SKKN Một số thủ thuật gây hứng thú cho trẻ em 5 – 6 tuổi nhằm nâng cao chất lượng môn học Làm quen với môi trường xung quanh - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ THỦ THUẬT GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ EM 5 – 6
TUỔI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN HỌC: LÀM
QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH ”

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I – lý do chọn đề tài
Bác Hồ kính yêu đã nói :
“ vì lợi ích mười năm trồng cây ,
Vì lợi ích trăm năm trồng người .”
Giáo dục Mâm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị
trí quan trọng. trong giáo dục Mầm non có nhiệm vụ dây xựng những cơ sở ban đầu, đặt
nền móng cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia
đình, là tương lai của cả dân tộc, viêc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là
trách nhiệm của mơi người và của toàn xă hội và của cả nhân loại
Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt
đầu:bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đội chân, đôi tay của
mình tất cả những cử chỉ đó đều làm lên nhưng thói quen,kể cả thói xấu.Chính vì vậy
chúng ta đã bước sang thế kỷ 21 thế kỷ nền văn minh trí tuệ, của nền khoa học hiện
đại.do vậy con người cần phải nãng động sáng tạo để phù hợp với sự phát triển của thời
đại. Muốn được như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ MâmNon , Đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi đang
ở nhũng bước phát triển mạnh về nhận thức , tư duy ,về ngôn ngữ ,về tình cảm những
thế giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn ,có biết bao điều mới lạ hấp dẫn , và
còn có bao lạ lẫm khó hiểu,trẻ tò mò muốn biết ,muốn được khám phá , cho nên giáo dục
mầm non dã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ . Trách nhiệm nặng lề và
cao cả ấy tất cả thuộc về cô giáo Mầm Non tạo nên nền tảng vững chắc , là trặng đường
khôn lớn của trẻ . ở lứa tuổi này “ cái nảy sảy cái ung” chính vì vậy sự nhảy cảm và có
trách nhiệm cao là yêu cầu không thể thiếu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , cô giáo
phải rất linh hoạt nhạy bén kịp thời , có năng lực và có tính chủ động sáng tạo .
Vậy giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là ở tuổi Mầm

Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình . Tôi vận dụng vấn đề mà bài viết này
đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở chính đơn vị
trường tôi dang công tác .
V / Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công tác chăm
sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực cho
quá trình hình thành nhân cách cho trẻ
VI / Phương pháp nghiên cứu
Trước hết bản thân phải nhận định được tình hình chung của đối tượng nghiên cứu,sau đó
đọc, phân tích, tổg hợp tài liệu tham khảo. Để xây dượng đề cương sáng kiến, áp dụng
sáng kiến và hoàn thành sáng kiến.
VII / Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong một năm học, từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009 tại
lớp Mẫu giáo 5 tuổi thôn Tư Sản, của trường Mầm Non Phú Túc

B – NỘI DUNG
I – tình hình thực tế
1/ Tình trạng trước khi thực hiện đề tài
a. a)thuận lợi :
Được sự quan tâm của Phòng GD - ĐT , thường xuyên tâm bồi dỡng chuyên môn cho
giáo viên .
Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ ,ham học hỏi nâng cao chuyên môn . Tìm tòi và tự làm
một số đồ dùng ,đồ chơi để phục vụ tiết dạy vào hoạt động vui chơi của trẻ .
Trẻ ở gần trường nên rất chăm đi lớp .
b ) Khó khăn :
Cơ sở vật chất thiếu thốn , phòng học chật hẹp , đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất thiếu
thốn như ,: những vật mẫu ,những con vật thật ,đồ vật
Góc tự nhiên còn nghèo , số cây ít ,loại cây cha phong phú , đồ chơi ,đồ dùng còn ít
Số trẻ ở lớp chưa qua nhóm lớp nhà trẻ , trẻ đến lớp 4 -5 tuổi chiếm 80 % , khả năng trẻ
tiếp thu chậm .


