PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất nước. Đây
là vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống, có tiềm năng lớn với hơn 1,5 triệu
ha đất canh tác (bằng 20% đất canh tác cả nước), sản lượng lương thực 7 triệu
tấn, dân số 17 triệu người (22%), mức bình quân ruộng đất đầu người bằng 40%
cả nước; cơ cấu kinh tế nông nghiệp có tỷ lệ: trồng trọt 72% (cây lương thực
80%) chăn nuôi 25%, dịch vụ 3%.
Các lợi thế so sánh của đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là: có khí hậu mùa
đông lạnh, đất tốt (80% diện tích là đất phù sa), là vùng có hệ thống thuỷ lợi tốt
nhất nước (tưới tiêu chủ động 80% diện tích, trong đó có 60% diện tích có nước
tưới phù sa). ĐBSH là một tam giác tăng trưởng với tốc độ đô thị hóa nhanh, có
điều kiện tốt thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay ĐBSH nằm trong vùng trọng điểm phát triển
kinh tế xã hội ở phía Bắc. Điều kiện trên là cơ sở cho vùng phát triển một nền
nông nghiệp, thuỷ sản hàng hóa đa dạng, năng suất, chất lượng cao. Nhưng hạn
chế của ĐBSH là: bình quân ruộng đất trên đầu người thấp nhất cả nước
(540m2/người), quỹ đất nông nghiệp tiếp tục giảm nhanh ,môi trường bị ô
nhiễm (do thâm canh, phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa…), thu
nhập bình quân của hộ nông dân thấp nên khả năng đầu tư hạn chế, hệ thống
canh tác truyền thống là thuần nông, tâm lý bao cấp nặng nề… Khó khăn lớn
nhất của ĐBSH là hàng nông sản xuất khẩu ít, không ổn định. Sản phẩm hàng
hóa của vùng chủ yếu là gạo, thịt lợn, rau, hoa, quả, cây cảnh, thủy sản. Trừ
thuỷ sản là có khả năng xuất khẩu khá, các mặt hàng khác còn lại đều có sức
cạnh tranh kém trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Điểm xuất phát trong năm 2002 của vùng ĐBSH là: Mức thu nhập bình
quân nông dân khoảng 5 triệu đồng/năm, tổng thu nhập trên 1 ha đất canh tác
khoảng 28 - 30 triệu đồng/ha/năm (trong đó TP Hà Nội 37 triệu, Hà Tây 30
triệu, Thái Bình 32 triệu, Nam Định 36 triệu, Hải Phòng, 38 triệu, Hưng Yên 34
triệu, Hải Dương, 31 triệu, trong khi trung bình cả nước là 17 triệu đồng).
Hiện nay ở ĐBSH hàng lọat các chính sách thay đổi hệ thống canh tác
nhằm thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, tạo nhu cầu cho phát triển các
nông nghiệp, tình hình thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông
dân trong các vùng khác nhau
Xác định các yếu tố gây ra sự biến động về thu nhập của hộ nông dân và
các vấn đề hiện nay mà hộ nông dân gặp phải khi muốn tăng thu nhập.
Đưa ra các giải pháp điều chỉnh hệ thống canh tác góp phần nâng cao thu
nhập cho người dân
2.2. Mục đích cụ thể
Hệ thống hoá được thông tin về các hệ thống sản xuất nông nghiệp và tình
hình thu nhập của hộ nông dân trong các vùng khác nhau của đồng bằng sông
Hồng.
Giới thiệu về vùng đánh giá
Đánh giá tình hình phát triển hệ thống canh tác tại vùng
Xác định các yếu tố nâng cao thu nhập cho người dân gắn liền với phát
triển bền vững.
Đề xuất những kiến nghị các chính sách hỗ trợ phát triển, cải thiện cơ sở hạ
tầng, chuyển dịch cơ cấu và chuyển giao khoa học công nghệ tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân phát triển.
- 3 -
PHẦN III: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
3.1 Tổng quan về vùng đáng giá
Đồng bằng sông Hồng, còn gọi là Đồng bằng Bắc Bộ, là vùng đồng
bằng châu thổ của sông Hồng, miền Bắc Việt Nam. Đồng bằng sông Hồng là
một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc
và Vùng Tây Bắc)
Đây là vùng đất màu mỡ, được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ
thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình, là các sông nhánh cận Bắc và cận
Nam của sông Hồng và một hệ thống sông ngòi phức tạp chảy ra vịnh Bắc Bộ
qua trên 10 cửa sông .
Vùng đất có điều kiện thích hợp cho phát triển nông nghiệp. Nó được
nhiều nhà sử học coi là nơi hình thành và phát triển của dân tộc Việt, một nôi
• Nước mang nặng phù sa là nguồn phân bón : 131g/m3.
- 4 -
3.1.1.3. Sinh vật
• Tài nguyên rừng tuy hiếm, nhưng tài nguyên sinh vật đặc biệt là thuỷ
sản phong phú : 1 vạn ha nước mặt nuôi cá ; có bãi cá gần các vùng cửa sông.
3.1.1.4. Khoáng sản :
• Khí đốt Tiền Hải
• Than nâu chôn vùi dưới đồng bằng Hưng Yên, Thái Bình.
• Nước ngầm rất phong phú. Sông Hồng có dải chảy ngầm chiếm 37%
tổng lượng dòng chảy.
3.1.2. Dân số, cơ sở hạ tầng.
3.1.2.1. Dân số
+ Mật độ dân cư ở đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam
(1.225 người/km²)(2006). Tổng dân số của vùng là 17.649.700 người (2003)
trong đó gần 50% số dân đang ở trong độ tuổi lao động.
+ Dân đồng bằng có nhiều kinh nghiệm trồng lúa, đánh bắt nuôi trồng hải
sản và nhiều nghề thủ công truyền thống.
Đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự
nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người.
Nền kinh tế ở đồng bằng sông Hồng tuy tương đối phát triển, nhưng đang
phải chịu áp lực rất lớn của dân số.
Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét về
kinh tế - xã hội. Hàng loạt vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo
dục vẫn còn là bức xúc.
Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở đồng bằng sông Hồng là
việc triển khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm
tỉ lệ sinh. Đồng thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giải
quyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tới
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng
3.1.2.2. Cơ sở hạ tầng :
du lịch, dịch vụ đi đôi với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.
Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có năm vùng chuyển tiếp thuộc địa
giới hành chính của 5 huyện.
+ Vùng chuyển tiếp huyện Thái Thuỵ : 10.579 ha
+ Vùng chuyển tiếp huyện Tiền Hải :13.000 ha
+ Vùng chuyển tiếp huyện Giao Thuỷ : 11.183 ha
+ Vùng chuyển tiếp huyện Nghĩa Hưng : 9.745 ha
+ Vùng chuyển tiếp huyện Kim Sơn :10.034 ha
3.1.4.2. Vùng đệm
Vùng đệm có diện tích 36.849 ha, là vùng tiếp giáp với vùng lõi, có thể
tiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không
ảnh hưởng đến mục đích bảo tồn trong vùng lõi. Khu dự trữ sinh quyển châu
thổ sông Hồng có năm vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 5 huyện: Thái
Thuỵ và Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình; Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng thuộc tỉnh
Nam Định; Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình.
+ Vùng đệm huyện Thái Thuỵ : 8.463 ha
+ Vùng đệm huyện Tiền Hải : 9.050 ha
+ Vùng đệm huyện Giao Thuỷ :8.250 ha
+ Vùng đệm huyện Nghĩa Hưng : 6.232 ha
+ Vùng đệm huyện Kim Sơn : 4.854 ha
- 6 -
3.1.4.3. Vùng lõi
+ Vùng lõi có diện tích (14.167 ha). Mục tiêu quản lý vùng lõi là bảo
tồn đa dạng sinh học, hạn chế các hoạt động của con người. Khu dự trữ sinh
quyển châu thổ sông Hồng có hai vùng lõi.
+ Vùng lõi 1: 4.100 ha (Nội địa: 3.100 ha; biển 1.000 ha) thuộc
Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ
+ Vùng lõi 2: 4.000 ha (Nội địa: 3.000 ha; biển 1.000 ha) thuộc Khu
Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải.
Việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi gắn liền với việc bảo tồn rừng
lúa (ha)
Diện tích
cây lâu
năm
(ha)
Mật độ
dân số
(người/
Km
2
)
Tỷ lệ số
hộ %
Tỷ lệ diện
tích
%
Các huyên trung du và
ven đồng bằng
238706 238706 8543 1486 37 37
Các huyện vùng trũng
Nam Hà cũ: Thuần lúa 97493 97493 2906 762 12 15
- 7 -
Các huyện ven đô thị
lớn Hà Nội, Hải Phòng 75583 75583 496 1324 15 12
Các huyện thâm canh
cây vụ đông, cây hàng
hóa 104890 104890 1103 1081 16 16
Vùng duyên hải ven
đồng bằng 125580 125580 1550 1079 19 20
Tổng 642252 642252 100 100
3.3.1. Tình hình phát triển của hệ thống:
- 8 -
Trong những năm qua Đồng Bằng Sông Hồng đã phát triển công nghiệp
hóa hiện đại hóa trong nông nghiệp nông thôn. Đa dạng hoá cây trồng sẽ giúp
tối đa hoá hiệu quả sử dụng đất đai, tăng năng suất lao động và thu nhập của các
hộ nông dân.
Do là vùng đồng bằng lớn thứ 2 cả nước, đất đai rất giàu dinh dưỡng, nên
vùng đã đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa trong nông nghiệp theo hướng phát
triển các cây trồng giá trị cao nhắm xuất khẩu như: lúa gạo, rau sạch, ngô bao
tử, cà chua….
Thực hiện dồn điền đổi thửa, giao đất cho người dân, khuyến khích khu
vực kinh tế hộ cải cách phương thức sản xuất, tiếp thị và đẩy mạnh phát triển
công nghiệp chế biến nông sản.
Tại một số tỉnh, hệ thống canh tác điển hình là lúa nước, cây trồng xen canh
(các cơ cấu luân canh như đậu nành, ngô-đậu xanh, v.v.) và các loại cây ăn quả
như vải, nhãn, , v.v
Bên cạnh đó, thực hiện rất nhiều mô hình nuôi trồng, đánh bắt thủy sản tại
các phần diện tích mặt nước.
Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển nông
nghiệp, cải thiện sử dụng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cao hiệu
quả của hệ thống hành chính về phát triển nông nghiệp. Đa dạng hoá cây trồng
sẽ giúp tối đa hoá hiệu quả sử dụng đất đai, tăng năng suất lao động và thu nhập
của các hộ nông dân. Vùng thực hiện các chính sách thúc đẩy sản xuất trong
nước để thay thế nhập khẩu, tạo công ăn việc làm ở nông thôn để thu hút những
người lao động bị thất nghiệp và chuẩn bị đối phó với sự thay đổi khí hậu toàn
cầu
Trong nông nghiệp, hệ hống cơ sở hạ tầng nông thôn: hệ thống tưới tiêu,
đường giao thông liên vùng, hệ thống điện, hệ thống truyền thông được xây
dựng hàng năm tạo điều kiện cho người dân phát triển sản xuất.
Để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp cũng như hiệu quả sử dụng đất,
dụng ĐT10, VN 10, BM 9830, IR 17494 Đáp ứng tiêu chí năng suất cao, chất
lượng khá vụ xuân muộn có thể dùng các giống KD 18, Q5, Bắc thơm số7, các
giống nếp và các giống lai như Nhị ưu 838, D. ưu 527, Nhị ưu 63.
Về vụ mùa, trà lúa mùa sớm trong thời gian qua đã tỏ rõ ưu thế. Điều này xuất
phát từ định hướng mở rộng tối đa trà mùa sớm để tăng diện tích sản xuất rau
màu vụ đông. Các địa phương có thể áp dụng: Lúa mùa sớm-lúa mùa trung-lúa
mùa muộn=30-50-20%. Về cơ cấu giống, do điều kiện khí hậu, đất đai, dịch
bệnh nên cơ cấu giống các địa phương có khác nhau. Tuy nhiên, với trà sớm,
trà trung có thể dùng Q5, KD 18, CR 203, HT1, các giống nếp cải tiến và các tổ
hợp lai D.ưu 527, Bồi tạp sơn thanh. HYT83, VL20; đối với trà mùa muộn sử
- 10 -
dụng các giống cảm ôn như X21, NX 30, các giống cảm quang như Bác ưu 903,
Bác ưu 64, Mộc tuyền và các giống tám, dự, nếp cổ truyền
(Nguồn:
Điểm xuất phát trong năm 2002 của vùng ĐBSH là: Mức thu nhập bình
quân nông dân khoảng 5 triệu đồng/năm, tổng thu nhập trên 1 ha đất canh tác
khoảng 28 - 30 triệu đồng/ha/năm (trong đó TP Hà Nội 37 triệu, Hà Tây 30
triệu, Thái Bình 32 triệu, Nam Định 36 triệu, Hải Phòng, 38 triệu, Hưng Yên 34
triệu, Hải Dương, 31 triệu, trong khi trung bình cả nước là 17 triệu đồng).
Tuy thế, hiện nay ở vùng ĐBSH số mô hình cánh đồng đạt 50 triệu
đồng/ha/năm đã chiếm khoảng 10% diện tích canh tác (90 ngàn ha trong số 880
ngàn ha) và các mô hình hộ đạt 50 triệu đồng/hộ/năm cũng đạt khoảng 10% số
hộ (350 ngàn hộ trong số tổng số 3,5 triệu hộ). Việc phấn đấu đạt mục tiêu “50
triệu đồng” ngoài ý nghĩa thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
còn là tiền đề thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, tạo nhu cầu cho phát
triển các ngành công nghiệp khác; tạo điều kiện thúc đẩy đưa khoa học – công
nghệ mới vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ; thu hút chất xám về nông thôn
nhằm “xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền
vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao” như tinh thần Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
thời tiết khí hậu ôn hoà, lượng nước mặt và nước ngầm phong phú là điều kiện
thuận lợi cho Vùng phát triển sản xuất nông nghiệp với các tập đoàn cây trồng,
vật nuôi hết sức phong phú bao gồm: cây lương thực (lúa, ngô, khoai…); cây
thực phẩm bao gồm đủ các loại cây ăn củ, quả, lá, thân; cây công nghiệp ngắn
ngày như lạc, đỗ tương; cây cây ăn quả như: cam, chanh, bưởi, na, vv…vật nuôi
bao gồm trâu, bò, lợn và gia cầm; phát triển thuỷ sản như cá, tôm, các con đặc
sản…cho đến nay, nông nghiệp vẫn là cơ sở và chỗ dựa cho mọi hoạt động kinh
tế khác của hộ. Thu nhập của hệ thống canh tác cây trồng, vật nuôi tăng dần
theo sự phát triển của hệ thống canh tác:
- Đối với hệ thống canh tác cây trồng: Thu nhập trên 1 ha canh tác phụ
thuộc vào hệ thống luân canh cây trồng trên từng loại đất. Thực tế ở hầu hết các
vùng thu nhập của công thức luân canh 2 vụ lúa/năm đạt thấp nhất. Nếu lấy thu
nhập thuần trên 1 ha đất canh tác 2 lúa năm 2004 làm gốc (=1) để so sánh thì
thấy thu nhập thuần trên 1 ha canh tác của các công thức luôn canh cây trồng
tăng dần: công thức 2 vụ lúa + 1 vụ ngô đông sẽ tăng gấp 1,3 lần; 2 vụ lúa + 1
vụ khoai lang sẽ tăng gấp 1,58 lần; 2 lúa + 1 vụ khoai tây tăng gấp 1,76 lần; vụ
lúa xuân + 2 vụ dưa hấu tăng gấp 3,82 lần và cao nhất là công thức trồng 3 vụ
dưa hấu + 1 vụ rau tăng gấp 4,79 lần.
- Đối với hệ thống canh tác ngành chăn nuôi: lợn thịt và gia cầm thịt
phương thức chăn nuôi kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp có thu nhập/kg sản
phẩm cao hơn chăn nuôi tận dụng; chăn nuôi lợn giống theo phương thức tận
- 12 -
dụng kết hợp giữa chế biến nông sản với nuôi lợn nái đem lại thu nhập/kg sản
phẩm cao hơn chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp.
