dân nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân LĐ trong sự nghiệp đổi mới
đất nước
Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nâng cao năng xuất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và văn hoá tinh thần ngày càng đa dạng và phong
phú.
15
Lợi ích cá nhân ngày càng được chú ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân. Tuy nhiên, cơ chế
này có thể dẫn đến tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế, dẫn tới phân hoá giàu nghèo trong xã hội, chứa đựng
những khả năng đối lập giữa cá nhân và xã hội. Do đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị
trường, phát huy tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm
cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn
trọng tình nghĩa, có lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.
Câu 10: Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Ý nghĩa của vấn đề trên trong công
tác giáo dục lý luận chính trị?
Trả lời:
1. Khái niệm:
- Tồn tại xã hội: là toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất của con người, bao gồm các yếu tố chính
là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa lý, dân số trong đó phương thức
sản xuất là yếu tố cơ bản nhất.
- Ý thức xã hội: là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền thống,
quan điểm, tư tưởng, lý luận là sự phản ánh của tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất
định.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:
Tồn tại xã hội quyết định Ý thức xã hội. Nhưng ý thức xã hội cũng có tính năng động, độc lập
tương đối. Biểu hiện ở những mặt dưới đây :
- Tính lạc hậu. Do sức mạnh của thói quen, tập quán truyền thống, do những lực lượng xã hội,
đảng phái, giai cấp muốn duy trì ý thức cũ, chống lại ý thức tiến bộ hơn.
- Tính vượt trước. Tư tưởng của con người, nhất là tư tưởng triết học, khoa học, nghệ thuật có
thể đóng vai trò dự báo tương lai, tìm ra được khuynh hướng phát triển của con người.
- Tính kế thừa. Những quan điểm và lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất
- Trong dạy và học lý luận chính trị, phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc
lập suy nghĩ và tự do tư tưởng: Phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong
sách, có vấn đề chưa thông thì mạnh dạn đề ra và thảo luận. Đối với bất cứ vấn đề gì cần phải đặt câu
hỏi Vì sao? đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không. Chỉ có như vậy mới tránh
được bệnh giáo điều và việc học mới có ích cho cách mạng.
- Công tác giáo dục lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng và thực
tiễn.
Môn triết học
Câu 1: Phân tích những điều kiện ra đời của triết học Mác và
nêu những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát
triển của triết học Mác – Lenin.
1.1. Những điều kiện ra đời của triết học Mác
Triết học Mác, cũng như các hệ thống triết học trước đó, đều ra đời
dựa trên những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định:
1. Điều kiện về kinh tế-xã hội
- Chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới
- Triết học Mác ra đời trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã bước sang
giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp, đã tạo ra một
lực lượng sản xuất vô cùng to lớn so với các thời kỳ trước đó.
- Mâu thuẩn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt
17
- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho những mâu thuẩn xã
hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh giai
cấp đã nổ ra, đi từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác, từ dân sinh đến
dân chủ; giai cấp tư sản không còn là giai cấp cách mạng, giai cấp vô
sản trở thành một lực lượng chính trị lớn mạnh, là giai cấp tiên tiến
nhất, cách mạng nhất.
- Triết học Mác ra đời là tất yếu khách quan
- Từ thực tiển xã hội, nhất là từ thực tiển cách mạng của giai cấp vô sản
đã nảy sinh một yêu cầu mang tính khách quan là phải được soi sáng
Tóm lại, Triết học Mác cũng như toàn bộ Chủ nghĩa Mác ra đời như
một tất yếu lịch sử, không những vì nó là sự phản ảnh thực tiển xã hội,
nhất là thực tiển cách mạng của giai cấp vô sản mà còn là sự phát triển
hợp quy luật của lịch sử tư tưởng nhân loại.
1.2. Những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết
học Mác
1. Giai đoạn Mác-Ăngghen
a) Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ
nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa cộng sản.
- Bước đầu hoạt động chính trị - xã hội và khoa học của C.Mác và
Ph.Ăngghen.
- Một số tác phẩm chủ yếu:
* Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự
nhiên của Êpiquya. (C.Mác).
* Những bức thư từ vesphali (bài báo của Ph.Ăngghen).
* Sêlinh và sự linh báo (Ph.Ăngghtn)
- Sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện
chứng và từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa
học của C.Mác và Ph.Ăngghen.
- C.Mác làm biên tập viên cho Báo Sông Ranh (từ 1842 – 1843).
- Một số tác phẩm chủ yếu:
* Góp phần phê phán triết học Pháp quyền của Hê ghen, lời nói đầu
(C.Mác, 1943).
* Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (Ph. Ăngghen, 1844).
19
b) Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử.
- Đây là thời kỳ từ 1844 đến 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng bước
xây dựng những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch
XX.
- Có nhiều khuynh hướng triết học đối lập với triết học Mác.
b) Nội dung cơ bản của quá trình Lênin phát triển triết học Mác.
- Giai đoạn 1893 – 1907.
+ Một số tác phẩm chủ yếu:
* Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người
dân chủ - xã hội ra sao (1894).
* Làm gì (1902)
* Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ
(1905).
- Giai đoạn từ 1907 đến cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga
1917.
Một số tác phẩm chủ yếu của thời kỳ này:
* Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909).
* Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (1913).
* Bút ký triết học (1916).
* Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916).
* Nhà nước và cách mạng (1917).
* Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920).
* Về chính sách kinh tế mới (1921).
* Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
3. Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và
Ph.Ăngghen thực hiện, Lênin phát triển.
a) Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.
21
b) Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
c) Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn.
d) Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng.
e) Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ
thể.
- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực
tiễn
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Ở đây
mối quan hệ này được hiểu là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Bằng
việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việc
thấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại
và sự phát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục
được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó để giải quyết thoả đáng các
vấn đề cơ bản của triết học.
- Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời
nhau. Chủ nghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng
nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò giữ vai
trò thống trị đặc biệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII.
Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy
tâm với quan niệm về sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối” trong triết
học cổ điển Đức. Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện
chứng đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật
trước Mác không hiểu về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối
tiếp nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất.
Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với
việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C. Mac và
Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và
cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên
chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới
quan duy vật với phép biện chứng.
- Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội)
Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để. Khẳng
định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản
xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
- Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lực
lượng vật chất để thực hiện nó.
4.2. Phát huy tính năng động chủ quan: Phát huy tính năng động chủ
quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát
huy vai trò của nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính
chất ấy.
- Một số biểu hiện cơ bản của nó là:
Phải tôn trọng tri thức khoa học, phải làm chủ tri thức khoa học và
truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức,
niềm tin định hướng cho quần chúng hành động.
24
Như vậy, tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa
là những ý nghĩa phương pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có
tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn.
5. Vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng vào sự nghiệp đổi mới của
đất nước ta hiện nay
- Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên
cạnh những thành tựu đạt được chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực,
vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất nên đã phạm một số sai lầm trong việc xác định mục
tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN
và quản lý kinh tế.
- Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
chúng ta xác định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn
kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí
thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và
xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành kinh tế
và của toàn xã hội” cũng chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện