Báo Cáo Thực tập giáo trình tại Công ty cổ phần giống cây trồng – vật nuôi TT Huế - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA CƠ KHÍ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO
THỰC TẬP GIÁO TRÌNH
Sinh viên : Hoàng Nữ Thanh Dung
Lớp :Cơ khí bảo quản K40
Thời gian TT: từ ngày 9/4/2009 đến ngày 28/4/2009Huế, 04/2009
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
* Giới thiệu sơ lược về ngành học
Ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm thuộc khoa Cơ khí – Công
nghệ nằm trong trường Đại học Nông Lâm Huế, đó là một ngành khá mới, đến
nay ngành này đã được thành lập cách đây 4 năm. Do là một ngành khá mới mẻ
nên nó cũng gặp không ít khó khăn.
* Giới thiệu về thực tập giáo trình
Do là một ngành khá mới mẻ nên nó cũng gặp không ít khó khăn. Địa
điểm thực tập còn hạn chế. Được sự đồng ý của nhà trường, của khoa và đặc biệt
là được sự chấp thuận các cơ sơ thực tập này, đã giúp cho chúng em có được một
số hiểu biết thực tế, biết được một số dây chuyền công nghệ
Mục đích:
2. NỘI DUNG
2.1. Dây chuyền chế biến hạt giống
- Thời gian thực tập: 7
h
30 – 11
h
ngày 9/4/2009.

o Nguyên lý làm việc: hệ thống sấy làm việc theo nguyên lý tỏa nhiệt.
o Có 2 lò đốt bằng than đá.
o Có mạch điều khiển nhiệt độ: t = 42
o
C.
Nếu t < 42
o
C thì hiệu quả sấy sẽ không cao.
Nếu t > 42
o
C thì ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống (mầm hạt chết đi).
o Tháp: Nguyên liệu đi từ trên
xuống, không khí nóng đi từ dưới
lên.
o Thời gian sấy phụ thuộc vào
nguyên liệu đầu vào của tháp.
o Độ ẩm hạt giống ban đầu: A
o
= 22 %
o Độ ẩm có thể bảo quản: A
o
=
13÷14 %
o Thời gian sấy: t = 10÷12 h
o Có bộ phận kiểm tra độ ẩm, nhiệt độ trong lò
Lấy mẫu để kiểm tra xem độ ẩm đã đạt chưa
o Thường ít nhất phải đảo 1 lần/mẻ. Để đảo, ta tiến hành xả cửa xả.
Thông qua cửa xả, một nửa nguyên liệu được xả vào bể chứa nguyên liệu và
thông qua hệ thống gàu tải đưa nguyên liệu vừa được xả lên lại tháp để sấy. Khi
đó, ở tháp sấy đã có hiện tượng đảo nguyên liệu sấy, tức là một nửa phía trên sẽ

trấu, lép, lửng, thân cây (dau dau) v.v
Sàng được đặt nằm nghiêng, chuyển động của sàng tạo nên chuyển động đặc
trưng của hạt trên đó.
Trong hệ thống này còn có thêm hệ thống hút bụi để loại bỏ bụi bẩn bám trên
hạt. Một số vỏ trấu, lép, lửng được hút lên và thải ra ngoài còn những hạt nhỏ và
đá sỏi thì được loại bỏ xuống phía dưới.
Sau khi ta sàng phân loại xong, thì những hạt gạo trong nguyên liệu vẫn chưa
được loại trừ. Do đó sau quá trình sàng phân loại, nguyên liệu tiếp tục qua hệ
thống gàu tải được chuyển lên và qua hệ thống lọc và phân loại.
* Hệ thống lọc và phân loại
Ở hệ thống này, nguyên liệu sẽ tiếp tục được lọc để loại bỏ những thành phần
mà không có khả năng nảy mầm ra khỏi lượng để làm giống. Một số hạt gạo
được lọc để tách ra khỏi hạt giống thông qua trống phân li.
Hệ thống này cũng có bộ phận hút bụi bẩn còn sót lại ở bề mặt hạt.
* Hệ thống xử lý hóa chất
Hạt sau khi được sấy khô, được sàng
để loại bỏ tạp chất và lọc để tách gạo ra
khỏi thành phẩm thì cần phải tiến hành xử
lý hóa chất, bởi vì hạt vẫn còn tồn dư một
lượng mối mọt rất lớn, mà yếu tố này nếu
nhiều sẽ làm giảm chất lượng của hạt
giống, giảm khả năng nảy mầm v.v
Hóa chất có nhiều dạng.
Ví dụ:
- Dạng lỏng: hóa chất này dùng
để xử lý mối mọt bằng cách phun sương.
- Dạng bột: hóa chất này cũng
dùng để xử lý mối mọt.
Trong sơ đồ cấu tạo hệ thống này, phía trên có 2 thùng: một thùng để chứa
hóa chất (dạng lỏng) còn thùng kia để chứa nguyên liệu. Sau khi nguyên liệu đi

h
ngày 10/4/2009.
- Địa điểm thực tập: Công ty thực phẩm và đầu tư công nghệ - Nhà máy tinh
bột sắn Thừa Thiên Huế.
Địa chỉ: Km 802 – QL1A – Phong An – Phong Điền – Thừa Thiên Huế.
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất: Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế.
+ Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế phát triển mạnh trong 8 năm trở lại
đây, sản phẩm thu được của quá trình chế biến là bột lọc và sắn củ khô và chủ
yếu là tinh bột sắn. Đặc biệt là trong vòng 4 năm trở lại đây thì Nhà máy đã có
một bước phát triển rất lớn và nổi bật, đạt được những thành tựu to lớn.
+ Nhà máy gồm có 120 công nhân viên.
+ Nhà máy tinh bột sắn Thừa Thiên Huế được xây dựng vào năm 2002, và
hoàn thành vào năm 2004.
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm: xuất khẩu nội địa chỉ nhỏ, lẻ và mục tiêu chủ
yếu là để xuất khẩu sang các nước khác như Nhật Bản, Singapo, Úc, v.v
+ Tinh bột sắn được dùng làm nguyên liệu đầu vào của các ngành công
nghiệp khác, hiện nay có khoảng 200 mặt hàng công nghiệp khác sử dụng tinh
bột sắn để làm nguyên liệu. Người ta thống kê có khoảng 4000 sản phẩm được
tạo thành mà nguyên liệu của các sản phẩm đó lại là tinh bột sắn. Hiện nay ở mặt
hàng nội địa thì tinh bột sắn dùng để làm thực phẩm như mì tôm, dược phẩm
(làm chất nền của thuốc, tạo Glucoza), bột ngọt, kẹo hải hà, bì ni lông, Etanol (từ
củ sắn tươi).
+ Giá sắn tươi khi nhập vào nhà máy: 700-800 đồng
+ Vốn đầu tư thiết bị: 56 tỉ
- Nội dung:
+ Công nghệ: Công nghệ sản xuất tinh bột sắn cũng tương tự như sản xuất
bột lọc thủ công, nhưng chúng ta cần phải cơ giới hóa các công đoạn.
Sơ đồ công nghệ:
Trích ly thô


tương tự như bột tựa thủ công
mà ta đã xay ra.
- Củ sắn được đưa vào phễu liệu,
sau đó được tiếp tục đưa lên băng tải
và đi vào thùng chứa củ. Ở đây thông
qua hệ thống trống rửa để rửa sạch củ
bẩn. Sắn được tiếp tục chuyển sang
lòng bóc vỏ để bóc vỏ lụa, từ đó ta có
củ sắn sạch.
- Củ sắn sau khi làm sạch xong được băm nhỏ và được đưa qua 3 máy
nghiền, từ đó mẫu sắn được nghiền nhỏ ra.
- Sản phẩm sau khi nghiền xong bao gồm: tinh bột, dịch bào và nước (trong
đó tinh bột chiếm 25÷30%). Cho nguồn sản phẩm đó vào máy trích ly, máy này
hoạt động theo nguyên lý li tâm, máy trích ly dùng để tách bã. Hỗn hợp sau khi
trích ly xong ta thu được gọi đó là hỗn hợp sữa, còn bã sẽ đi ra ngoài.
- Ứng với các bước lắp đặt khác nhau ta sẽ thu được hỗn hợp sữa không còn
xơ và bã đi ra ngoài có ít tinh bột nhất nhằm mục đích để đạt hiệu quả cao nhất,
tức là sản phẩm thu được gồm nước, tinh bột tự do và bã.
* Trích ly:
- Trích ly thô: tách sữa ra khỏi dòng chảy
- Trích ly tinh: tách sữa ra khỏi dòng chảy
*. Phân ly:
- Máy ly tâm dạng
đĩa.
- Đây là công đoạn
quyết định đến chất
lượng sản phẩm: bằng
cách tách lượng mủ ra
ngoài (gồm 2÷3 bước),
tức là cứ cô đặc rồi hòa

- Truyền nhiệt:
+ Dầu nhiên liệu đốt nóng lên để gia nhiệt cho khối dầu truyền nhiệt lên
khoảng 260
o
C, sau đó đi vào dàn Clorifer. Dầu đóng vai trò là môi chất truyền
nhiệt trung gian cung cấp lượng gió.
Không khí được làm sạch đi qua dàn Clorifer, sau đó đi qua tháp sấy cao
30m Ống sấy: hỗn hợp gồm tinh bột, hơi nước, không khí.
Để tách tinh bột: dùng xyclon để tách H
2
O, không khí, hơi ẩm ra khỏi hỗn
hợp. Sau đó, ta hút tinh bột và tiến hành làm nguội rồi đưa đến bao tự động.
Thực phẩm tinh bột sắn có độ ẩm A
o
= 12,5%.
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất thì chúng ta cần phải có thêm hệ thống
kiểm soát quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000.
Sau khi qua các công đoạn ta tiến hành kiểm tra:
+ Nếu đạt: chứng nhận, nhập kho. Cân định lượng: 50 kg;
+ Không đạt: tái chế lại.
Tất cả các giai đoạn trên đều có quá trình kiểm soát trung gian. Nếu các bước
đi theo một “barem” nào đó thì hiệu quả dây chuyền sẽ cao nhất.
* Hệ thống xử lý nước thải.
- Lưu lượng nước thải: 840 m
3
/ngày
- Nước thải gồm: dịch bào (vỏ lụa).
Từ dịch bào, ta đưa qua lồng bóc vỏ (sàng tay) rồi qua hệ thống lắng, sau đó
đưa qua hồ xử lý đất đá, xúc đi.
- Lượng nước thải ra có hệ thống phụ trợ như:

+ Đề xuất:
2.3. Dây chuyền chế biến gỗ.
- Thời gian thực tập: Chiều: 1
h
30 – 5
h
ngày 10/4/2009
- Địa điểm thực tập: Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế HUWOCO
Địa chỉ: Khu công nghiệp Phú Bài
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất:
+ Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế HUWOCO được thành lập:
9/2006, tiền thân là xí nghiệp chế biến gỗ Phú Bài hoạt động ngày 26/3/2002,
trực thuộc công ty xây lắp Thừa Thiên Huế.
+ Tổ chức: Gồm
- Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát: Giám đốc.
- Phòng nghiệp vụ: phòng tài chính – hành chính, phòng kế hoạch kinh
doanh và phòng kỹ thuật.
- Các tổ phụ trợ: điện, KCS, bảo vệ
+ Có 2 xưởng sản xuất:
- Xưởng sơ chế: xẻ, sấy
- Xưởng tinh chế hoàn thiện
+ Sản phẩm chính: sản xuất hàng ngoài trời phục vụ xuất khẩu ra châu Âu,
châu Mỹ; hàng nội thất trong một phần nhỏ dùng để tiêu thụ trong nước, còn
phần lớn thì xuất khẩu sang nước Hàn Quốc.
+ Doanh thu: 20÷25 tỉ VNĐ
- Nội dung:
+ Công nghệ sản xuất gỗ:
* Nguyên liệu: Sản xuất gỗ tràm, gỗ keo là chủ yếu được thu mua ở khu vực
Quảng trị, Thừa Thiên Huế; ngoài ra còn sản xuất một số loại gỗ như gỗ lim, gỗ

