Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
CÊu tróc s¸ng kiÕn kinh nghiÖm
PHẦN MỞ ĐẦU
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
III- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
B- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I- CƠ SỞ KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1./. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2./. CƠ SỞ KHOA HỌC
3./. CƠ SỞ THỰC TẾ
II- CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
1./. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
2./. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3./ THỜI GIAN HOÀN THÀNH.
PHẦN NỘI DUNG
I- NHIỆM VỤ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
II- CÁC GIẢI PHÁP MÀ SÁNG KIẾN ĐÃ VẬN DỤNG
1 - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc tạo tâm thế học.
2 - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc đọc diễn cảm.
3 - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua đàm thoại.
4 - Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc ứng dụng CNTT.
5 - Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc sử dụng bản đồ tư duy.
6- Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc tổ chức các trò chơi.
III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN KẾT LUẬN
I- MỘT SỐ KẾT LUẬN
II- ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ.
Trang 1
THCS.
II – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu “Tạo hứng thú cho học sinh trong tiết dạy ngữ văn” với
mục đích cơ bản sau đây : Trình bày một số biên pháp tạo hứng thú học tập cho
học sinh trong giờ dạy Ngữ văn. đó giúp các em nắm vững kiến thức, yêu thích
môn học, nhờ vậy nâng cao chất lượng dạy và học. Đồng thời đề tài này có thể
giúp cho giáo viên dạy ngữ văn áp dụng cho các lớp các bài cụ thể .
III- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu hướng tới đối tượng là hứng thú học tập môn Ngữ văn của
học sinh THCS.
Trang 2
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
2. Phạm vi nghiên cứu :
- Nghiên cứu phương pháp dạy Ngữ văn của giáo viên.
- Nghiên cứu hứng thú , kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh.
B- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I- CƠ SỞ KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1./. Cơ sở lí luận
Trong những năm gần đây vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn
được bàn luận một cách sôi nổi, đó là vấn đề quan trọng luôn được đề cập trong
mỗi cuộc họp chuyên môn ở tất cả các trường học trên cả nước.Với bộ môn văn
cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó.
Nghị quyết hội nghị lần II BCH TW Đảng khóa VIII nêu rõ : “Đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học” ; “phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say
học nhất định ( có thể cách xa thời đại mà các em sống hiện nay cả hàng thế kỉ ,
hàng thập niên …). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất : là một câu tục ngữ, một
bài ca dao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ
tiểu thuyết đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo
viên giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới
trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ giảng dạy của GV dạy Ngữ Văn.
Trang 4
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Bất cứ một người giáo viên nào có tâm huyết với nghề đều tự đặt ra câu
hỏi làm thế nào để dạy và học tốt môn văn ?Từ xưa đến nay người ta vẫn
nói :“Học văn thì dễ nhưng dạy văn thì rất khó” và thực tế cũng chứng minh
điều đó. Quả là việc dạy văn vô cùng khó bởi dạy văn không chỉ là dạy đúng,
đủ mà còn phải hay, phải lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh hứng thú, say
mê. Môn ngữ văn là môn học kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống và
nhân loại, là môn học có ý nghĩa trong việc hình thành, phát triển, định hướng
nhân cách cho học sinh và rèn luyện những kỹ năng cơ bản cần thiết cho các
em.Mặt khác đây lại là môn học nghệ thuật kích thích trí tưởng tượng bay
bổng,sáng tạo của học sinh Thực tế chúng ta thấy rằng ngày càng có
ít học sinh đi thi học sinh giỏi môn văn hơn ,các em cũng cảm thấy chán nản
và không mấy hứng thú khi học giờ văn.Chính điều đó đòi hỏi phải có những
phương pháp cải tiến trong việc dạy – học văn trong nhà trường .Đây là nhu
cầu cần thiết đối với các nhà giáo dục và đội ngũ giáo viên giảng dạy môn
văn .Với chức năng là một người làm công tác giảng dạy trong nhà trường bản
thân tôi cũng luôn trăn trở là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học
văn.Trong 5 năm công tác giảng dạy tôi nghiệm thấy rằng,cái ước muốn học
văn sao cho giỏi,dạy văn sao cho hay ,viết văn sao cho tốt là ước muốn của rất
nhiều giáo viên và học sinh.Muốn thực hiện được ước mơ ấy thì chúng ta phải
biết tìm tòi,sáng tạo và đưa ra những cái mới hấp dẫn lôi cuốn học sinh,đặc
biệt là người giáo viên chúng ta phải biết làm mới bài giảng của mình để kích
theo đặc trưng bộ môn Ngữ văn (Tiếng Việt – Văn – Tập làm văn). Giáo viên đã
có nhiều cố gắng trong việc thực hiện quan điểm tích hợp trong các tiết dạy:
Tích hợp ngang (Tích hợp của ba phân môn Văn - Tiếng Việt – Tập làm văn) và
Tích hợp dọc (Tích hợp giữa các bài, các lớp trong cùng một phân môn). Bên
cạnh đó là việc tích hợp vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường tự nhiên một cách
phù hợp trong từng tiết dạy. Qua việc tích hợp và lồng ghép cộng với liên hệ
thực tế để giáo dục học sinh đă đem lại cho bộ môn Ngữ văn có những tín hiệu
khởi sắc. Đó là phương pháp dạy – học mới đang được tiếp cận một cách tích
cực.
Tài năng sư phạm của người thầy được dành nhiều hơn cho việc học
sinh tự tìm hiểu cảm thụ tác phẩm. Trong từng tiết dạy, giáo viên đã mạnh dạn
phối hợp cùng học sinh tiếp cận, phân tích, tổng hợp và hình thành những tri
thức cần nắm. Giáo viên nắm rõ được quan điểm tích hợp của sách giáo khoa, có
nhiều cố gắng rèn luyện kỹ năng nghe - đọc - nói - viết cho học sinh. Học sinh
không chỉ nắm kiến thức mà quan trọng hơn là biết vận dụng kiến thức vào cuộc
sống như: nói, viết tiếng Việt thành thạo, biết tạo lập văn bản, biết sáng tác thơ,
sáng tác tác phẩm nghệ thuật ngắn. Chính những chuyển biến này đã giúp giáo
viên nhanh chóng tiếp cận và thực hiện thành công những đổi mới trong phương
pháp dạy – học Ngữ văn.
Trang 5
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
Tuy nhiên có một số giáo viên vẫn còn làm việc quá nhiều, trong một
tiết dạy đưa ra khá nhiều thông tin. Điều này dễ đưa các em vào thế bị động ghi
nhớ, không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Từ đó dẫn đến
sau này đứng trước nhiều vấn đề mới các em bỡ ngỡ, bị động, lúng túng và
không có đủ khả năng, bản lĩnh để giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc
sống.
TSHS
Giỏi Khá Trung bình
Trang 6
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
SL % SL % SL %
40 4 10 8 20 28 70
Đứng trước thực trạng đó, những người giáo viên dạy văn thật đáng
buồn làm thế nào để các em thích học văn?
II- CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
1./. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học văn ở trường THCS Chỉ Đạo;
- Phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân, trao đổi, thảo luận tìm giải pháp;
- Đề xuất giải pháp thực hiện….
2./. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tôi đã nghiên cứu các tài liêu có liên quan đến phương pháp dạy học nói
chung, phương pháp dạy Ngữ văn ở THCS, và đặc biệt nghiên cứu SGK, SGV,
STK, STK Ngữ văn THCS. Ngoài ra tôi nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng GV dạy
thay sách THCS, các sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp trong trường, trong
huyện, trên mạng INTERNET.
b. Phương pháp điều tra sư phạm:
Tôi đã trao đổi với đồng nghiệp về các phương pháp dạy học Ngữ văn qua
các chuyên đề cấp trường, cấp cụm trường, cấp huyện. Tôi cũng dự giờ thăm lớp
của các giáo viên cùng trường và đặc biệt là tôi đã điều tra hứng thú học tập của
học sinh thống qua phiếu điều tra, thông qua bài kiểm tra.
c. Phương pháp thực nghiệm:
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở nhiều lớp khác nhau với cùng một bài
động. Mặt khác, hứng thú bao giờ cũng dẫn đến một đối tượng cụ thể hấp dẫn,
nó gắn liền với tình cảm con người. Trong bất cứ một công việc gì nếu có hứng
thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát
vọng hành động và hành động có sáng tạo. Ngược lại nếu hứng thú không được
thỏa măn sẽ dẫn đến cảm xúc tiêu cực.
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú
cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà
trường nói chung và của từng giáo viên nói riêng. Văn học dễ làm say mê người
học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học. Người học văn
cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, bố cục, vần điệu khi có được sự
hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc. Cái khó của người dạy là làm thế nào
truyền được cảm xúc của tác giả đến với người học. Trong trường THCS đối
tượng học sinh do đặc điểm tâm sinh lưa lứa tuổi thích tìm hiểu và sáng tạo
nhưng chưa có phương pháp đúng để cảm thụ văn học, chưa hiểu rõ cái hay, cái
đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, chưa có cảm xúc thực sự đồng điệu với
cảm xúc của tác giả Chính những thiếu sót trên, học sinh thường không thích
học và đọc văn. Nhiệm vụ của giáo viên dạy văn là phải tạo sự hứng thú, phải
khiến cho những từ ngữ khô khan biết nhảy múa, biết vẽ ra những khung cảnh
lúc yên bình, lúc dữ dội; phải đi vào tâm hồn các em những tinh cảm yêu, ghét,
nhớ nhung, mơ mộng; phải mở ra những cánh cửa từ lâu được khóa chặt bằng
sinh hoạt đời thường.
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và
môn ngữ văn nói riêng, việc lấy học sinh làm trung tâm thúc đẩy tư duy học
sinh, mở cho các em hướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc,
những khó khăn trong việc tìm hiểu phân tích. Người giáo viên không còn giảng
Trang 8
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
Trò day dứt cùng thế nhân”.
Như thế trong suốt giờ Văn, người thầy phải biết quên mình để sống với Văn,
với học trò, để cùng các em say sưa đi vào lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả.
Người dạy Văn không chỉ là nhà khoa học, nhà sư phạm mà còn là một nghệ sĩ
trên bục giảng.
Thông thường trong một tiết đọc - hiểu văn bản, không phải lúc nào HS cũng
có thể tập trung chú tâm vào bài học, đặc biệt là những tác phẩm dài và khó.
Song tôi đã thu hút, hướng HS vào bài học bằng cách kiểm tra bài cũ, giới thiệu
bài mới, đặt ra những câu hỏi có vấn đề, liên tưởng, so sánh mở rộng vấn đề
trong bài học, phát huy khả năng sáng tạo của HS qua giao bài tập, trực tiếp
kiểm tra, đánh giá…
Trang 9
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
VD Để tạo tâm thế cho HS khi dạy bài “Mây và sóng”, ta Kết hợp kiểm tra
bài cũ và giới thiệu bài mới bằng việc tổ chức trò chơi ô chữ.
Câu hỏi:
1/Văn bản của Et.Môn-Đô-đơ.Ami-xi viết dưới dạng một bức thư của người cha
gửi cho con nhắc nhở về thái độ đối với mẹ?
(Ngữ văn 7
2/Ba tiếng đầu trong tên một bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã được
nhạc sĩ Huyền Dân phổ nhạc?
( Ngữ văn 9)
3/ Tên đoạn trích trong tác phẩm “Thời thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng?
(Ngữ văn 8)
4/Văn bản viết như lời mẹ ru với những hình ảnh đẹp trong ca dao của nhà thơ
Chế Lan Viên?
(Ngữ văn 9)
hứng thú, tình yêu, sự say mê đối với môn học.
b. Hạn chế:
- Do thời gian trên lớp ít, dung lượng tác phẩm dài, nếu giáo viên không định
hướng tốt, không chọn lọc khai thác vấn đề rất dễ đưa học sinh vào tình trạng
“chạy đua với câu chữ”, nếu không nói là “nước đổ lá khoai”.
- Các biện pháp trên không thể đem áp dụng vào tất cả các tác phẩm văn học mà
giáo viên phải linh hoạt sử dụng và tổ chức hướng dẫn HS tìm hiểu, sưu tầm và
áp dụng trong từng tiết học sao cho phù hợp. Nếu không HS sẽ mãi lo đi tìm
những bài viết đồng sáng tạo, thử tài chắp bút mà bỏ quên nhiệm vụ chính của
mình.
1.4 Một số lưu ý khi tạo tâm thế học văn cho học sinh.
- Giáo viên phải chuẩn bị cho tiết dạy của mình một cách chu đáo, hoàn mĩ
từ thiết kế giáo án, các bước lên lớp, tiến trình bài học đến tâm trạng, cảm xúc.
Dạy văn không thể dùng lí trí mà phải cảm nhận và truyền giảng bằng tâm hồn.
- Văn học là một môn khoa học mang đặc thù riêng, đòi hỏi người thầy phải
thường xuyên học hỏi, trau dồi, tích luỹ, mạnh dạn đổi mới về phương pháp,
làm mới mình bằng những bài giảng, những dẫn chứng gợi mở sinh động cho
bài học. Cần phải chọn được những tình huống, chi tiết, sự việc “có vấn đề” để
phát huy tính tích cực, chủ động và khả năng cảm thụ vấn đề của học sinh.
- Các biện pháp “tạo tâm thế” này, cần phải áp dụng linh hoạt ở các khối,
lớp, đối tượng HS khác nhau, đồng thời, trong quá trình giảng dạy, giáo viên
cần phải gần gũi, tìm hiểu, phát hiện để ươm mầm và đánh thức những khát
vọng văn chương hiếm hoi trong tâm hồn HS.
2 - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua hoạt động đọc diễn cảm.
2.1 Đọc diễn cảm trong dạy văn.
Con đường đi vào tác phẩm văn học nhất thiết là từ đọc. Đọc là một hình
thức đặc thù có tính đặc thù của nhận thức văn học.Đọc sẽ kích thích quátrình
tâm lý cảm thụ, tri giác tưởng tượng , xúc cảm, đưa người đọc vào thế giới của
tác phẩm tạo nên trạng thái tâm lý cần có cho người đọc, người nghe.
Thông qua đọc, học sinh có thể dễ dàng tìm hiểu được giá trị của tác phẩm văn
học. Học sinh ở THCS có tâm lý dễ tiếp thụ, dễ xúc cảm, hồn nhiên và dễ tin.Tư
duy của học sinh mang tính cụ thể và hiểu nên dễ cho việc đọc diễn cảm đồng
thời giúp cho người thầy dễ khêu gợi những cảm xúc của các em, kích thích các
em đọc một cách thích thú.