Sau một năm thực hiện đề tài , tôi đã sử dụng một số biện pháp sau :
1- Xây dựng cơ sở vật chất
2- Bổ sung đồ dùng , đồ chơi để tiết dạy thêm sinh động , hấp dẫn .
3- Xây dựng góc ( bé với thiên nhiên )
4- Làm giầu vốn biểu tượng vè môi trường xung quanh .
5- Rèn trẻ thông qua tiết dạy .
6- Nâng cao kỹ năng quan sát , so sánh và phân loại
7- Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất
Những biện pháp thực hiện
1/ Xây dựng cơ sở vật chất
Đồ dùng ,trực quan , đồ chơi phục vụ tiết học nh : Bàn ,ghế ,bảng ,tranh , mô hình ,các từ
gắn với mỗi hình ảnh ,vật mẫu Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động .
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp ,hấp dẫn ,phong phú sinh động nhằm kích thích hứng
thú ,tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ , tôi thường sử dụng đồ thật , vật thật hoặc hình ảnh
động cho tiết học sinh học .
dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ , tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị thêm thiết bị
,đồ dùng dạy học như : Bảng ,tranh ảnh ,lôtô ,và với mỗi tiết cần có đồ dùng để phục vụ
thật đầy đủ .
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng , tranh ,truyện , đặc biệt là
tranh ,sách , ảnh về các con vật ,cây cối ,hoa lá ,quả , Su tầm những câu ca dao , tục
ngữ ,đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ .
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương như : ,
vải vụn ,coọng rơm khô , lá khô, hoa ép khô ,vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy .
Sưu tầm các loại hạt , các loại vỏ trai ốc ,hến sò để bổ xung gia đồ chơi của trẻ .
2/ Bổ xung đồ chơi
Đợc nhà trường cấp cho tranh dạy môi trường xung quanh,lô tô các loại Ngoài ra tôi còn
tự làm đồ dùng phục vụ tiết dạy,các loại tranh ảnh ,hình ảnh ,các con vật ,cây cỏ , hoa
lá Su tầm tranh có hình ảnh đẹp xử dụng trong việc cho trẻ LQVMTXQ . Tận dụng các
hình ảnh ở đốc lịch, bìa ,hoạ báo ,ảnh cũ Vừa trang trí lớp vừa làm đồ dùng đồ chơi .

- Lô tô các loại quả xếp vào một ô
Đối với tranh đều có chữ cái tương ứng ở dưới cũng được phân loại xếp gọn gàng và rễ
kiếm .
4 – Làm giầu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh
Biểu tượng về thế giới sung quanh , đa đến với trẻ qua nhiều hình thức :
Câu đố ,bài hát , ca dao ,tục ngữ ,đồng dao ,tranh ảnh ,đồ vật ,vật thật … Giúp trẻ không
bị nhàm chán ,lại rễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình .
Ví dụ : Cho trẻ làm quen với con cua :
“ Con gì tám cẳng hai càng.
Đầu thì không có bò ngang cả đời”
Trẻ đoán ngay được đó là con cua ,. Nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về con cua được
chính sác là con cua có hai càng to ,có tám chân này ,lại bò ngang nữa .
Cho trẻ làm quen với con cá ,ttôi dùng câu đố .
“Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà đi dới hồ ”
Trẻ trả lời đó là con cá .Nhưng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể , có vây có
đuôi , vẩy ,môi trường sống của chúng…
từ đó trợ có thú so sánh xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau ,có đặc điểm gì
khác nhau ? Sau đó trẻ có thể phân nhóm .
Ngoái ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới sung quanh cho
trẻ , qua hình ảnh mô hình ,con vật thật …
5 / Rèn trẻ thông qua tiết dạy
Vì cho tẻ LQVMTXQ , nên trong mỗi tiết với mỗi mẫu vật ,hay tranh ảnh , tôi đều cho tẻ
quan sát kỹ , cho tẻ đa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm
vật mẫu .
Ví dụ : Làm quen với con cua , trẻ đã tìm được đặc điểm của con cua có hai càng to ,tám
chân … Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “ các con có biết con cua nó đi như thế nào không ? ”
Trẻ trả lời được là con cua bò ngang , tôi dùng que chỉ rõ , cua có mai cua ,yếm cua cứng
để bảo vệ cơ thể chúng.
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường

nên bản thân tôi kắc phục bằng cách : Thường xuyên học tập bạn bề đồng nghiệp , luyện
tập giọng nói sao cho thật chuyền cảm , tác phong dạy sao cho nhẹ nhàng , linh hoạt .
Về kiến thức phải nắm vững phương pháp dạy , cung cấp cho trẻ kiến thức dù đơn giản
nhưng cũng phải thật chính xác .
Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình ,dù ở lớp hay ở nhà .
Sử dụng bộ tranh cho trẻ LQVMTXQ ,theo nội dung từng bài ,theo đúng chương trình .
Luôn năng nghe ,tiếp thu ý kiến nhận xét ,của BGH sau mỗi tiết dạy , để từ đó phát huy
những mặt tốt ,khắc phục những hạn chế .
+ Về cách tiến hành :
Với mỗi bái tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen , tôi tìm những cách vào bài khác
nhau để gây sự chú ý , tò mò của tẻ . có thể dùng câu đố ,bài hát … Đê trẻ nhận biết đối t-
ượng bằng tranh ảnh và đồ vật , vật thật và mô hình .
Với mỗi đối tượng trẻ được làm quen , trẻ được quan sát thật kỹ , trẻ biết đa ra ý kiến
nhận xét của mình , cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô , cứ mỗi lần làm quen như vậy
tôi lồng ghép nội dung giáo dục vào bài . Trẻ không những hiếu về vật đó mà còn có cách
ứng xử , hành động với chúng .
Sau khi trẻ được làm quen 3 – 4 đối tượng( trong 1bài ) tôi cho trẻ so sánh 2đối tượng
một , để trẻ có thể rễ ràng hoàn thành nhiẹm vụ phân loại trong các trò chơi
Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết đạt , tôi tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi
tĩnh , làm cho không khí tiết dạy vui tơi hào hứng và hiệu quả .
Trong các tiêt học khác tôi cũng lồng ghép kiến thức môi trường sung quanh để củng cố
vốn hiểu biết về biểu tợng đã có của trẻ
Ví dụ : Tron tiết làm quen với chữ cái I ,T , C
Cô đa tranh hình “con voi ” Cô và trẻ cùng đàm thoại về con voi để trẻ biết được hình
dạng ,môi trường sống , thức ăn và cách vận động của nó
Trong hoạt động khác của trẻ , tôi có thể cung cấp kiến thức cũ , tận dụng mọi lúc ,mọi
nơi để giáo dục trẻ .
Trong hoạt động góc , trẻ đợc chơi ở góc thiên nhien . trẻ tưới cây , nhặt lá , bắt sau ,xem
sách về môi trường xung quanh . đặc biệt trẻ được chơi nhiều đồ vật thật , khi đợc hoạt
động nhiều với đồ vật thật , trẻ được nhìn ,sờ ,nắn ,ngửi ,… Từ đó có hình ảnh chọn vẹn

cỏ cây hoa lá rất nhiều , được bố mẹ thường xuyên cung cấp và củng cố những gì đã có
thì hiệu quả việc cho trẻ làm quen với môi trường sung quanh là rất cao .
Kết quả thực nghiệm
Qua thực hiện một số biện pháp trên kết quả đạt được như sau :
• Bản thân được trau rồi kiến thức ,kỹ năng , nghệ thuật dạy trẻ .
• Phụ huynh tín nhiệm tin yêu
• Kết quả đánh giá qua 6 tiết dậy được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2 : Kết quả đạt được
STT Phân loại Đầu năm Cuối năm
Số
lượng
Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
1 Loại tốt 2 33.33 4 66.67
2 Loại khá 4 66.67 2 33.33

Với trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng tiết dạy .
Trẻ có kỹ năng quan sát , so sánh ,phân loại tốt , hiểu biết rộng về tự nhiên cũng nh về xã
hội .
Đặc biệt trong hội thi bé làm quen ATGT và giáo dục bảo vệ môi trường các cháu lớp tôi
thể hiện rất tốt về kiến thức ATGT cũng rất tốt và có ý thức bảo vệ môi trường . Được
ban giám khảo đánh giá rất cao .
kết quả đánh giá của trẻ
Được biểu hiện qua bảng sau :
Bảng 3 : Kết quả đạt được của trẻ
TT Kỹ năng
quan sát
,so sánh
,phân loại
Đầu năm Cuối năm Tăng
Số l-

- Luôn tạo đợc môi trường học mà chơi ,chơi mà làm .
- Chú ý rèn trẻ ít nói , chậm hiểu có phương pháp hớng dânn xcụ thể .
- Động viên kịp thời và giúp trẻ tập luỵen thường xuyên .
- Tạo điều kiện tốt để trẻ có khả năng tư duy , phát triển tốt . dựa vào hội thi “Bé làm
quen ATGTvà giáo dục BVMT”
Trên đây là một số biện pháp , kinh nghiệm mà tôi đã thực nghiẹm để “ Nâng cao
chất lượng cho trẻ làm quen với môi trường sung quanh ” cho trẻ 5 – 6 tuổi , để nâng cao
kỹ năng quan sát , so sánh phân loại ở trẻ khi được làm quen với môi trường xung quanh .
Bản thân rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý ban và các đồng nghiệp để những
giờ dạy môi trường xung quanh đạt kết quả cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status