o Quạt 2 chiều, sau 4
h
đảo chiều giúp sấy đồng đều hơn.
o Lấy không khí trong phòng, cần kê gỗ để có các khoảng hở.
o Sấy bằng ẩm: gỗ không bị cong, nứt; sấy bằng hơi nước: gỗ bị cong
* Nhận xét:
- Không phải là dây chuyền cứng
- Chưa được chuyên môn hóa cao
- Đi theo dây chuyền công nghệ, có thể đi theo ziczăc nhưng vẫn theo dây
chuyền
+ Dây chuyền thiết bị:
* Một số thiết bị:
- Xẻ: gồm các máy:CD đứng, CD nằm, cắt đứt, cưa mông xẻ dọc, cưa lộng
- Sấy: gồm nồi hơi, phòng sấy (dàn nhiệt).
- Định hình: máy bào 2 mặt, máy bào 4 mặt, máy phay 1 trục, máy phay 2
trục
- Định vị: máy đánh mộng ovan dương, máy đánh mộng ovan âm, máy đánh
mộng 2 đầu, máy phay mộng 1 đầu, máy phay mộng 2 đầu, máy cắt ngang bàn
trượt, máy khoan, máy đục.
- Chà nhám: máy chà nhám thủng (loại 1,2m và loại 0,6m), máy chà nhám
rung (trục ngang, trục đứng), máy chà nhám cong.
- Lắp ráp: các bàn cảo, máy cảo thủy lực. công cụ chủ yếu bằng hơi hoặc cảo
cơ khí (vít me đai ốc).
- Ráp nguội: máy chà nhám rung cầm tay, máy khoan để vặn vít.
- Sơn dầu: dầu: lau trực tiếp
Sơn: sơn điện dùng 2 line: 1 line sơn lót và 1 line hoàn thiện.
- Đóng gói: bằng tay, bằng máy liền dây đai
* Hệ thống thiết bị nhiệt lò hơi.
+ Lò hơi: sấy bằng hơi nước. Tận dụng các phế phẩm như dăm bào, bìa gỗ
dùng để đốt cho nồi hơi.

* Kiểm tra chất lượng:
Có sổ tay về tiêu chuẩn kỹ thuật, nếu không đạt thì quay lại tái chế.
- Hàng cấp 1
- Hàng cấp 2
- Hàng cấp 3
Do công nhân hoặc cán bộ quản lý; tổ nhóm kiểm tra, cán bộ KCS (kiểm
cuối, sau khi làm dầu).
* Vận chuyển: vận chuyển giữa các công đoạn bằng các Palet.
Theo bội số, có các xe kích tay
Hệ thống truyền xích tải để sơn (tốc độ: 45 ph/vòng)
* Gia công đồng thời các chi tiết để lắp ráp đồng bộ, kiểm soát theo các cụm
+ Sản xuất – kinh doanh:
- Năng suất:10.000 m
3
gỗ tròn/năm
- Vốn đầu tư: 2 triệu USD
- Độ ẩm sản phẩm: hàng ngoài trời A
o
= 10÷14%, hàng trong nhà:10÷12%
- Thị trường tiêu thụ: trong nước, châu Âu, châu Mỹ, Hàn Quốc
- Kế hoạch phát triển sản xuất: nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị
trường.
+ Đánh giá – nhận xét:
* Khó khăn:
- Xuất khẩu hàng ngoài trời: Mùa hè, đây là thời điểm sản xuất cao điểm
nhưng lại nghỉ hè còn mùa đông thì phải làm ngày làm đêm cho kịp hàng. . Để
hạn chế, khắc phục khó khăn này thì công ty đã làm thêm một số mặt hàng nội
thất (làm quanh năm).
- Các phụ kiện, công nghiệp phụ trợ chưa có, phải mua từ TP Hồ Chí
Minh ra

- Ủ và sản xuất vi sinh, phân bón.
- Tái chế nhựa, ni lông.
+ Tổ chức: có các phòng ban:
- Phòng sinh hóa: KCS
- Xưởng cơ khí
- Đội bảo trì
- Đội xe
- Các phòng ban nghiệp vụ khác: bảo vệ, cây cảnh, kế toán v.v
Ngoài ra còn có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc.
+ Thi trường tiêu thụ sản phẩm: Nhựa Thùy Dương (Huế), Hà Nội, Đà Nẵng.
- Nội dung:
+ Công nghệ:
Rác nhập vào (200 tấn/ngày) từ 7
h
tối đến 2
h
sáng. Giờ làm việc của công nhân
được chia làm 2 ca.
Sơ đồ công nghệ như sau:

2
3
4
5
6
7
* Dây chuyền phân loại.
Rác từ nhà tập kết rác sinh
hoạt ta tiến hành phun vi sinh
khử độc và các mùi hôi từ 5÷8 h

xuống, còn ni lông sẽ được tiếp tục chạy theo băng tải.
Trong hệ thống phân loại này có một lô từ. Tất cả các sắt thép khi qua lô từ
này thì nó sẽ bị hút. Trong lô từ này có nam châm, và nam châm đó có 2 mặt.
Khi qua nữa này thì nó sẽ bị hút nhưng khi qua nữa bên kia thì nó sẽ nhả ra. Như
vậy nhiệm vụ của lô từ này là nó sẽ tách ngay các kim loại đồng thời nó cũng có
nhiệm vụ là để băm lại lần thứ 2. Hàng ngày có khoảng 1,2 ÷1,5 tạ sắt thép, vỏ
lon được dùng để bán phế liệu. Các chất hữu cơ này sẽ được băm đến tốc độ
170÷180 vòng/s, tức là các dao băm sẽ băm hết tất cả. Dây chuyền này nó sẽ qua
máy băm cuối cùng và nó sẽ chuyển lại qua dòng hữu cơ ở đây.
3 dòng hữu cơ này nó sẽ về trộn lại ở nhà máy trộn.
+ Tách tuyển thủ công: tách rác cá biệt (rác cá biệt là những loại rác không
chế tạo phân bón được: chiếm 10%
+ Tách tuyển sắt thép, đất cát để sản phẩm có chất lượng tốt
+ Tách tuyển ni lông
+ Thành phần hữu cơ đưa vào hầm được dùng làm phân bón chiếm 50÷55%
* Dây chuyền ủ và sản xuất vi sinh, phân bón.
Sau khi phân rác xong, các chất hữu cơ đưa vào ủ và đảo chuyển trong vòng
45 ngày, độ ẩm khoảng 50÷55%. Sau 45 ngày, ta tách tuyển mùn thô kiểu sàng
20 li và mùn thô ủ trong vòng 30 ngày nhằm giảm 50÷60% khối lượng ban đầu.
Sau 30 ngày đem ra giảm ẩm thông qua lò sấy phơi nhằm giảm xuống khoảng
20% mùn thô, sau đó đem tách tuyển thành phân bón dưới sàng 3 li. Các chất sau
khi tách tuyển xong ta thêm một số chất phụ gia để chế biến thành phân bón vi
sinh. Phân bón này có hàm lượng hữu cơ là trên 15%.
* Dây chuyền tái chế
nhựa, ni lông.
* Ni lông:
Ni lông loại 1 tách
tuyển ra sau đó đem đi
dũ sạch, khối lượng
giảm còn 40%. Sau đó,

bao
Máy băm
2
không đáng kể. Nước sau khi được thải ra được cho qua 4 bể lắng. Từ bể lắng 1
ta thu được nước đục nhưng đến bể lắng 4 ta thu được nước trong.
* Lò đốt: hỗn hợp chất thải rắn sinh hoạt khó phân hủy: đốt 3 tấn nguyên
liệu/ngày
- Nhiệt độ lò đốt: 1200÷1800
o
C
- Có 2 buồng: buồng sơ cấp và
buồng thứ cấp.
- Khí bụi được lọc qua hệ thống
xyclong.
- Có hệ thống xử lí khói và hệ
thống xử lí nước.
- Tro xỉ thì rớt xuống lò.
* Xưởng chế tạo máy và thiết bị môi trường
Sản xuất sàng lồng, dao băm,
+ Sản xuất – kinh doanh:
- Năng suất: 180÷200 tấn rác/ngày
- Thị trường tiêu thụ: Rác sau khi được xử lí xong thì thu được một số sản
phẩm như ni lông, phân vi sinh, nhựa. Những sản phẩm này được tiêu thụ ở Nhà
máy nhựa Thùy Dương, Hà Nội, Đà Nẵng.
- Kế hoạch phát triển sản xuất: xử lí môi trường 200 tấn rác thải mỗi ngày
cho khu vực đô thị thành phố Huế. Đồng thời hiện nay công ty đang chuyển giao
công nghệ xử lí rác cho các tỉnh thành.
+ Đánh giá – nhận xét:
* Thuận lợi:
- Được tỉnh, nhà nước khuyến khích tặng bằng khen vì đã có công lao to

