PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất kì một quốc gia nào trên thế giới cũng đều được tạo hoá ban tặng đầy đủ
cho các vùng đất như: như vùng đồng bằng, vùng ven biển, vùng ven đô, vùng gò đồi.
Tuy nhiên về diện tích và sự phân bố của các vùng ở các nước cũng như trong một
nước là khác hẳn nhau. Việt Nam với 3/4 diện tích gò đồi là một thí dụ điển hình. Các
vùng này có sự khác biệt đáng kể về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. Do đó mà đã
hình thành nên các hệ thống sản xuất đặc trưng cho các vùng ( đánh bắt và nuôi trồng
thuỷ sản là hệ thống sản xuất chính ở vùng ven biển…). Điều này lí giải sự đa dạng về
sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên hiện nay ở các vùng còn đang xảy ra tình trạng đó là việc bố trí cơ
cấu cây trồng, vật nuôi là chưa hoàn toàn hợp lí, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế
của vùng. Do đó mà hiệu quả mang lại từ sản xuất nông nghiệp là chưa cao. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến điều này nhưng nguyên nhân sâu xa vẫn là do người dân của các
vùng chưa xác định được hệ thống sản xuất nào phù hợp với điều kiện của vùng. Với
mục đích là được biết rõ hơn về hệ thống sản xuất ở vùng ven đô nên em sẽ tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm các hệ thống sản xuất ở vùng ven đô thành
phố Huế (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế). Phú Mậu là một xã
của huyện Phú Vang, cách thành phố Huế 5Km về phía đông bắc.
1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu
- Mục tiêu chung:
Nghiên cứu đặc điểm hệ thống sản xuất ở vùng ven đô thành phố Huế ( xã Phú
Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Mục tiêu cụ thể
+ Tìm hiểu đặc điểm nguồn lực của nông hộ:
+ Nghiên cứu các hệ thống sản xuất ở cấp nông hộ: TT, CN, NTTS, chế biến.
+ Nghiên cứu hệ thống cung ứng về đầu vào và đầu ra của các sản phẩm của hệ
thống
+ Nghiên cứu hệ thống sản xuất ở cấp độ cộng đồng
1
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
- Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo không
gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp [3]
Nghiên cứu về hệ thống sản xuất là một vấn đề rất phức tạp vì nó liên quan đến
nhiều yếu tố như: Đất đai, khí hậu, vốn, trình độ khoa học kĩ thuật, vấn đề sâu bệnh,
dịch bệnh, thị trưòng…Mục đích của việc nghiên cứu các hệ thống sản xuất là nhằm sử
dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi Đồng thời xem xét
sự tác động qua lại giữa các cây trồng, giữa trồng trọt với chăn nuôi, với nuôi trồng
thủy sản và tới hệ thống chế biến.
2.1.6. Thành phần của hệ thống nông nghiệp
Theo Đào Thế Tuấn thành phần của hệ thống nông nghiệp bao gồm: môi trường
tự nhiên như đất, khí hậu, nước ; môi trường kinh tế, xã hội như thể chế quan hệ tổ
chức, nhà nước, thị trường, xã hội dân sự và hộ nông dân. Trong môi trường kinh tế xã
hội thì thể chế đóng một vai trò cực kì quan trọng. Thành phần của hệ thống nông
nghiệp được biểu diễn ở sơ đồ sau:
3
Thể chế là các cản trở do con người đặt ra để hình thành các mối quan hệ giữa
người, giữa các tổ chức.
Thể chế bao gồm các luật chơi của xã hội bao gồm có các luật hình thức (hiến pháp,
điều lệ, luật lệ và quy định) và các ràng buộc phi hình thức (tiêu chuẩn, công ước và
các quy tắc đối xử) và các đặc điểm ép buộc của chúng. Bản thân thị trường cũng là
một thể chế. Thể chế tạo ra thị trường có hiệu quả. Thị trường hiệu quả là các thể chế
có chi phí trao đổi thấp và tạo ra lợi ích kinh tế để các tác nhân cạnh tranh với nhau qua
giá và chất lựơng.
2.1.7. Các đặc tính của hệ thống
Đất
Nướ
c
Quyết định
Môi trường tự nhiên
khi chịu tác động của stress hoặc sự đảo lộn. Một hệ thống nông nghiệp bền vững
được coi là bền vững khi bị stress xảy ra sức sản xuất có thể bị giảm nghiêm trọng sau
đó sức sản xuất đựợc phục hồi và duy trì ổn định.
- Tính công bằng: đựơc đo lường bằng sự phân bố tài nguyên đến những người tham
gia sản xuất trong cùng hệ thống.
- Tính tự chủ: tính tự chủ của hệ thống đựoc biểu thị bằng khả năng tự vận hành sao
cho có hiệu quả mà ít lệ thuộc vào môi trường.
Trong sáu đặc tính trên gồm cả đặc tính về sinh học và đặc tính về xã hội của hệ
thống.
2.1.8. Các loại hệ thống nông nghiệp
- Nông nghiệp du canh: Nông nghiệp du canh là sự thay đổi nơi sản xuất từ vùng
này sang vùng khác, từ khu vực đất này sang khu vực đất khác sau khi độ phì của đất
đã nghèo kiệt.
- Hệ thống du mục: Du mục là một phương thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu gắn
liền với các hệ thống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác.
Các kiểu du mục: Du mục hoàn toàn là sự di chuyển đàn gia súc của họ từ vùng này
đến vùng khác quanh năm. Họ đều không có nhà cửa cố định và không có hoạt động
trồng trọt. Bán du mục là những người dân chỉ nuôi và chăn thả đàn gia súc theo mùa
của đồng cỏ tự nhiên.
5
- Hệ thống nông nghiệp cố định: Là các hoạt động sản xuất nông nghiệp của
người dân được tiến hành trên những vùng, khu vực hay trên các mảnh đất cố định qua
các năm. Bao gồm các kiểu hệ thống nông nghiệp sau:
+ Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hóa: Là những hệ thống nông nghiệp chuyên
sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm nhất định. Từ đặc điểm của điều kiện tự nhiên, vị
trí đại lí của vùng, hay tập quán xã hội của một vùng nào đó. Được phân công của xã
hội mà được sản xuất một hoặc 2 loại sản phẩm chính.
+ Hệ thống nông nghiệp cố định hỗn hợp: Là hệ thống sản xuất bao gồm nhiều
loại sản phẩm cả sản phẩm trồng trọt lẫn sản phẩm chăn nuôi
+ Một số hệ thống nông nghiệp cố định phát triển có tính điển hình như: Hệ thống
Vào mùa đông ở vùng đồng bằng và các tỉnh phía bắc trồng các cây có nguồn
gốc xứ lạnh ( khoai tây, cải bắp, xu hào ) hoặc các nhóm cây xứ nóng ngắn ngày như
( ngô, đậu rau các loại ) không nhũng nâng cao sản lượng, tăng hiệu quả kinh tế mà
còn có tác dụng bảo vệ và bồi dưỡng đất [4].
Theo tác giả Bùi Huy Đáp [5] với “cơ sở khoa học của cây vụ đông” đã di sâu
nghiên cứu bố trí cây vụ đông cho nhiều vùng sinh thái có hệ thống luân canh 2 vụ lúa
– 1 vụ đông hoặc 1 vụ lúa – 1 vụ màu – 1 vụ đông
Lê Quốc Hưng (1994) [6] khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho vùng gò
đồi tỉnh Hà Tây đã đề xuất mô hình canh tác mới đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn mô
hình cũ
- Trên chân đất cao thiếu nước: Cây ăn quả - lúa – cá
- Trên đất gò đồi đang canh tác: Chè – cây ăn quả - dứa
- Trên đất gò đồi hoang hóa: cây keo tai tượng cải tạo đất, đến năm thứ 6 thu
hoạch và trồng cây công nghiệp dài ngày
* Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăn nuôi
Các tác giả Vũ Đình Tôn, Phan Đăng Thắng ( trung tâm nghiên cứu liên
nghành và phát triển nông thôn, đại học nông nghiệp hà nội), S. Desvaux (CIRAD,
PRISE Consortium in Vietnam, Viện thú y quốc gia, Hà Nội), M. Peyre, J-F. Renard,
F. Roger (Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, F34398,
Montpellier, Pháp) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hệ thống chăn nuôi
gia cầm và HPAI. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 3-8/2007 tại tỉnh Hà Tây (Đồng bằng
sông Hồng) và Long An (Đồng bằng sông Cửu Long). Kết quả nghiên cứu là có 3 hệ
7
thống chăn nuôi gia cầm chính bao gồm các hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô hàng
hóa với sự đầu tư tốt chuồng trại (hệ thống 1); các hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô
hàng hóa không có đầu tư chuồng trại (hệ thống 2); hệ thống chăn nuôi gia cầm quy
mô nhỏ (hệ thống 3). Số lượng gia cầm được nuôi trong các hệ thống chăn nuôi gia
cầm quy mô hàng hóa nhiều hơn rất nhiều hệ thống chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ. Số
lượng các loài gia cầm được nuôi trong các hệ thống 2 và 3 nhiều hơn trong hệ thống 1.
Tỷ lệ các nông hộ có đàn gia cầm bị mắc H5N1 trong giai đoạn 2003-2005 ở hệ thống
thống chuồng có sân chơi, đường chạy đã được nghiên cứu chi tiết. Đường chạy được
đặt trên cao của vùng đất được tạo bởi một lớp vỏ trên một màng chống thấm. Do vậy,
nước mưa và nước tiểu được lưu lại, điều đó có nghiã là không bị ngấm xuống đất.
Nhìn chung, một hệ thống như vậy mang lại kết quả chăn nuôi rất tốt (Jensen và
Andersen, 2000). Tuy nhiên, việc kiểm soát ký sinh trùng là rất khó. Một điểm thú vị
khác của phương thức này là lượng Nitơ mất đi từ khu vực bên ngoài nhỏ hơn nhiều so
với những gì dự đoán (Mứller et al., 2000) và lượng Nitơ lỏng thu được trong vùng đất
này là cực kỳ thấp, thể hiện rằng lượng Nitơ này được tạo gắn sâu vào ổ rơm dày qua
con đường vi sinh vật.
Đối với lợn nái nuôi ngoài trời. Vaarst và cs (2000) theo dõi một vài bệnh lâm
sàng. Những tổn thương cơ học gây gãy chân, tổn thương da và cháy nắng là những
biểu hiện lâm sàng nổi bật nhất. Feenstra (2000) đã nghiên cứu sự lan truyền mầm
bệnh qua các mẫu máu và kiểm tra phổi lúc giết mổ từ 4 đàn lợn nuôi hữu cơ. Kết luận
rằng phổi của chúng tốt hơn so với những đàn nuôi theo phương thức truyền thống,
điều này tương tự như kết quả cuộc điều tra của Thụy điển tiến hành tại lò mổ (Hansen
và Cs 1999).
Kháng thể đối với vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia và Salmonella có xuất
hiện ở lợn nái từ tất cả các đàn. Những kháng thể này không có ở lợn con nhưng kháng
thể với vi khuẩn Salmonella được tìm thấy ở lợn nuôi đến giai đoạn kết thúc tại độ
chuẩn thấp. Bệnh tiêu chảy của lợn sau cai sữa do vi khuẩn Escherichia coli là vấn đề
sức khỏe nổi bật nhất.
Trong một nghiên cứu so sánh độ tuổi cai sữa lúc 5 và 7 tuần tuổi, Andersen và
ctv (2000) thấy rằng không có sự khác nhau nào về sự giảm khối lượng (giảm 4 - 3 kg),
hay sự xâm phạm đối với lợn con về tuổi cai sữa.[8]
* Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chế biến
9
Trường đại học Nông Lâm TP.HCM đã kết hợp với Sở Công Thương Tiền
Giang thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị chế biến hủ tiếu quy
mô vừa và nhỏ năng suất 1 tấn/ngày” nhằm tìm ra giải pháp về công nghệ và thiết bị để
giải quyết những khó khăn trên trong việc sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản xuất hủ tiếu
Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (cũ) đã đầu tư cho Thanh Hóa Dự án xây dựng
mô hình kinh tế lâm nông kết hợp trên vùng gò đồi nghèo khó xã Cẩm Châu, huyện
Cẩm Thủy. Sau 5 năm thực hiện, Dự án đã tạo được các mô hình trình diễn về kinh tế
tổng hợp vùng gò đồi gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây nông lâm kết hợp và chăn
nuôi để phát huy tối đa tiềm năng đất đai. Khi thực hiện dự án Cẩm Châu, chúng ta đã
trồng được 230ha cây ăn quả tập trung. Người dân đã tự bỏ vốn trồng thêm hàng trăm
hécta cây ăn quả phân tán trong vườn rừng, tạo ra một vùng cây ăn quả lớn, trù phú,
nhưng do không có đầu ra ổn định, giá cả bấp bênh, có năm giá nhãn rớt xuống chỉ còn
1.500đồng/kg. Nhà nước chưa đầu tư xây dựng hoặc liên kết xây dựng nhà máy chế
biến nên năm 2006, 2007 dân Cẩm Châu đã chặt gần 2.000 gốc nhãn, vải để trồng
luồng và quay lại sản xuất lương thực vì ngô sắn đang có giá cao. Những cây nhãn còn
lại trên đồi cũng bị tỉa thưa cành nhánh sát đến ngọn. Họ không quan tâm đến năng
suất cây ăn quả mà nghĩ làm sao rút đất ra cho sản xuất lương thực càng nhiều càng tốt.
Rõ ràng bài toán cây ăn quả vùng đồi vẫn loanh quanh chưa có định hướng phát triển
bền vững, cũng như trong nông nghiệp với cây mía, cây dứa, cà phê hoặc bò sữa
người dân dễ mất phương hướng chạy theo thị trường ngắn hạn, nhưng chính họ cũng
không biết là thị trường không[13]
* Các nghiên cứu về hệ thống sản xuất ở vùng đồng bằng
Kết quả nghiên cứu của Học Viện Nông nghiệp Quốc gia Paris – Grignon, Pháp
[14] là : Các hệ thống sản xuất chính là, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và nuôi
cá quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và chăn nuôi động vật dạ
dày đơn quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh - chăn nuôi và canh tác cây ăn
quả hoặc làm vườn quy mô hàng hoá, hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và thu
nhập từ các công việc ngoài nông nghiệp và hệ thống sản xuất đa canh – chăn nuôi và
bán một phần các sản phẩm ở quy mô sản xuất nhỏ.
* Các nghiên cứu về hệ thống sản xuất ở vùng ven đô
Hiện nay do tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp và đô thị hóa nông thôn
ngày càng mở rộng, nên diện tích đất nông nghiệp nói chung, diện tích đất trồng lúa
nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Tuy nhiên, diện tích đất vùng ven các đô thị ngày càng
11
tập huấn…
Nghiên cứu các hệ thống sản xuất ở cấp nông hộ: TT, CN, NTTS, chế biến.
+ Trồng trọt:
- Diện tích đất trồng trọt
- Các loại cây trồng, cơ cấu diện tích các loại cây trồng
- Mùa vụ gieo trồng và thu hoạch của các loại cây trồng
- Các yếu tố ảnh hưởng ( tích cực và tiêu cực) tới việc trồng các loại cây này
Điều kiện tự nhiên: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, tình hình sâu bệnh, đất đai…
Điều kiện kinh tế xã hội: cơ sở hạ tầng, thu nhập, mức sống của các khách hàng,
phong tục tập quán,
Các chính sách, thể chế: những chính sách của địa phương
13
Thông tin thị trường: khả năng tiếp cận các thông tin, tiếp cận như thế nào và các hình
thức tiếp cận
- Chi phí của hệ thống ( nghìn đồng/sào/vụ)
- Thu nhập từ trồng trọt
+ Chăn nuôi
- Các loại vật nuôi, số lượng các loại vật nuôi, các loại thức ăn và nguồn cung cấp thức
ăn cho các loại vật nuôi
- Chi phí từ chăn nuôi ( nghìn đồng/năm)
- Thu nhập từ chăn nuôi
- Các yếu tố ảnh hưởng ( tích cực và tiêu cực) đến việc chăn nuôi
+ Nuôi trồng thuỷ sản
- Chi phí từ nuôi trồng thuỷ sản (nghìn đồng/năm)
- Thu nhập từ nuôi trồng thuỷ sản
- Các yếu tố ảnh hưởng tới nuôi trồng thuỷ sản
Điều kiện tự nhiên: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, tình hình sâu bệnh, đất đai…
Điều kiện kinh tế xã hội: cơ sở hạ tầng, thu nhập, mức sống của các khách hàng,
phong tục tập quán
Các chính sách, thể chế: những chính sách của địa phương
- Thu thập thông tin thứ cấp
+ Lấy thông tin từ cục thống kê
+ Từ UBND xã
+ Thu thập thông tin từ sách báo, internet…
- Thu thập thông tin sơ cấp
Chọn mẫu điều tra
+ Chọn mẫu ngẫu nhiên 30 hộ thuộc 8 thôn của xã Phú Mậu
+ Ngoài ra tiến hành phỏng vấn cán bộ khuyến nông xã
phương pháp phỏng vấn hộ bằng bảng câu hỏi có cấu trúc
+ Đi thực địa, khảo sát tình hình các hệ thống sản xuất ở xã
3.6. Xử lí số liệu
- Dùng các hàm trên phần mềm Excel như hàm average, max, min, sum…
15
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình hình cơ bản của xã Phú Mậu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Phú Mậu
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa hiện nay vị trí địa lý của địa bàn sản
xuất đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất
cũng như trong vận chuyển tiêu thụ sản phẩm đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp. Cụ thể là: nếu một địa phương nào đó có vị trí địa lí là một nơi trung tâm được
nhiều người biết đến, đồng thời là nơi dễ dàng để giao lưu được với các địa phương
khác thì chắc chắn địa phương đó sẽ có nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế của
mình.
Phú Mậu là một trong những xã của huyện Phú Vang. Nếu tính theo đường
chim bay thì xã Phú Mậu cách trung tâm thành phố Huế 3km, cách huyện lị Phú Vang
22km đi về phía tây. Nhưng do địa hình bị cách trở bởi các con sông suối, do đó mà
khoảng cách từ trung tâm thành phố Huế đến địa bàn xã lên tới 6Km. Đây là một khó
khăn lớn đối với người dân Phú Mậu và cần có biện pháp khắc phục.
Vị trí địa lý của xã được xác định như sau:
Do địa hình được bao bọc bởi hai mặt sông và thấp trũng nên khi mùa lũ về gây nên
tình trạng xói lở xâm thực bờ sông ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân.
4.1.1.3. Điều kiện thời tiết khí hậu
Thời tiết khí hậu là điều kiện tiên quyết, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Nếu gặp thời tiết thuận lợi như mưa thuận gió hòa thì vụ mùa của bà
con nông dân sẽ bội thu, đời sống của họ sẽ được cải thiện. Ngược lại nếu thời tiết mà
hết sức khắc nghiệt thì bà con nông dân sẽ bị mất trắng tay, khi đó cuộc sống của họ sẽ
gặp không ít những khó khăn. Để giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp thì cần
phải có nhiều biện pháp để né tránh thiên tai vào các giai đoạn đỉnh điểm của cây trồng
như trổ, sắp thu hoạch. Để làm được điều này thì đòi hỏi chúng ta phải nắm được diễn
biến thời tiết, khí hậu của địa phương trong những năm gần đây. Do đó chúng ta cần
phải tiến hành nghiên cứu tình hình thời tiết, khí hậu của vùng. Sau khi chúng ta nắm
vững về tình hình thời tiết, khí hậu của một vùng nào đó thì bắt đầu đưa về cho vùng
một lịch thời vụ hợp lí và khuyến cáo cho bà con nên trồng các loại giống gì? Thời
điểm trồng của các loại giống đó, làm tăng hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp. Bên
17
cạnh đó còn góp phần xây dựng kế hoạch phòng chống bão lũ, hạn hán nhằm giảm nhẹ
thiên tai và đảm bảo nguồn nước vào mùa khô.
Xã Phú Mậu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ
rệt. Đó là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài hơn mùa nắng, mùa mưa thì bắt đầu
từ tháng 9 năm trước và kéo dài cho đến tháng 3 năm sau. Mùa nắng thì chỉ bắt đầu từ
tháng 4 và kết thúc trong tháng 8. Đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp hoạt động của
hai loại gió mùa chính, đó là gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam. Gió Đông Bắc bắt
đầu hoạt động từ tháng 10 năm trước và kết thúc vào tháng 3 năm sau thường gây mưa
lụt vào tháng 10 và tháng 11. Gió Tây Nam hoạt động từ tháng 4 và kết thúc vào tháng
8, thường gây nóng và khô hạn.
Mặt khác xã Phú Mậu còn chịu ảnh hưởng của gió Lục Địa và gió Đại Dương,
thường xuyên hoạt động làm thay đổi đến chế độ nhiệt ẩm trong các mùa.
Chế độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm trung bình của các tháng được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Số liệu thời tiết khí hậu trung bình trong 10 năm của xã
0
C). Với điều kiện nhiệt độ này đa số các
loại hoa cúc, rau các loại, màu, dưa chỉ thích hợp trong vụ Đông Xuân, còn vụ Hè
Thu thì chỉ rất ích giống là thích hợp. Nhưng lúa là loại cây trồng khá thích hợp với
điều kiện nhiệt độ này trong cả hai vụ. Tuy nhiên để có năng suất lúa vụ Hè Thu cao
thì cần phải thu hoạch khẩn trương trước ngày mồng 2/9. Nếu không thì sẽ gặp nhiều
rủi ro và có thể mất trắng vụ Hè Thu.
Ẩm độ
Ẩm độ trung bình của các tháng giao động từ 77,3% - 92,6%. Từ tháng 10 năm
trước đến tháng 2 năm sau độ ẩm đạt cao nhất 90,4% - 92,6%. Độ ẩm cao đây là điều
kiện hết sức thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại, ảnh hưởng xấu tới quá trình sinh
trưởng và phát triển của các loại cây trồng. Vào các tháng có độ ẩm cao này thì không
thuận lợi để thu hoạch các sản phẩm có hạt ( lúa, đậu các loại, bắp) và các loại bông.
Nếu thu hoạch về thì tỉ lệ sản phẩm bị hỏng cao, đồng thời sẽ không bảo quản được
trong thời gian dài. Nhưng đây lại là điều kiện hết sức thuận lợi cho các giai đoạn như
làm bông và phơi màu của cây lúa, và các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các loại
cây trồng khác. Các tháng 6,7,8 có độ ẩm thấp nhất trong năm là 77,3% - 78,8% thuận
lợi cho giai đoạn phân hóa mầm hoa và ra hoa.
Lượng mưa
Mưa tập trung nhiều vào các tháng 9, 10, 11 (462,2mm - 854,4mm). Trong đó
lượng mưa đo được cao nhất vào tháng 11 đạt 854,4mm. Hầu hết các loại cây trồng
khi đã vào mùa thu hoạch thì đều cần có thời tiết nắng ráo, do đó cần phải bố trí thời vụ
cho các loại cây trồng để thời điểm thu hoạch không rơi vào các tháng này.
Lượng mưa trung bình thấp vào các tháng 2, 3, 4, 6, 7 (59,5mm - 92,1mm). Tháng 3 có
lượng mưa thấp nhất là 59,5mm. Với điều kiện thủy lợi hạn chế, các tháng này thường
xảy ra tình trạng khô hạn do thiếu nước tưới. Vào các tháng có lượng mưa thấp này thì
không thích hợp để trồng các loại cây. Đặc biệt nếu thời kì trổ bông của cây lúa mà rơi
19
vào thời điểm này thì tỉ lệ bông lép và hạt lép sẽ cao. Nếu trồng các loại cây vào các
tháng này thì phải chủ động được nguồn nước tưới.
chuyên dùng
Ha 166,82 20,16 166,82 20,16
Diện tích đất chưa sử dụng
( đất sông suối và mặt nước)
Ha 98,26 11,87 98,26 11,87
Diện tích đất NTTS Ha 0,91 0,11 0,91 0,11
Đất trụ sở cơ quan công trình
sự nghiệp
Ha 0,75 0,09 0,75 0,09
Đất có mục đích công cộng Ha 59,96 7,25 59,96 7,25
Đất tôn giáo Ha 9,51 1,150 9,51 1,150
Đất nghĩa trang, nghĩa địa Ha 32,95 3,98 32,95 3,98
Đất sản xuất nông nghiệp Ha 426,83 51,58 426,83 51,58
( Nguồn: báo cáo tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2007 - 2008 )
Qua bảng 2 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 827,46 ha. Đất đai
của xã sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: Đất dùng để sản xuất nông nghiệp,
đất có mục đích công cộng, đất chuyên dùng và thổ cư, đất tôn giáo, đất nghĩa trang,
nghĩa địa, đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp, đất sông suối và mặt nước. Trong
đó đất sản xuất nông nghiệp là 395,26 ha, chiếm một tỉ lệ tương đối cao ( 49,67%). Đất
thổ cư và đất chuyên dùng của xã cũng chiếm một tỉ lệ lớn ( 20,96% ), đất này có xu
hướng tăng lên theo thời gian, bởi vì nhu cầu về nhà ở ngày càng cao. Một diện tích đất
tương đối lớn của xã chưa sử dụng 98,26 ha chiếm 12,35% tổng diện tích đất tự nhiên
của xã, đó là đất sông suối và mặt nước, đất này có thể nuôi trồng thủy sản. Đất trụ sở
cơ quan công trình sự nghiệp chỉ 0,75ha chiếm 0,09%. Đất nghĩa trang, nghĩa địa
chiếm 3,98%. Đất tôn giáo chiếm 9,51%. Đất nuôi trồng thủy sản chiếm một tỉ lệ rất
nhỏ là 0,1% tổng diện tích đất tự nhiên Tất cả các loại đất này không có sự biến
động trong hai năm 2007, 2008.
21
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1. Tình hình dân số và lao động
1. Bình quân nhân khẩu/hộ Khẩu 4,60 4,50
2. Bình quân lao động/hộ Lao động 2,47 2,35
Bình quân lao động nông
nghiệp/hộ
Lao động NN 1,45 1,37
( Nguồn: báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã năm 2007 – 2008 )
22
Qua bảng 3 trên ta thấy rằng: Hiện nay toàn xã có 1871 hộ tăng 92 hộ so với
năm 2007. Trong đó có 1079 hộ là tham gia sản xuất nông nghiệp, 700 hộ là hộ sản
xuất phi nông nghiệp. Trong khoảng thời gian hai năm 2007 đến 2008 thì số hộ sản
xuất nông nghiệp không thay đổi, còn số hộ phi sản xuất nông nghiệp tăng lên 92 hộ.
Số nhân khẩu của xã năm 2008 là 8417 người tăng 94 người so với năm 2007. Số nhân
khẩu nam chiếm 63,9%, còn số nhân khẩu nữ chỉ chiếm 36,1%. Số nhân khẩu nam có
xu hướng giảm dần, còn số nhân khẩu nữ có xu hướng tăng dần từ 35,73% - 36,1%.
Tổng số lao động cũng có xu hướng giảm dần từ 4400 lao động giảm xuống 4395 lao
động. Lao động nữ chiếm 51%, còn lao động nam chiếm 49%, đây là một khó khăn
trong sản xuất nhất là trong sản xuất nông nghiệp cần những lao động khỏe mạnh. Lao
động nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn hơn lao động phi nông nghiệp và lao động nông
nghiệp có xu hướng giảm dần, ngược lại thì lao động phi sản xuất nông nghiệp có xu
hướng tăng dần. Lao động sản xuất nông nghiệp từ 58,48% xuống còn 58,45%. Lao
động phi sản xuất nông nghiệp từ 41,22% lên tới 41,55%. Bình quân mỗi hộ gia đình
có 4,5 người, có 2,35 lao động trong đó có 1,37 là lao động nông nghiệp. Số nhân
khẩu/hộ, số lao động/hộ và số lao động nông nghiệp/hộ đều có xu hướng giảm dần
trong hai năm 2007,2008. Cụ thể: Năm 2007 trung bình mỗi hộ gia đình có 4,6 người
nhưng đến năm 2008 thì giảm xuống còn 5,5 người. Bình quân lao động/ hộ năm 2008
là 2,35 người trong khi năm 2007 là 2,47 người. Lao động nông nghiệp năm 2007 là
1,45 lao động, còn năm 2008 là 1,37 lao động, bởi vì nhiều lí do như: xã hội ngày càng
phát triển thì mỗi con người được học hành đầy đủ hơn do đó mà tỉ lệ công dân đi học
nghành, học nghề là lớn, hai nữa do có nhiều khu công nghiệp ra đời, nó đã thu hút rất
nhiều lao động, nhất là lao động từ sản xuất nông nghiệp.
với công ti quản lí kĩ thuật công trình thủy lợi tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong đó HTX
nông nghiệp phú mậu 2 chỉ có một trạm bơm điện Vọng Trì. Trạm này có 2 máy công
suất 2000m
3
/giờ đảm trách diện tích 100ha 2 vụ. Trong vụ hè thu nếu bị hạn nặng có
khả năng bơm chuyền qua hói Mậu Tài của HTX nông nghiệp Phú Mậu 1. HTX nông
nghiệp Phú Mậu 1 thì có 2 trạm bơm điện. Ngoài ra xã còn hợp đồng với các tư nhân
có máy bơm dầu để phục vụ tưới tiêu cho vùng sản xuất.
+ Kênh tưới
Hệ thống thủy lợi phục vụ tưới và tiêu nước của xã là đã khá hoàn thiện. Từ
năm 2000 tới nay cùng với sự đầu tư kinh phí của huyện và của công ti quản lí kĩ thuật
công trình thủy lợi tỉnh Thừa Thiên Huế thì xã Phú Mậu đã kiên cố hóa được 12,3 Km
24
kênh mương. Trong đó 9km là nguồn ngân sách của huyện và nhân dân đóng góp. Còn
3,3 km là nguồn ngân sách của công ti quản lí kĩ thuật công trình thủy lợi. Thật vậy
trong khoảng thời gian từ năm 2000- 2008 với nguồn ngân sách mà huyện bỏ ra là gần
1,8 tỉ đồng cùng với 672 triệu đồng do các hộ gia đình đóng góp thì trên địa bàn xã đã
kiên cố hóa kênh mương đựơc 9,0025Km. Trong đó thì 4,7135Km là của địa bàn HTX
nông nghiệp phú mậu 2. Còn 4,289Km là của địa bàn HTX nông nghiệp Phú Mậu 1.
Cũng trong khoảng thời gian này với nguồn kinh phí của công ti quản lí kĩ thuật công
trình thủy lợi tỉnh Thừa Thiên Huế thì năm 2000 xây dựng trạm bơm Phú Mậu 1 với hệ
thống kênh mưong dài là 0,57Km. Trạm bơm Phú Mậu 3 được xây dựng năm 2004 có
hệ thống kênh mương dài là 1,737Km. Đồng thời năm 2000 kiên cố hóa được 0,6Km
và đến năm 2001 kiên cố được 0,4Km ở trên địa bàn HTX Phú Mậu 2
4.2. Đặc điểm nguồn lực của nông hộ
4.2.1. Đất đai
Phú Mậu là xã ven đô thành phố, đây là xã đã áp dụng chính sách dồn điền đổi
thừa từ năm 2005. Hiện nay đất canh tác giảm so với trước đây do trích 5% diện tích
đất tự nhiên của xã làm quỹ đất công ích ( đất dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, cấp đất
nhà ở và đất nghĩa trang ). Do đó mà hiện nay bình quân mỗi nhân khẩu có 530m