2.3 Yêu cầu của việc đọc diễn cảm.
Trang 12
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
a.Đọc đúng:
Là trả lại hoàn toàn đúng nội dung văn bản. Đọc đúng là giải quyết kỹ năng ,
năng lực ngôn ngữ cho học sinh, là không được sai văn bản, là quá trình tri giác
chính xác văn bản.
b.Đọc hay:
Là bước tiếp theo của đọc đúng, phải trên cơ sở đọc đúng đọc hay mới
thành công. Đọc hay là bước đầu chuyển tiếp từ lĩnh vực ngôn ngữ sang lĩnh vực
văn chương. Đọc đúng có nghĩa là đọc nghĩa còn đọc hay là đọc ra ý. Khi giảng
văn thơ, điều quan trọng là nắm bắt được giọng điệu văn học tức là đọc được
hướng vào giọng văn bản.
c. Đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm là hệ thống phương pháp đọc sáng tạo, bản chất của đọc
sáng tạo là xác định mối quan hệ cảm xúc riêng tư của người đọc về giá trị nội
dung và hình thức đọc của tác phẩm. Đọc diễn cảm đòi hỏi cả giáo viên và học
sinh phải có cảm xúc.Nếu gò bó, ép buộc sẽ là đọc giả cảm xúc của tác giả. Đọc
diễn cảm không phải ai cũng đọc được mà phải tuỳ chất giọng, trình độ nhận
thức để giáo viên yêu cầu học sinh đọc. Đọc diễn cảm có tác dụng giúp người ta
hiểu được tác phẩm, và khi hiểu về tác phẩm giúp cho đọc diễn cảm tốt hơn,
càng hiểu càng diễn cảm tốt.
GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để dẫn dắt HS từng bước
phát hiện ra bản chất của vấn đề tính quy luật của vấn đề đang tìm hiểu, kích
thích sự ham muốn hiểu biết.
3.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp đàm thoại.
a. Ưu điểm.
- Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập của HS
- Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng lời.
- Giúp GV thu thập thông tin từ phía HS để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy
học.
- Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học.
b. Hạn chế.
Nếu người giáo viên chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển phương pháp
đàm thoại thì mang một số hạn chế sau:
- Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học.
- Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa GV và học sinh, giữa
các thành viên của lớp với nhau
3.4- Yêu cầu đối với giáo viên khi sử dụng phương pháp đàm thoại.
GV là người đóng vai trò định hướng thông qua hệ thống các câu hỏi giúp
HS giải quyết vấn đề, tổng hợp lại vấn đề.
Trang 14
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
Đòi hỏi người GV phải có những kỹ năng sư phạm thật sự tốt : tâm lý, ứng
xử, giao tiếp…
Câu hỏi đặt ra phải có tính mục đích hệ thống, để dẩn giải được hs vào vấn
đề.Câu hỏi phải vắn tắt, đơn giản, rỏ ràng, phù hợp với trình độ HS.Câu hỏi phải
kích thích được sự tư duy của học sinh.Phải có câu hỏi mang tính phân loại, để
kiểm tra khả năng lĩnh hội vấn đề của HS.
Ví dụ khi dạy bài “Ếch ngồi đáy giếng”, chúng ta đưa ra tranh minh hoạ và yêu
cầu học sinh kể chuyện
4.3 Tác dụng của việc ứng dụng công nghệ thông tin.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong day học tạo thuận lợi cho học sinh tiếp
thu kiến thức toán học vốn rất trừu tượng. Nói cách khác, nguyên tắc dạy học “từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn” ít nhiều đã được vận dụng. Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập
cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, khắc
phục tình trạng “thầy đọc, trò chép”, học sinh được khuyến khích và tạo điều
kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn
luyện của bản thân mình.
4.4 Một số lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy hoc .
- Để có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học , thì người giáo
viên phải có hiểu biết căn bản về nguyên lí hoạt động của máy tính và các
phương tiện hỗ trợ khác như máy chiếu đa năng, wedcam. Ngoài ra giáo viên
phải thành thạo về các thao tác, biết xử lí các tình huống trục trặc kĩ thuật ở trên
lớp . Nếu không làm được như vậy, nhiều khi sử dụng công nghệ thông tin lại
gây mất thời gian, tiết học bị gián đoạn .
- Tránh lạm dụng công nghệ thông tin quá mức trong dạy dọc. Bởi lạm dụng
công nghệ thông tin sẽ biến tiết dạy thành tiết xem phim vai trò của người giáo
viên sẽ bị mờ nhạt. Mà thực tế dù dạy học theo phương pháp nào chăng nữa thì
Trang 16
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
người giáo viên vẫn là linh hồn của tiết học mà không thể một loại máy móc nào
có thể thay thế được.
- Tránh việc thiết kế các hình hoặc các cách trình chiếu quá cầu kì, quá bắt
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
5.3 Tác dụng của việc sử dụng bản dồ tư duy.
Sử dụng BĐTD trong dạy học kiến thức mới giúp HS học tập một cách
chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách
hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo
hàng ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh HS
khi chứng kiến thành quả lao động của học trò của các em. Cách học này còn
phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì
trên BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để
chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ,
chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
5.4 Lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy trong dạy học là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết
chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh . Mỗi học sinh có
thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác
nhau. Cùng một chủ đề nhưng mỗi học sinh có thể “thể hiện” nó dưới dạng
BĐTD theo một cách riêng. Do đó giáo viên nên khuyến khích học sinh lập
BĐTD theo ý tưởng của riêng mình nhằm phát huy được tối đa khả năng sáng
tạo của mỗi em.
6- Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc tổ chức các trò chơi:
6.1 Tổ chức trò chơi trong dạy Ngữ văn
Trò chơi trong văn học hay còn gọi là sân chơi lành mạnh bổ ích. Đó là
việc tổ chức cho học sinh thi trả lời bằng những hoạt động vui chơi giải trí nhằm
giáo dục toàn diện học sinh và củng cố rèn luyện kĩ năng phát triển óc tư duy
linh hoạt sáng tao.
6.2 Thiết kế nội dung trò chơi:
Như đã xác định mục đích, ý nghĩa của trò chơi, chúng ta nên tổ chức trò
4 N G U Y Ê N M O N G
5 T H A T N G O N T U T U Y E T
6 N G U Y E N T R A I
7 S O S A N H
Trang 20
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong tiết dạy Ngữ văn
8 C H I E U T A
9 L E L O I
10 N A M Đ I N H
Hàng ngang
Câu 1. Gồm 6 chữ cái. Bài “Côn Sơn ca” được dịch sang thể thơ nào?
Câu 2. Gồm 12 chữ cái. Ông là người có địa vị tối cao nhưng tâm hồn ông luôn
gắn bó với nơi thôn dã. Ông là ai?
Câu 3. Gồm 6 chữ cái. Nguyễn Trãi có tên hiệu là gì?
Câu 4. Gồm 10 chữ cái. Trần Nhân Tông cùng vua cha lãnh đạo nhân dân ta
đánh tan quân giặc nào?
Câu 5. Gồm 15 chữ cái. “Thiên Trường vãn vọng” được Trần Nhân Tông sáng
tác theo thể thơ nào?
Câu 6. Gồm 10 chữ cái. Đại từ “ta” trong bài “Côn Sơn ca” chỉ ai?
Câu 7. Gồm 6 chữ cái. Một biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài “Côn
Sơn ca” ?
Câu 8. Gồm 7 chữ cái. Cảnh vật ở phủ Thiên Trường được miêu tả vào thời
điểm nào?
Câu 9. Gồm 5 chữ cái. Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn dưới ngọn
cờ của ai?
Câu 10. Gồm 7 chữ cái. Phủ Thiên Trường xưa nay thuộc tỉnh nào?
Hàng dọc . Gồm 10 chữ cái. Điền vào câu sau “Ca dao ca ngợi cảnh đẹp đất
dễ tiếp thu mà các em rất thích.