- Nuôi trồng thuỷ sản theo phương thức đa dạng các loại thuỷ ngư có thu
nhập/ha cao hơn nuôi độc canh một loại cá.
Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ quá trình phát triển kinh tế của ĐBSH, ta
thấy vấn đề đáng suy nghĩ: Là một trong hai vùng nông nghiệp trọng điểm của
cả nước nhưng nông nghiệp của vùng trong giai đoạn 1995-1997 có tốc độ tăng
trưởng đạt thấp (4,35%/năm), chưa bằng tốc độ phát triển nông nghiệp toàn
- 13 -
THU NHẬP THUẦN NÔNG NGHIỆP = GIÁ TRỊ GIA TĂNG
THUẦN - TIỀN THUÊ ĐẤT - LÃI TIỀN VAY - THUẾ CÁC LOẠI -
LƯƠNG CỦA LAO ĐỘNG LÀM THUÊ.
Với Thu nhập thuần nông nghiệp, nông dân không chỉ phải thù lao cho
lao động gia đình mà còn phải tích luỹ vốn cho hộ (đảm bảo tái sản xuất mở
rộng). Trong thực tế, chúng ta biết rằng nếu nông dân tự bằng lòng với tái sản
xuất giản đơn hay không tích luỹ thì hộ sẽ bị giảm sức sản xuất và giảm sức
mua.
Thu nhập thuần nông nghiệp cho chúng ta biết một chỉ số phụ về khả năng
tái sản xuất của hộ nông nghiệp.
Không nên quên rằng các kết quả này chỉ đặc trưng cho một thời điểm nào
đó của một hệ thống sản xuất chứ không đặc trưng hoá động thái phát triển của
hệ thống này. Động thái là một yếu tố không thể thiếu được trong việc chẩn
đoán một hệ thống sản xuất.
Nghiên cứu sự phân chia của Giá trị gia tăng thuần trong hộ nông dân hay
từ hộ tới các tác nhân kinh tế khác cho chúng ta những thông tin quý giá về
những mối quan hệ xã hội tồn tại trong một xã hội.
Có lẽ cũng cần thiết khi xem xét tỷ lệ giữa phần của giá trị gia tăng/ lao
động do người làm công và lao động gia đình đóng góp đặc biệt khi mà sự mất
cân đối giữa hai phần này khá lớn.
Tỷ lệ của tiền thuê đất hay tiền nợ trong Giá trị gia tăng thuần cũng cho
biết tình trạng của các mối quan hệ kinh tế tồn tại giữa nông nghiệp và phần còn
lại của nền kinh tế cũng như khả năng tiềm năng của tái sản xuất của các hộ
nông dân nghiên cứu.
Chi phí trung gian
- Vật chất
- Dịch vụ: làm đất, thuỷ
lợi phí, bảo vệ mùa màng.
Khấu hao tài sản cố định
Thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm
mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích luỹ và
tái sản xuất mở rộng nếu có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các
hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện. Có thể phân thu nhập của hộ
nông dân thành 3 loại:
3.4.2.1. Thu nhập nông nghiệp:
Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như:
Trồng trọt (lúa, màu, rau, quả, ); từ chăn nuôi (Gia súc, gia cầm, ) và nuôi
trồng thuỷ hải sản (tôm, cua, cá, ).
3.4.2.2. Thu nhập phi nông nghiệp:
Thu nhập phi nông nghiệp là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động
ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế
biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, Ngoài ra thu nhập phi nông
nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu
gom,
3.4.2.3 Thu nhập khác:
Đó là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê; làm công ăn
lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội và sản xuất hoặc các nguồn thu nhập bất
thường khác.
- 15 -
3.4.3. Yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân
Theo lý thuyết kinh tế, thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc vào nhiều
yếu tố, trong đó có 4 yếu tố chính, đó là vốn, lao động, đất đai và khoa học công
nghệ, ngoài ra thu nhập còn phụ thuộc vào một số yếu tố định tính khác. Tuỳ
vào điều kiện sản xuất của hộ mà thu nhập phụ thuộc từng yếu tố khác nhau.
3.4.3.1. Vùng kinh tế ven đô:
Các hoạt động chăn nuôi và trồng lúa, màu có ảnh hưởng rất lớn đến thu
nhập nông nghiệp của hộ, và hoạt động thuỷ sản là có ảnh hưởng ít nhất. Như
vậy, với sự giảm thiểu đất canh tác nông nghiệp ở những vùng ven đô thị, xu
hướng phát triển chăn nuôi quy mô lớn và sản xuất các sản phẩm rau tươi sống
thị mà quy hoạch để làm sân golf dẫn đến cho hàng vạn nông dân mất đất sản
xuất, đời sống khó khăn phải đi tha phương cầu thực, thậm chí đây là một trong
những nguyên làm cho tình hình mất an ninh trật tự, tệ nạn xã hội tăng lên.
4.2. Vấn đề đầu tư, phát triển còn chưa thực sự đến người dân.
Phí giao dịch, lãi xuất ngân hàng còn cao
Mạng lưới tài chính còn chưa vươn tới vùng khó khăn.
Những quy định mới về thế chấp tài sản và không phải thế chấp chưa rõ
ràng
Thông tin về tín dụng không đến với người nghèo
Bất bình đẳng nguồn vốn cho vay và đầu tư.
4.3. Hạn chế trong quá trình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông
nghiệp đến người dân.
Trình độ chuyên môn, xã hội của một số cán bộ nông nghiệp còn rất hạn
chế chưa áp dụng đúng với điều kiện thực tế.
Các lớp đào tạo về kỹ thuật còn ít, không gắn liền với thực địa
4.4. Hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho lao động.
Trong khi quy hoạch đất nông nghiệp thành các khu đô thị, khu công
nghiệp chế biến…điều này đồng nghĩa dẫn đến người dân mất tư liệu sản xuất
quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm kịp thời và phù hợp cho lao
động vùng giải tỏa chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Điều này dẫn
đến người dân bị thất nghiệp, không có thu nhập….
4.5. Thông tin thị trường nông nghiệp không thực sự rõ ràng và cập nhật
Mạng lưới thông tin về thị trường nông nghiệp không cập nhật, không
minh bạch, việc hàng hóa của dân được bán cho ai, giá cả như thế nào và nhu
cầu của người tiêu dùng cần chất lượng hàng hóa ra sao thì chưa được quan
tâm đúng mức
Khi có thông tin rồi nhưng năng lực tiếp cận, xử lý và ứng dụng thông tin
còn hạn chế cũng là vấn đề.
- 17 -
5. Một số kiến nghị, giải pháp để phát triển hệ thống canh tác tăng thu
có hiệu quả và phát triển bền vững (tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo xã hội
phát triển và hạn chế suy thoái môi trường).
- Chuyển dịch hệ thống canh tác trên cơ sở khai thác hợp lý các lợi thế
của từng vùng ở ĐBSH và tôn trọng quyền quyết định của các hộ nông dân
thông qua điều tiết của thị trường.
- 18 -
- Khuyến khích tăng thu nhập trên cơ sở chuyển dịch hệ thống canh tác,
tăng đầu tư mở rộng qui mô sản xuất hàng hoá chuyên môn hoá, hạn chế sản
xuất nhỏ lẻ, manh mún, kém hiệu quả và không ổn định.
5.2.1.2. Đối với hệ thống canh tác nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng đối với thu nhập của
một số hộ nông dân, song hệ thống canh tác nông nghiệp chuyển dịch sang các
cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển hàng hoá nhằm nâng cao giá trị thu
nhập trên 1 ha đất nông nghiệp và nâng cao năng suất lao động cho người nông
dân;
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo sát với nhu cầu của thị
trường trong và ngoài nước, trên cơ sở phát huy lợi thế sẵn có của vùng;
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đi đôi với việc áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhằm đạt năng suất cao, chất lượng
sản phẩm tốt, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và
ngoài nước.
5.2.1.3. Đối với hệ thống sản xuất phi nông nghiệp
- Phát triển hệ thống hoạt động phi nông nghiệp phục vụ sản xuất nông
nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp như: chế biến, bảo quản và
tiêu thụ nông sản;
- Khôi phục các nghề truyền thống, đầu tư khoa học công nghệ nâng cao
chất lượng sản phẩm phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu;
- Tăng cường sự tham gia của lao động nông nghiệp, nông thôn vào làm
việc ở các khu công nghiệp, doanh nghiệp và các liên doanh với nước ngoài với
mức thu nhập cao và ổn định
hóa truyển thống, gắn liền nhiều khu di tích lịc sử vì thế phát triển thương mại,
dịch vụ gắn với du lịch sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
+ Phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp: chế biến thực phẩm, rau quả;
phát triển các nghề truyền thống kết hợp với việc sử dụng công nghệ cao: mộc,
khảm trai, vv ;
+ Tăng cường hoạt động có thu nhập bằng lương ở mức cao và ổn định
trong các khu chế suất, khu công nghiệp và các doanh nghiệp.
Giải pháp và chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống canh tác vùng ven đô
- Bố trí hợp lý trong việc quy hoạch các khu chế biến, khu công nghiệp
và đô thị tránh những tác động làm ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông
nghiệp nông thôn.
- Có chính sách đền bù giá cả thỏa đáng cho những hộ, vùng trong diện
giải tỏa phục vụ cho phát triển khu công nghiệp và đô thị hóa. Bên cạnh đó phải
có chính sách tái định cư hợp lý
- Chính sách hỗ trợ vốn đa dạng, hiệu quả hơn cho các hộ nông dân, giúp
họ có vốn đầu tư phát triển sản xuất.
- Dịch vụ công và khuyến nông, khuyến công: Dịch vụ cung cấp cây con
giống, vật tư nông nghiệp, công nghệ cao cho sản xuất nông sản sạch và các
dịch vụ tư vấn, đào tạo về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nông, lâm,
thuỷ sản; kiến thức lựa chọn sản phẩm và kinh doanh theo cơ chế thị trường….
- 20 -
5.2.2.2. Các vùng khác xa vùng đô thị
Định hướng phát triển hệ thống canh tác
Sản xuất nông nghiệp
- Phát triển sản xuất trồng trọt hàng hoá: Đẩy mạnh phát triển thâm canh
cây lúa, các loại cây ăn trái: nhãn, vải, mía cung cấp sản phẩm cho các khu
chế biến.
- Phát triển chăn nuôi công nghiệp: Phát triển chăn nuôi lợn hàng hoá
bao gồm lợn nạc và lợn sữa theo nhu cầu của thị trường trong nước và xuất
khẩu; gia cầm lấy thịt và lấy trứng, chăn nuôi bò sữa
xuất công nghiệp và các làng nghề
- Tập trung cho nghiên cứu tạo giống mới và áp dụng công nghệ tiên tiến,
đáp ứng giống tốt cho yêu cầu sản xuất;
- Tăng cường trang thiết bị cơ khí hoá nông nghiệp, điện khí hoá nông
thôn
Tiếp tục hoàn thiện và đổi mới các chính sách thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Chính sách hỗ trợ kinh tế hộ phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu cây trồng theo qui
hoạch chung của từng vùng để đạt hiệu quả cao hơn;
+ Kết hợp chặt chẽ các tổ chức nông nghiệp nhằm cung cấp cho người
dân những giống tốt phục vụ sản xuất.
+ Bằng các loại phương tiện truyền thông, phổ biến kiến thức về thị
trường nông sản cho người dân nắm rõ.
+ Cho thuê đất để làm trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm, bò sữa và các
ngành nghề chế biến nông sản phẩm, tiểu thủ công nghiệp đối với hộ nông dân
để tạo thành vùng sản xuất tập trung, chánh ô nhiễm môi trường;
+ Hỗ trợ tốt về tín dụng giúp cho người dân yên tâm về vốn sản xuất.
+ Khuyến khích các doanh nghiệp hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo hình
thức ứng vật tư trước với các hộ sản xuất.