là chịu sức gió rất kém, do đó các nông trường trồng cây cao su gặp cũng không
ít khó khăn. Tuy nhiên từ đó đến nay thì chỉ gặp bão nhẹ thôi không có vấn đề gì
lắm.
+ Tổ chức: Gồm toàn bộ các công nhân viên là 125 người, trong đó cán bộ
quản lý là: 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 1 kế toán, 1 thư ký ; Lực lượng gián
tiếp gồm 17 người; Biên chế cho các tổ sản xuất: hiện nay toàn bộ công nhân xí
nghiệp gần 100 người (khoảng 119 người) lao động trực tiếp.
Lao động ở đây có 5 tổ: - Tổ khuyến nông
- Tổ máy cán
- Tổ gói
- Tổ sửa chữa và vận hành
- Tổ bóc vát – đóng bao
+ Sản lượng bình quân khi khai thác: trên 1900 kg/ha/năm.
+ Cho đến nay thì công ty này tương đối thành công.
+ Nhiệm vụ chính của nhà máy:
- Tiếp nhận mũ ở các Nông trường trên địa bàn về để chế biến.
- Thu mua mủ cao su tiểu điền
+ Hàng năm sản lượng công ty là 6500 tấn, trong đó 2000 tấn tiểu điền dùng
để sơ chế mủ cao su cốm.
+ Mủ cao su tại công trường có 2 loại:
- Trồng 7-8 năm là khai thác được, nhưng hiện nay là 6 năm.
- Từ khi trồng đến khi thanh lý khoảng 20÷25 năm
+ Mủ thích hợp với nhiều loại đất nhưng độ dốc cần phải thấp để dễ khai
thác. Thời điểm khai thác là từ 3÷7 h sáng vì nhiệt độ thấp thì sinh lý cho mủ cao
+ Ở mỗi vùng đất thì thời tiết khác nhau, do đó cây cao su cũng có tên gọi
khác nhau.
Ví dụ: Quảng trị: S
2
D
2

làm sạch sấy (t
o
= 110
o
C – 120
o
C) ép kiện đóng bao
- Mủ nước sau khi khai thác xong từ 3-7 h sáng người ta để trong thùng sau đó
đưa về nhà máy, sau đó tiến hành làm KCS (kiểm tra % mủ cao su trong mủ
nước).
- Trong mủ nước có cao su, xenlulo, nước. Trong đó nước chiếm tỷ lệ nhiều
nhất: 1kg mủ nước có 300 g cao su.
- Nhà máy có 3 công đoạn chính
+ Gia công hóa.
+ Gia công cơ
+ Gia công nhiệt
Nguyên tắc đơn giản nhất của Nhà máy là lấy mủ nước về làm khô nhưng phải
đảm bảo chất lượng
a. Giai đoạn gia công hóa
- Tiếp nhận mủ nước, dùng axit làm đông mủ nước, sau đó tính toán lượng DAC,
(DAC = 25±2). Nếu lượng DAC cao quá thì cần phải thêm nước vào.
- Loại axit thường dùng: axit hữu cơ
+ Axit fomic
+ Axit acetic (1,5 – 2 %)
- Mủ đưa về cho vào 3 hồ tổng hợp. Vì hàm lượng mủ sau khi đưa về thì DAC có
thể thấp hoặc cao, do đó ta cần phải đưa vào 3 hồ tổng hợp để trộn đều, sau đó
tiến hành xả về các mương.
- Dùng axit để làm đông. Phần lớn tất cả các axit đều có thể làm đông được
nhưng chúng ta cần phải dùng loại axit nào mà đảm bảo chất lượng và thiết bị
cần phải đảm bảo sức khỏe con người và phải kinh tế. Chúng ta dùng axit để làm

C. Nếu t
o
cao quá thì nó sẽ cháy.
- Sấy bằng dầu diezen, sấy theo đường ziczắc cách nhau khoảng 10 – 15 phút. Có
chỗ thì sấy từ dưới lên, nhưng cũng có chỗ thì sấy từ trên xuống.
Chúng ta cần phải sấy như thế nào sao cho nó tiết kiệm được nhiên liệu
Đối với mủ ướt: sử dụng 27 lít dầu diezen/1 tấn mủ.
Đối với mủ tạp: sử dụng 40 – 45 lít dầu diezen/1 tấn mủ.
- Thời gian sấy từ khi vào đến khi ra là 4 h
- Sau khi sấy xong, mủ có màu vàng rơm ta tiến hành đem đi ép kiện và đóng
bao.
Ép kiện: theo quy định quốc tế:
3 cục = 1 tạ, 30 cục = 1 tấn.
Nếu khách hàng muốn đặt lô hàng khoảng 50 cân thì người ta phải đặt riêng.
Ở nhà máy cao su này có máy ép kiện khoảng 30 tấn.
- Sau khi ép kiện đóng bao xong, chúng ta đưa đi nhập kho rồi mới tiến hành tiêu
thụ
* Dây chuyền chế biến mủ tạp (mủ phụ)
- Mới hoàn thiện năm 2008, vốn đầu tư khoảng 15 tỷ
- Vì một lý do nào đó, ví dụ như chúng ta tận thu không kịp nên nó đông lại,
hoặc chúng ta vét cạo ở nơi chén, ta đưa các loại mủ này vào nhóm mủ phụ.
Sơ đồ công nghệ
Nguyên liệu máy cán xé 1 rửa máy cán xé 2 (máy băm thô)
Hồ rửa máy băm búa qua các máy cán + rửa (vừa chạy, vừa
nghiến, vừa ép băm sấy cất lưu trữ 1 tuần tái chế lại
- Trước tiên, mũ sau khi mua về chúng ta đem đi phân loại ra thành 2 loại:
+ Loại 1: Chế biến mủ SVR10
+ Loại 2: Chế biến mủ SVR20
Đối với mủ nước thì ta chỉ chế biến mủ SVR 5 và SVR3L
- Mủ tạp có chất lượng mủ kém nhưng ta lại sử dụng máy nhiều vì các máy này

- Thời gian thực tập: Sáng 8
h
– 10
h
30 ngày 14/4/2009
- Địa điểm thực tập: Nhà máy chế biến cà phê Arabica ở Khe Sanh – Quảng Trị,
thuộc công ty đầu tư cà phê – dịch vụ đường 9, trực thuộc tổng công ty cà phê
Việt Nam.
- Giới thiệu sơ lược về cơ sở sản xuất:
+ công ty đầu tư cà phê – dịch vụ đường 9 được hình thành cách đây 20 năm.
Đầu tiên chỉ là một trại sản xuất của huyện Hướng Hóa.
Ngày thành lập: 21/12/1987
+ Năm 1990, trại sản xuất này được đổi tên thành xí nghiệp sản xuất kinh
doanh huyện Ủy Hướng Hóa (8/6/1990).
+ 17/12/1994, xí nghiệp sản xuất kinh doanh huyện Ủy Hướng Hóa được đổi
tên thành: công ty đầu tư cà phê – dịch vụ đường 9 (5/8/1997).
Từ lúc thành lập (1987) đến 7/1997: Công ty là một doanh nghiệp nhà nước
được xây dựng trên nền tảng kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
+ Nhiệm vụ: thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, có 800 ha cà phê chè.
+ Hoạt động: có 2 hoạt động đó là sản xuất và thu mua chế biến.
+ Tổ chức: Giám đốc, phó giám đốc, các phòng ban.
Ở công ty có tất cả 9 phòng ban và nhà máy chế biến có quản đốc, tổ kỹ thuật, tổ
bảo quản chế biến để trực tiếp chỉ đạo và sản xuất. Mỗi phòng ban đều có một
chức năng và nhiệm vụ riêng, tùy theo sự phân công của Giám đốc cũng như ý
nghĩa của từng phòng ban. Năm 2005, công ty đã củng cố lại bộ máy tổ chức,
tăng cường thêm một phó giám đốc phụ trách ở nông trường A Lưới. Tiếp tục
đào tạo cán bộ, công nhân để nâng co nghiệp vụ, tay nghề đáp ứng nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh.
+ Nguyên liệu chủ yếu của nhà máy: quả cà phê tươi, được thu mua chủ yếu
là tại công ty. Ngoài ra nhà máy còn thu mua ở các huyện Hướng Hóa, huyện A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status