Giáo án minh họa
Mỗi biện pháp dạy học đề có ưu điểm riêng .Vì vậy trong quá trình vận
dụng vào từng bài dạy cụ thể người giáo viên cần cân nhắc lựa chọn những biện
pháp phù hợp với mục tiêu của vấn đề , phù hợp với học sinh và phù hợp với sở
thích của chính mình. Sau đây tôi xin trình bày một tiết mà tôi đã tiến hành đối
với học sinh .
Ngµy so¹n:14 /11/2014
Ngµy d¹y: /11/2014
Tuần 14
Tiết 70
Tập làm văn: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
Trang 22
GV: Phùng Văn Tiêm - Trường THCS Chỉ Đạo
To hng thỳ hc tp cho hc sinh trong tit dy Ng vn
I.Mc tiờu bi hc:
1.Kiến thức:
-Hệ thống hoá kiến thức về văn bản tự sự và bổ sung một số đơn vị kiến thức mới
về ngời kể chuyện.
- Hiu v nhn din c th no l ngi k chuyn, vai trũ v mi quan h
gia ngi k vi ngụi k trong vn bn t s.
2.Kĩ năng: Rèn kỹ năng xác định ngời kể chuyện trong văn tự sự và chuyển đổi
ngôi kể.
3.Thái độ: Giáo dục ý thức sử dụng ngôi kể thích hợp trong tạo lập văn bản tự
sự.
II.Chun b : -GV: bi son , tỡm hiu cỏc on vn cú cỏc ngụi k khỏc nhau,
phiu hc tp ,bng ph cú ụ ch, bỳt d.
Phng phỏp: m thoi ,vn ỏp,gi m, tho lun ,s dng trũ chi.
? Những dấu hiệu nào cho biết ở
đây không phải là các nhân vật
trong đoạn trích kể chuyện?
( gợi: người kể có xưng tôi hoặc
tên của một trong ba nhân vật
không?).
-HS: trả lời
-GV: chốt ý.
? Những câu “giọng cười ….tiếc
rẻ”, “những người ….như vậy”
là nhận xét của người nào ,về ai?
-HS: trả lời
-GV:=> đó là lời của người kể
chuyện về anh thanh niên và suy
nghĩ của anh ta.
Thảo luận câu d* SGK
(3phút)
-GV: gợi ý : căn cứ vào chủ thể
kể câu chuyện ,đối tượng được
miêu tả, ngôi kể, điểm nhìn của
người kể và lời văn.
-GV: phát phiếu học tập->HS:
Thực hiện
-GV:Dùng bảng phụ đã ghi sẵn
nội dung và phân tích
? Đoạn trích trên được kể theo
ngôi thứ mấy ? người kể chuyện
có vai trò gì ?
I.Vai trò của người kể chuyện trong văn
bản tự sự :
+ trò chơi có các ô chữ gồm 8
hàng ngang
Mỗi một hàng ngang có một gợi
ý để trả lời
Lần lượt các tổ được gọi và lựa
chọn hàng ngang
-Hàng ngang số1: gồm 10 chữ
cái :Bút danh của tác giả đoạn
trích trên là gì?
-Hàng ngang thứ 2: gồm 11 chữ
cái: tên của văn bản trên ?
-Hàng ngang thứ 3:gồm 6 chữ
cái :nhân vật chính đoạn trích
trên là ai?
-Hàng ngang thứ 4:gồm 3 chữ
cái : câu nói đầu tiên khi mẹ chú
bé gặp chú bé là gì?
-Hàng ngang thứ 5: gồm 3 chữ
cái : người kể chuyện trong đoạn
trích xưng hô như thế nào?
-Hàng ngang thứ 6:gồm 7 chữ
cái: khi đuổi theo mẹ chú bé đã
thở như thế nào?
-Hàng ngang thứ 7:gồm 11 chữ
cái :mẹ chú bé đã lấy vạt áo làm
gì ?
-Hàng ngang thứ 8:gồm 1 chữ
cái: số đầu tiên trong dãy số tự
nhiên?
2.Đoạn trích SGK/ 193: