Nghiên cứu quá trình chuyển đổi và phát triển các mô hình hợp tác xã kiểu mới ở huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định - Pdf 26

PHẦN 1 MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trên thế giới các hợp tác xã (HTX) đã hình thành hơn 150 năm. Ở
nhiều nước có thể chế độ chính trị xã hội khác nhau, hiện nay các hợp tác xã
vẫn tồn tại và một số nước đang có xu hướng mở rộng.
Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khơi
xưởng và lãnh đạo, cơ chế quản lý tập trung bao cấp từng bước bị xóa bỏ, cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hình thành và ngày càng được
hoàn thiện đểđiều tiết các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Trong
những năm qua, các HTX tổ chức theo mô hình cũđối mặt với khó khăn và
thác thức nghiêm trọng vì không thích ứng được với cơ chế kinh tế mới. Đại
bộ phận các HTX tồn tại một cách hình thức, không có phương hướng và
nội dung hoạt động dẫn đến nhiều hợp tác xãđã tan rã.
Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế Nhà nước đã ban hàng nhiều chủ
trương chính sách nhằm tạo điều kiện cho các hộ nông dân trở thành đơn vị
kinh tế tự chủ. Chính sách đất đai đã quy định : Nhà nước giao cho các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Người sử dụng đất có
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê vàđược bồi
thường thiệt hại trong trường hợp đất bị thu hồi. Sự biến đổi về quan hệ
ruộng đất cũng đã tạo ra cơ sở vàđộng lực cho sự tự chủ của người nông
dân, trên cơ sởđó góp phần dân chủ hóa đời sống kinh tế, xã hội ở nông
thôn, xây dựng nông thôn mới. Việc thực hiện các chính sách khác như phát
triển các thành phần kinh tế, chính sách thị trường, chính sách đầu tư và
nhiều mối quan hệ giữa Nhà nước và nông dân đã có những thay đổi cơ bản,
tạo cơ sở vàđộng lực phát triển lực lượng sản xuất (LLSX), chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Nhờ vậy, nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn
của nước ta trong hơn thập kỷ qua đãđạt được những thành tựu nổi bật, tạo
ra những bước chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở nông
thôn.
Cả nước nói chung và huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định nói riêng từ khi
các hợp tác xã kiểu cũđược tiến hành chuyển đổi thành lập các HTX kiểu

trong, sau chuyển đổi và quá trình phát triển của nóđể từ đó đề xuất một số
biện pháp phát triển KTHT ở huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định.
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA VIỆC NGHIÊN
CỨU ĐỔI MỚI HTX
Việt nam đã trải qua hơn 10 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp, trên cơ sở xác định hộ nông dân làđơn vị kinh tế tự chủ. Kinh tế gia
đình đã phát triển với nhiều loại hình hợp tác trong sản xuất và lưu thông
hàng hoá, thực chất là sự trở lại tư tưởng của những nhà sáng lập ra chủ
nghĩa xã hội (CNXH) khoa và và những học giả khác trong lịch sử về chếđộ
HTX. Điều đó xuất phát từ nhu cầu cấp bách phải cải tổ, đổi mới mô hình
kinh tế quốc dân cũng nhưđổi mới chếđộ hợp tác trong nông nghiệp.
I. NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HTX
1. Một số khái niệm HT, HTX và HTXNN.
- Hợp tác (HT) được mô tả như là một nhóm người cùng nhau làm việc
và hướng về một mục đích và lợi ích chung.
- Hợp tác xã (KTX) là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động
có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy
định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên
nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
- Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là tổ chức kinh tế tự chủ do nông
dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp
vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của
tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt
động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên và kinh doanh trong lĩnh
vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
và kinh doanh ngành nghềở nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
2. Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã

nước vô sản phải bằng những biện pháp hết sức tỷ mỉ, khuyến khích họ
"Liên hợp kinh tế của họ với hiệp hội, mà trong đó có thể ngày càng giảm
bớt sự bóc lột làm thuê, những hiệp hội đó dần dần sẽ chiếm được đa sốáp
đảo trong những bộ phận cấu thành của hiệp hội sản xuất toàn xã hội vĩđại
với quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng.
Chính sự phát triển LLSX của kinh tế hộ nông dân đã dẫn đến nhu cầu
hợp tác phong phú vàđa dạng. Kế thừa các tổ chức HTX truyền thống đã ra
đời hàng thế kỷ trước. Ngày nay ở hầu hết các nước TBCN phát triển, các
hình thức kinh tế hợp tác (KTHT) giữa nông hộ, nông trại vẫn được duy trì,
phát triển và ngày càng phát huy tác dụng tích cực trong "Nghề nông hợp
lý" ở trình độ cao.
Bằng phương pháp biện chứng Macxit và bằng hoạt động thực tiễn của
mình Lenin đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển những
luận điểm của Mác vàĂngghen. Năm 1908 khi bàn về việclựa chọn con
đường phát triển của nông nghiệp nước Nga, Lênin đã nhận thấy rằng :
Không thể phát triển nông nghiệp theo con đường CNTB, CNTB phổ vìđó
là kiểu phát triển kém hiệu quả mà phải là kiểu "Một chủ trại tự do trên
mảnh đất tự do, nghĩa là mảnh đất đóđược dọn sạch tàn tích trung cổ. Đó là
kiểu Mỹ".
Lenin cho rằng : Causky đãđặt vấn đề rất chính xác vàđúng đắn khi nói
rằng nông nghiệp không phát triển theo cùng một kiểu với chủ nghĩa. Thực
cho đến ngày nay càng khẳng định sự thắng thế của con đường khác với
kiểu "Nông trại kỹ nghệở Anh" hoặc điền trang "kiểu phổ" mà Mác, Lênin
phê phán ở nhiều nước, trong đó có những nước thuộc khu vực chúng ta.
Lênin nhìn nhận những hình thức hợp tác như vậy có vai trò gì trong
chếđộ mới? Điều này có liên quan đến quan niệm về mô hình kinh tế mới
qua sự phát triển về lý luận của từng người trong từng giai đoạn lịch sử.
Trong hệ thống kinh tế mới (NEP), Lênin đã thừa nhận rằng: "Những
HTX, với tư cách làđơn vị kinh tếđộc lập, hạch toán kinh tế, gắn sự trao đổi
là một trong những hình thức kinh tế hết sức quan trọng của Nhà nước

sau: "HTX là hiệp hội các hộ nông dân. HTX chỉ là xã hội hóa một phần sản
xuất, chính phần của sản xuất lớn cóưu thế hơn sản xuất nhỏ. Quá trình này
có thể thực hiện mà không phá hoại nông dân lao động, bằng cách tổ chức
các ngành và hoạt động mà sự liên hiệp lại trên nguyên tắc sao cho có hiệu
quả kinh tế. HTH là một quá trình xã hội hóa từng bước kinh tế nông dân,
kinh tế HTX ra đời và phát triển không phá vỡ kinh tế gia đình nó tách dần
một số lĩnh vực và một số công việc và nếu làm ở gia đình không có lợi
bằng HTX là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ cho nó, mà vì thế
thiếu kinh tế nông nghiệp thì HTX không cóý nghĩa gì cả". Sự tách rời này
diễn ra trước hết và phổ biến ở những khâu những quá trình cách xa công
việc trực tiếp của người nông dân với sinh vật. Ông đề xuất tập chung hóa
tối thiểu ở những quá trình sinh học, dần dần từng bước tập trung ở những
lĩnh vực có liên quan từ gần đến xa từ những khâu trong quá trình lưu thông,
chế biến nông sản dịch vụ kỹ thuật…
Sự tách rời và kết hợp lại như vậy sẽ biến đổi dần nền kinh tế nông dân,
tạo ra những nhân tố của nền sản xuất XHCN. Con đường đó sẽ từng bước
chuyển nền kinh tế nông dân biệt lập sang hình thức cao nhất của sản xuất
xã hội. Sự chuyển biến đó dài hay ngắn còn tùy thuộc vào trình độ phát triển
của LLSX. Sự tích tụ trong sản xuất nông nghiệp đi liền với sự phát triển
của những hình thức HTH theo chiều từ dưới lên trên. Sự hình thành phát
triển chếđộ HTX như thế là quá trình tự nguyện của kinh tế hộ nông dân.
Nhà lý luận về HTX Mỹ - Rmelianov (1942) cho rằng HTX không phải
là một doanh nghiệp tập thể. HTX cóđiểm giống như công ty cổ phần vì vốn
do nhiều người góp lại. HTX có thể có cổ phần ởđây chỉ có nghĩa là các xã
viên cùng góp một số vốn vào để cùng hoạt động. Cổ phần mang tính chất
cá nhân rõ rệt chứ không phải mang tính vô danh như trong các công ty cổ
phần mang tính chất hạn chế. Các hộ nông dân tham gia vẫn giữđược tính
độc lập của họ. Do hộ nông dân tham gia vào HTX với những phần không
đều nhau nên phải đảm bảo tính công bằng của phần dịch vụ phí không sử
dụng (lãi) phải chia theo số lượng dịch vụ mà HTX đã thực hiện cho các hộ,

là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH. Hồ Chí Minh đã
hiểu rõ sức mạnh của sự hợp tác, liên kết, nhưng làm thế nào để tổ chức ra
sự tổ chức và liên kết đó, nhất là trong nông thôn lạc hậu, nông nghiệp manh
mún ở nước ta. Theo người "Sửa chữa cái xã hội ấy mấy ngàn năm (trì trệ,
lạu hậu nhân dân không có ruộng, canh tác manh mun…), làm xã hội mới
XHCN ấy mới là khó khăn. Nhưng biết làm đồng tâm hợp lực thì chắc chắn
làm được".
Về mục đích: Của các tổ hợp tác tuy cách làm thì khác nhau rất nhiều
nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau, đó là mưu lợi của những
người tham gia HTX, giúp đỡ tương trợ nhau, hạn chế bóc lột CNTB vàđế
quốc.
Về lý luận: Người sử dụng ngay tục ngữ Việt nam "Nhóm lại thành
giầu chia ra thành khổ"… Người nói: "Muốn làm hòn núi cao phải vào tổđổi
công và HTX vì nhiều người hợp lại thì sẽ làm được nhiều và tốt hơn".
Về loại hình: Người đưa ra bốn loại hình HTX: Một là HTX tín dụng,
hai là HTX mua bán, ba là HTX sản xuất, bốn là HTX vận tải. Và giải thích
HTX khác với hội buôn vì hội buôn lợi riêng, HTX lợi chung và tuy HTX
làđể giúp đỡ nhau nhưng không giống các hội buôn từ thiện. Theo Người,
ngoài nguyên tắc chung của HTX là tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ, còn
mang tính tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và chống sự bóc lột. HTX tín dụng là
ngân hàng của dân, là nơi cung cấp vốn cho sản xuất vàđời sống hoạt động
phải có hiệu quả và tạo được uy tín tín dụng trong nông thôn. Vai trò tác
dụng của mua bán là mang tính chất hợp tác nhằm có lợi cho nông dân đi
mua bán, chứ chưa nhấn mạnh tính chất kinh doanh thuần túy. Đối với HTX
sản xuất Người đưa ra ví dụ: "Người trồng bông khôn gcó bàn đánh bông,
không cóđồ kéo sợi, cho nên phải bán bông rẻ. Nếu góp nhau làm HTX,
mua đủđồ ra mà làm thìít công mà lợi nhiều". Có thể nói thiên tài của Người
không chỉđưa ra một lý thuyết về kinh tế hợp tác mà còn thể hiện tầm nhìn
xa, với một tinh thần thân ái, nhân văn sâu sắc đối với người nông dân. Có
lẽ vậy, ngay từ khi viết "Đường cách mệnh" để tuyên truyền tư tưởng cách

gia đình có hiệu quả cao, ưu việt hơn những trang trại có quy mô lớn và
không thể tổ chức theo kiểu xí nghiệp công nghiệp.
HTX chỉ là phương tiện đưa nông dân đến sựấm no, văn minh, chống
sự bóc lột và cũng là con đường đơn giản nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông
dân trong quá trình xây dựng chếđộ mới.
Sự ra đời của chếđộ hợp tác p;hải dựa vào trên cơ sở tự nguyện của
người tham gia, theo yêu cầu sản xuất của người kinh doanh , cũng từđó
sẽđảm bảo được các nguyên tắc HTH và HTX hoạt động có hiệu quả hơn.
các quan hệ hợp tác nẩy sinh trên cơ sở của nhu cầu kinh tế gia đình, kinh
tếnông trại, dù bất kỳ hình thức nào cũng không được dùng mệnh lệnh
cưỡng bức nông dân vào HTX hoặc tước đoạt TLSX của nông dân.
Chếđộ KTHT và HTX phải giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích giữa
nông dân với xã hội và giữa hộ nông dân với các tổ chức kinh tế hợp tác và
HTX.
2. Hợp tác hóa nhìn từ kinh nghiệp của các nước trên thế giới.
2.1. Hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, sau cách mạng năm 1919, ở nông thôn do nhu cầu sản
xuất đã thể hiện các hình thức hợp tác đơn giản; đổi công, tương trợ, các
HTX cấp thấp về sản xuất, tiêu thụ, vận chuyển, tín dụng… Từ năm 1955
đến năm 1957 có 87% hộ nông dân và 800.000 HTX, thực tếđó là các công
xã nhân dân với quy mô cao nhất là tập trung cao độ về ruộng đất và lao
động phân phối theo ngày công. Hình thức tổ chức HTX ởđây áp dụng hình
thức công xã giống như trong quân đội. Đội sản xuất làđơn vị cấp cơ sở gồm
30 hộ trở nên với diện tích canh tá từ 15 đến 20 ha. Trên đội sản xuất làđại
đội, mỗi đại đội gồm 10 đội, trên đại đội là trung đoàn sản xuất bao gồm
khoảng 10 đại đội. Nhiệm vụ của các trung đoàn là xây dựng các kết cấu hạ
tầng cơ sở, thủy lợi, xưởng thủ công và xí nghiệp nông thôn. Trên trung
đoàn là công xã gồm khoảng 50.000 lao động, nhiệm vụ chủ yếu làm chức
năng hành chính. Sản phẩm của công xã nộp cho Nhà nước (thuế, giá bán do
Nhà nước quy định…) sau đó Nhà nước phân phối lại theo chếđộ khẩu phần.

2.3. Hợp tác xã nông nghiệp ở Liên Xô.
Ở Liên Xô cũ, do nền sản xuất hàng hoá TBCN phát triển chậm hơn
nên các hình thức HTX cũng phát triển muộn hơn so với các nước TBCN.
Các hình thức HTX trong nông nghiệp phát triển chủ yếu vào cuối thế
kỷXIX đầu thế kỷ XX. Các HTX được hình thành một cách tự nguyện của
những hộ nông dân trong các lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, tín
dụng…
Cách mạng tháng 10 thành công, Nhà nước Sô Viết thực hiện khẩu
hiệu "Người cày có ruộng". Sau đó trong những năm nội chiến (1918 -
1920), về cơ bản nông nghiệp nước Nga vẫn là cá thể. Cũng trong giai đoạn
này, tư tưởng tả khuynh nảy nở. Họ cho rằng tập thể hóa (TTH) và HTX
càng nhanh càng sớm thì càng nhanh có chủ nghĩa xã hội, từđso kinh tế tiểu
nông đã bị xóa bỏ, đưa nông dân vào các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà
nước và cho đó là làm ăn lớn. Tiến hành phong trào TTH tuyệt đối đại bộ
phận nông dân trong vòng 3 đến 4 năm để hoàn thành cải tạo CNXH vàáp
dụng biện pháp cưỡng chế.
Nội chiến kết thúc, với chính sách kinh tế mới (NEP) và những tư
tưởng mới về HTH đã chỉ ra biện chứng của quá trình phát triển : phục hồi
củng cố và phát triển kinh tế tiểu nông vào cuộc xây dựng CNXH. Khả năng
đó chính là nhờ con đường HTH tự nguyện, vì lợi ích của nông dân, thông
qua lợi ích của họđể gắn bó với lợi ích xã hội, chứ không phải con đường
TTH cưỡng bức phi kinh tế. Nhờđó mà nước Nga thoát khỏi khủng hoảng
và có bước phát triển mạnh trong thời kỳ 1921 - 1928. Tuy nhiên, sau khi
Lênin mất, phong trào HTH lại tiếp diễn và ngày càng gay gắt hơn.
Sau này, những nhà lãnh đạo Liên Xô, những nhà khoa học và kể cả
những người dân đều thấy rõ bản chất mô hình trang trại tập thể. Viện sỹ
V.Tikhonov khi nói về quá trình TTH cưỡng bức như sau: "Sau bài học đẫm
máu ấy, người nông dân trở thành thế nào? Bị tách khỏi ruộng đất khỏi sự
phân phối sản phẩm, anh ta tđã từ chỗ làm chủ trở thành người thừa hành
các công việc". Và kết luận sự ngu dốt về mặt lý luận và do đó sự bất lức

đích, nhu cầu chung cả về kinh tế và xã hội. HTX hỗ trợ giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các thành viên, đồng thời
bảo vệ những lợi ích chính đáng của họ nhất là trong cơ chế thị trường.
Cơ sở cho sự hình thành và phát triển kinh tế HTX nông nghiệp là kinh
tế hộ nông dân hay kinh tế trang trại. HTX không phải là mục tiêu cuối cùng
của tổ chức sản xuất mà chỉ là một hình thức và biện pháp nhằm thúc đẩy và
phát triển sản xuất nông nghiệp và nó là con đường xã hội hóa nền nông
nghiệp.
Đa số các HTX được hình thành không phải trên cơ sở tập thể hóa mà
bằng góp vốn và phân chia lợi ích, do vậy không đụng chạm đến quyền sở
hứu của từng hộ, nông trại. Mặt khác nó lại tạo điều kiện làm tăng thêm
năng lực sản xuất và lợi ích của từng hộ, nông trại. Do vậy hội nông dân dễ
dàng chấp nhận và tham gia một cách hoàn toàn tự nguyện.
3. Hợp tác hóa nông nghiệp ở Việt Nam và những vấn đề cần đặt ra khi
đổi mới hiện nay.
3.1. Hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam
Kinh tế HTX ở nước ta hình thành từ những năm 1950 và phát triển
mạnh trong những namư (1960- 1962) ở miền Bắc và năm (1976 - 1980) ở
miền Nam. Trong thời gian dài, nhất là trong những năm kháng chiến chống
Mỹ, phong trào HTX ở miền Bắc đã góp phần tích cực tạo công ăn việc làm,
góp sức người sức của cho thắng lợi trên cả hai miền đất nước. Năm 1987
là năm đạt tới đỉnh cao nhất của sự phát triển về số lượng HTX, tiếp đó là
giai đoạn có nhiều biến đổi lớn nhất là từ khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Đến cuối năm 1987 cả nước có 17.022
HTX nông nghiệp và có 36.352 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, (thực cất là
HTX bậc thấp có quy môở các tỉnh Nam Bộ cũ) đã thu hút 93% số hộ vào
làm ăn tập thể. Từ khi tiến hành đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng CNXH. Việc đổi mới HTX trở thành
một yêu cầu khách quan và bức xúc. Nghị quyết 10 của bộ chính trị (khóa
VI) ngày 5 tháng 4 năm 1998 và các nghị quyết tiếp theo của Trung ương

giao chỉ tiêu pháp lệnh cho kế hoạch sử dụng của hợp tác xã, bỏ việc giao
nghĩa vụ bán nông sản đối với xã viên giảm bớt những công việc HTX phải
làm thay cho chính quyền và những khoản đóng góp khác.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, HTX chuyển sang kinh doanh dịch
vụ cho hộ xã viên và hướng dẫn sản xuất cho kinh tế hộ cá nhân phát triển,
phải cạnh tranh trong cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế tham gia
sản xuất hàng hoá, nhiều HTX không có khả năng trụ vững đã phải giải thể.
Từ năm 1988 đến năm 1994 đã có 2.958 HTX tự giải thể chiếm 17,4% tổng
số HTX v có 33.804 tập đoàn sản xuất như tỉnh An Giang, Minh Hải, Cần
Thơ, Trà Vinh, Cao Bằng. Một số kháđông HTX tồn tại chỉ là hình thức
chiếm 43,3% những HTX này đang là lực cản nặng nềđối với kinh tế hộ xã
viên. Việc chuyển những HTX loại này sang hình thức hợp tác khác còn
đang lúng túng và không ít những HTX chỉ hoạt động được vài khâu, vài
việc nhưng mức độ và kết quả thấp. Một sốít HTX đổi mới đã có kết quả.
Theo báo cáo của các tỉnh đến cuối năm 1994 số lượng HTX đãđổi mới có
kết quả là 2.560 HTX chiếm 16,3% tổng số nhưng trên thực tế tỷ lệ này chỉ
vào khoảng 10% vàđang có xu hướng giảm. Các HTX đổi mới có kết quảđã
chuyển sang kinh doanh dịch vụ, giúp cho kinh tế hộ xã viên phát triển; tổ
chức thêm ngành nghề mới hoặc khôi phục ngành nghề truyền thống để tạo
thêm việc làm và tăng thu nhập cho xã viên; hướng dẫn xã viên tiếp cận thị
trường chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ mới cho các hộ chăm lo xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát huy việc làm tình nghĩa thực hiện một số phục lợi
xã viên; có quy chế quản lý thích hợp như khoán vốn cho chủ nhiệm HTX,
tổ chức dịch vụ.
Ở nhiều nơi HTX nông nghiệp cũ giải thể hoặc tuy còn nhưng vai trò bị
lu mờ, các hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủđã xuất hiện nhu cầu
HTX mới nên nhiều nơi nông dân đã tự nguyện lập ra các hình thức kinh tế
hợp tác đa dạng như:
Các tổ dẫn nước xuất hiện nhiều nơi ởđồng bằng sông Cửu Long, nhiều
hộ trên cùng một cánh đồng rủ nhau bỏ công sức làm chung một đường dẫn

cầu đặt ra mà mức chủ yếu là :
Cần lựa chọn các hình thức hợp tác thích hợp. Mọi hình thức hợp tác
kiểu mới phải xuất phát từ lợi ích kinh tế của người nông dân, người lao
động. Lợi ích kinh tế là mục tiêu đồng thời là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
của chếđộ hợp tác. Bất kỳ hình thức kinh tế hợp tác nào, ngành nào lựa chọn
nếu không tôn trọng lợi ích của người nông dân thì người nông dân cũng sẽ
từ chối hoặc thờơ vì quyền lợi kinh tếđóng vai trò quyết định "Cần phải nêu
cao tính hơn hẳn của HTX bằng những kết quả thiết thực là làm cho thu
nhập của xã viên được tăng thêm, làm cho xã viên sau khi vào HTX thu
hoạch nhiều hơn hẳn kho còn ở ngoài. Như thế xã viên sẽ phấn khởi gắn bó
chặt chẽ với HTX của mình".
Biểu 1: So sánh đặc trưng giữa mô hình HTX nông nghiệp kiểu cũ và
mô hình HTX kiểu mới
STT
Tiêu thức HTX NN kiểu cũ HTX kiểu mới
1 Cơ sở ra đời Theo chủ trương của cấp trên Từ nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ
2 Mức độ tự nguyễn Thấp Cao
Hình thức tổ chức Lớn, đơn giản, gần với địa giới
hành chính thôn xã một người
chỉ tham gia một HTX
Nhỏ, đa dạng, không lệ thuộc vào ranh
giới hành chính một người có thể tham
gia vào người HTX với các ngành khác
nhau
4 Chủ thể tham gia Người lao động xã viên Hộ, cổđông
5 Cơ sở kinh tế tham
gia
Ruộng đất và tư liệu sản xuất
chủ yếu được tập thể hóa
Chủ yếu là sở hữu riêng sử dụng chung

STT
Tiêu thức Tổ hợp tác HTX nông nghiệp kiểu mới
1 Bản chất kinh tế
và nguyên tắc tổ
chức hoạt động
Căn bản giống HTX Theo luật HTX quy định
2 Quy mô Nhỏ Tối thiểu có 7 xã viên
3 Tính chất pháp lý Không có tư cách pháp
nhân thực hiện theo luật
dân sự
Có tư cách pháp nhân thực
hiện theo luật HTX hiện
hành.
4 Mức độđịnh Mang tính chất tạm thời ổn định lâu dài
5 Tài sản Không có tài sản độc lập Có tài sản độc lập tự chịu
trách nhiệm về các hoạt
động bằng tài sản của HTX
6 Tổ chức Chưa có bộ máy tổ chức
chặt ché
Cơ cấu tổ chức và bộ máy
quản lý chặt chẽ
7 Cơ sở hoạt động Hợp đồng giữa các tổ
viên
Theo luật vàđiều lệ của
HTX
8 Hướng phát triển HTX Tổ chức kinh tế. Từ với quy
mô ngày càng lớn (liên hiệp
liên minh với các HTX NN)
Trong mấy năm gần đây hàng vạn tổ chức hợp tác với nhiều hình thức
phong phú, đa dạng như tổ nhóm hợp tác từng vụ, từng việc và HTX từng

CỨU
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Vị tríđịa lý
Vụ Bản là 1 trong 10 huyện, thành phố của tỉnh NamĐịnh. Một tỉnh
trọng điểm nông nghiệp của đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Vụ Bản nằm ở phía tây bắc của tỉnh Nam Định, có trung tâm huyện lỵ
(thị trấn Gôi) cách thành phố Nam Định (Trung tâm tỉnh Ninh Bình) là 13
km, cóđường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 10A chạy qua với 13 km, có 2 tỉnh
lộ và tỉnh lộ 12 và 56 cắt vuông góc chạy qua huyện.
- Phía Đông giáp thành phốNamĐịnh.
- Phía Nam giáp sông Đào.
- Phía Tây và Tây nam giáp huyện ý Yên.
- Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc.
- Phía Tây Bắc giáp huyện Bình Lục (Hà Nam) và 1 phân của huyện ý
Yên.
Với vị tríđịa lý như trên Vụ Bản rất thuận lợi để giao lưu kinh tế - văn
hóa, tập trung các nguồn lực cho phát triển kinh tế nói chung và sản xuất
nông nghiệp nói riêng
2. Địa hình.
Nhìn chung Vụ Bản cóđịa hình tương đối bằng phẳng, phía Bắc vùng
thượng huyện đất hơi thấp vàđược cao dần lên ở phía Nam (Phần giáp quốc
lộ 10).
Từđất đai, địa hình và các tiêu chí khác, người ta chia Vụ Bản thành hai
tiểu vùng sinh thái kinh tế khác nhau:

Trích đoạn QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ HTX KIỂU CŨ SANG MÔ HÌNH HTX KIỂU MỚI. Dịchvụ thủy lợ Phương hướng mục tiêu Một số giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status