+ Khuyến khích Phát triển hợp tác xã và kinh tế hợp tác trong sản xuất và
xuất khẩu
Chính sách đất đai
Chính sách đất đai phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn phải giúp kinh tế hộ mở rộng qui mô, tạo ra các vùng sản xuất hàng
hoá tập trung; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi phát triển ngành nghề, công
nghiệp và dịch vụ nông thôn:
- Đẩy nhanh việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn
định lâu dài cho các hộ, nhất là các hộ làm kinh tế trang trại và các doanh
nghiệp. Khuyến khích nông dân tiến hành “dồn điền, đổi thửa” theo phương
hướng hàng hoá, quy mô lớn; kỹ thuật chế biến nông, thuỷ sản; kiến thức quản
lý, lựa chọn sản phẩm và kinh doanh theo cơ chế thị trường.
- Xã hội hoá công tác đào tạo. Đa dạng hoá phương pháp đào tạo, hướng vào
đào tạo gắn với thực tiễn, thông qua mô hình đã chuyển đổi hiệu quả để người
được đào tạo lựa chọn và học tập.
- Khuyến khích các viện nghiên cứu khoa học, các cơ sở nhân giống, các
trạm thú y, bảo vệ thực vật, khuyến nông triển khai chuyển giao công nghệ và
khoa học kỹ thuật tại cơ sở.
- 23 -
KẾT LUẬN
Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất nước, đây là
vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống. Đồng bằng sông Hồng có khí hậu mùa
đông lạnh, đất tốt (80% diện tích là đất phù sa), là vùng có hệ thống thuỷ lợi tốt
nhất nước (tưới tiêu chủ động 80% diện tích, trong đó có 60% diện tích có nước
tưới phù sa).
Mật độ dân cư ở đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam
(1.225 người/km²)(2006). Tổng dân số của vùng là 17.649.700 người (2003)
trong đó gần 50% số dân đang ở trong độ tuổi lao động.
Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (còn có tên khu dự trữ sinh
quyển đồng bằng sông Hồng) là một khu dự trữ sinh quyển thế giới do
UNESCO công nhận ngày 2 tháng 12 năm 2004 cho một phần đất phía Nam
vùng duyên hải Bắc bộ (thuộc đồng bằng sông Hồng). Đây là 1 trong 6 khu dự
trữ sinh quyển được UNESCO công nhận tại Việt Nam cho đến hết năm 2007.
Vùng chuyển tiếp có diện tích 54.541 ha, vùng đệm có diện tích 36.849
(ha). vùng lõi có diện tích (14.167 ha).
Khu vực có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư,
hơn 50 loài chim nước. Nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới
như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cò trắng bắc,
Xét nguồn lực phát triển, đồng bằng sông Hồng có thế mạnh sản xuất
lương thực và thực phẩm.
Thu nhập của hộ nông dân ĐBSH phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có
4 yếu tố chính, đó là vốn, lao động, đất đai và khoa học công nghệ, ngoài ra thu
nhập còn phụ thuộc vào một số yếu tố định tính khác. Tuỳ vào điều kiện sản
xuất của hộ mà thu nhập phụ thuộc từng yếu tố khác nhau.
Trong quá trình phát triển thay đổi hệ thống canh tác vẫn còn nhiều bất
cập, chính điều này đã gây rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến thu nhập của
người dân. Phân phối đất canh tác không hiệu quả, Vấn đề đầu tư, phát triển
còn chưa thực sự đến người dân, hạn chế trong quá trình chuyển giao tiến bộ
khoa học kỹ thuật nông nghiệp đến người dân, thông tin thị trường nông nghiệp
không thực sự rõ ràng và cập nhật.
Một số kiến nghị, giải pháp để phát triển hệ thống canh tác tăng thu nhập
các hộ nông dân ở các vùng: Cải thiện điều kiện tiếp cận vốn, đặc biệt với
những hộ nghèo nên xem xét việc ưu tiên tín chấp. Cải thiện hệ thống cơ sở hạ
tầng, đặc biệt là giao thông, thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng. Tăng
cường dịch vụ công và khuyến nông như giống, thuốc bảo vệ thực vật,… đặc
biệt là sự quan tâm của nhà nước đối với người nông dân bằng các chính sách
ưu đãi.
- 25 -