Nghiên cứu quá trình chuyển đổi và phát triển các mô hình hợp tác xa kiểu mới ở huyện Vụ Bản tỉnh NamĐịnh - Pdf 74

PHẦN 1
I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trên thế giới các hợp tác xã (HTX) đã hình thành hơn 150 năm. Ở
nhiều nước có thể chế độ chính trị xã hội khác nhau, hiện nay các hợp tác xã
vẫn tồn tại và một số nước đang có xu hướng mở rộng.
Ở Việt Nam, trong quá trìn0h thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng
khơi xưởng và lãnh đạo, cơ chế quản lý tập trung bao cấp từng bước bị xóa
bỏ, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hình thành và ngày càng
được hoàn thiện để điều tiết các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm qua, các HTX tổ chức theo mô hình cũ đối mặt với khó
khăn và thác thức nghiêm trọng vì không thích ứng được với cơ chế kinh tế
mới. Đại bộ phận các HTX tồn tại một cách hình thức, không có phương
hướng và nội dung hoạt động dẫn đến nhiều hợp tác xã đã tan rã.
Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế Nhà nước đã ban hàng nhiều chủ
trương chính sách nhằm tạo điều kiện cho các hộ nông dân trở thành đơn vị
kinh tế tự chủ. Chính sách đất đai đã quy định : Nhà nước giao cho các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Người sử dụng đất có
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê và được
bồi thường thiệt hại trong trường hợp đất bị thu hồi. Sự biến đổi về quan hệ
ruộng đất cũng đã tạo ra cơ sở và động lực cho sự tự chủ của người nông
dân, trên cơ sở đó góp phần dân chủ hóa đời sống kinh tế, xã hội ở nông
thôn, xây dựng nông thôn mới. Việc thực hiện các chính sách khác như phát
triển các thành phần kinh tế, chính sách thị trường, chính sách đầu tư và
nhiều mối quan hệ giữa Nhà nước và nông dân đã có những thay đổi cơ bản,
tạo cơ sở và động lực phát triển lực lượng sản xuất (LLSX), chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Nhờ vậy, nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn
của nước ta trong hơn thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu nổi bật, tạo
1
ra những bước chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở nông
thôn.
Cả nước nói chung và huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định nói riêng từ khi

chuyển đổi và phát triển một số mô hình HTX vận tải (HTXVT), HTX nông
nghiệp (HTXNN). Trên cơ sở lý luận về HTX trước khi chuyển đổi, trong,
sau chuyển đổi và quá trình phát triển của nó để từ đó đề xuất một số biện
pháp phát triển KTHT ở huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định.
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA VIỆC NGHIÊN
CỨU ĐỔI MỚI HTX
Việt nam đã trải qua hơn 10 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp, trên cơ sở xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Kinh tế gia
đình đã phát triển với nhiều loại hình hợp tác trong sản xuất và lưu thông
hàng hoá, thực chất là sự trở lại tư tưởng của những nhà sáng lập ra chủ
nghĩa xã hội (CNXH) khoa và và những học giả khác trong lịch sử về chế độ
HTX. Điều đó xuất phát từ nhu cầu cấp bách phải cải tổ, đổi mới mô hình
kinh tế quốc dân cũng như đổi mới chế độ hợp tác trong nông nghiệp.
I. NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HTX
1. Một số khái niệm HT, HTX và HTXNN.
- Hợp tác (HT) được mô tả như là một nhóm người cùng nhau làm việc
và hướng về một mục đích và lợi ích chung.
- Hợp tác xã (KTX) là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động
có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy
định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên
nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
- Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là tổ chức kinh tế tự chủ do nông
dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp
vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của
tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt
động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên và kinh doanh trong lĩnh

Mác chưa kịp hoàn chỉnh. Hơn nữa, đối với nông dẫn, Cac Mác và Ăngghen
đều tỏ một thái độ hết sức thận trọng. Chính vì thế mà Ăngghen nêu luận
điểm "Cần để cho người nông dẫn suy nghĩ trên luống cày của họ".
Ăngghen đã khẳng định một điều kiên quyết rằng khi giai cấp vô sản giành
được chính quyền thì tuyệt đối không được tước đoạt những người tiểu nông
dù bất kỳ dưới hình thức gì nhưng buộc phỉa làm đối với những chủ đâtài
sản lớn. Nhà nước vô sản phải bằng những biện pháp hết sức tỷ mỉ, khuyến
khích họ "Liên hợp kinh tế của họ với hiệp hội, mà trong đó có thể ngày
càng giảm bớt sự bóc lột làm thuê, những hiệp hội đó dần dần sẽ chiếm
được đa số áp đảo trong những bộ phận cấu thành của hiệp hội sản xuất toàn
xã hội vĩ đại với quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng.
Chính sự phát triển LLSX của kinh tế hộ nông dân đã dẫn đến nhu cầu
hợp tác phong phú và đa dạng. Kế thừa các tổ chức HTX truyền thống đã ra
đời hàng thế kỷ trước. Ngày nay ở hầu hết các nước TBCN phát triển, các
hình thức kinh tế hợp tác (KTHT) giữa nông hộ, nông trại vẫn được duy trì,
phát triển và ngày càng phát huy tác dụng tích cực trong "Nghề nông hợp
lý" ở trình độ cao.
Bằng phương pháp biện chứng Macxit và bằng hoạt động thực tiễn của
mình Lenin đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển những
luận điểm của Mác và Ăngghen. Năm 1908 khi bàn về việclựa chọn con
đường phát triển của nông nghiệp nước Nga, Lênin đã nhận thấy rằng :
Không thể phát triển nông nghiệp theo con đường CNTB, CNTB phổ vì đó
là kiểu phát triển kém hiệu quả mà phải là kiểu "Một chủ trại tự do trên
mảnh đất tự do, nghĩa là mảnh đất đó được dọn sạch tàn tích trung cổ. Đó là
kiểu Mỹ".
Lenin cho rằng : Causky đã đặt vấn đề rất chính xác và đúng đắn khi
nói rằng nông nghiệp không phát triển theo cùng một kiểu với chủ nghĩa.
Thực cho đến ngày nay càng khẳng định sự thắng thế của con đường khác
6
với kiểu "Nông trại kỹ nghệ ở Anh" hoặc điền trang "kiểu phổ" mà Mác,

chế độ kinh tế mới. Kiểu tổ chức HTX như vậy đem lại khả năng kết hợp
được những nguyên tắc dường như trái ngược nhau giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích xã hội đảm bảo cho "lợi ích cá nhân" phục tùng "lợi ích chung", điều
mà trước đây nan giải đối với CNXH. Trong sự kết hợp đó không được xóa
bỏ quyền sở hữu tư nhân về vật phẩm tiêu dùng và TLSX của nông dân. Nhà
lý luận HTX Nga - Tchayanoy (1889 - 1939) đã có nhiều công trình nghiên
cứu về nông thôn - nông nghiệp được Lênin đánh giá cao. Ông đã nghiên
cứu tỉ mỉ sự gắn bó, dung hợp, tác động qua lại lẫn nhau giữa kinh tế hộ
nông dân với kinh tế HTX. Năm 1927, ông đã đưa ra định nghĩa về HTX
như sau: "HTX là hiệp hội các hộ nông dân. HTX chỉ là xã hội hóa một phần
sản xuất, chính phần của sản xuất lớn có ưu thế hơn sản xuất nhỏ. Quá trình
này có thể thực hiện mà không phá hoại nông dân lao động, bằng cách tổ
chức các ngành và hoạt động mà sự liên hiệp lại trên nguyên tắc sao cho có
hiệu quả kinh tế. HTH là một quá trình xã hội hóa từng bước kinh tế nông
dân, kinh tế HTX ra đời và phát triển không phá vỡ kinh tế gia đình nó tách
dần một số lĩnh vực và một số công việc và nếu làm ở gia đình không có lợi
bằng HTX là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ cho nó, mà vì thế
thiếu kinh tế nông nghiệp thì HTX không có ý nghĩa gì cả". Sự tách rời này
diễn ra trước hết và phổ biến ở những khâu những quá trình cách xa công
việc trực tiếp của người nông dân với sinh vật. Ông đề xuất tập chung hóa
tối thiểu ở những quá trình sinh học, dần dần từng bước tập trung ở những
lĩnh vực có liên quan từ gần đến xa từ những khâu trong quá trình lưu thông,
chế biến nông sản dịch vụ kỹ thuật…
Sự tách rời và kết hợp lại như vậy sẽ biến đổi dần nền kinh tế nông dân,
tạo ra những nhân tố của nền sản xuất XHCN. Con đường đó sẽ từng bước
chuyển nền kinh tế nông dân biệt lập sang hình thức cao nhất của sản xuất
xã hội. Sự chuyển biến đó dài hay ngắn còn tùy thuộc vào trình độ phát triển
8
của LLSX. Sự tích tụ trong sản xuất nông nghiệp đi liền với sự phát triển
của những hình thức HTH theo chiều từ dưới lên trên. Sự hình thành phát

quyền là độc lập dân tộc là người cày có ruộng. Trong "Đường cách mệnh"
(1927), Hồ Chí Minh viết : "Đảng cộng sản cầm quyền tổ chức ra Chính phủ
công, nông, binh phát đất cho nông dân người cày có ruộng… ra sức tổ chức
kinh tế mới". Trong giai đoạn phát triển kinh tế đất nước, lợi ích của nhân
dân và nông dân được đặt lên hàng đầu. Chính trị là sự biểu hiện trong luận
điểm "Nếu nước độc lập mà dân không hướng mục đích tự do thì độc lập
chẳng có ý nghĩa gì". Trong thời kỳ đất nước khôi phục và phát triển kinh tế
nhiều thành phần, bắt đầu từ nông nghiệp đã có thắng lợi to lớn để chứng
minh tư tưởng ấy. Người đã tiếp cận tư tưởng Mác về "Nghề nông hợp lý",
đã đóng góp hoàn thiện và áp dụng trong điều kiện cụ thể tại Việt Nam.
Người đặc biệt nhấn mạnh đặc điểm to lớn của nước ta trong thời kỳ quá độ
là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH. Hồ Chí Minh đã
hiểu rõ sức mạnh của sự hợp tác, liên kết, nhưng làm thế nào để tổ chức ra
sự tổ chức và liên kết đó, nhất là trong nông thôn lạc hậu, nông nghiệp manh
mún ở nước ta. Theo người "Sửa chữa cái xã hội ấy mấy ngàn năm (trì trệ,
lạu hậu nhân dân không có ruộng, canh tác manh mun…), làm xã hội mới
XHCN ấy mới là khó khăn. Nhưng biết làm đồng tâm hợp lực thì chắc chắn
làm được".
Về mục đích: Của các tổ hợp tác tuy cách làm thì khác nhau rất nhiều
nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau, đó là mưu lợi của những
người tham gia HTX, giúp đỡ tương trợ nhau, hạn chế bóc lột CNTB và đế
quốc.
Về lý luận: Người sử dụng ngay tục ngữ Việt nam "Nhóm lại thành
giầu chia ra thành khổ"… Người nói: "Muốn làm hòn núi cao phải vào tổ
đổi công và HTX vì nhiều người hợp lại thì sẽ làm được nhiều và tốt hơn".
10
Về loại hình: Người đưa ra bốn loại hình HTX: Một là HTX tín dụng,
hai là HTX mua bán, ba là HTX sản xuất, bốn là HTX vận tải. Và giải thích
HTX khác với hội buôn vì hội buôn lợi riêng, HTX lợi chung và tuy HTX là
để giúp đỡ nhau nhưng không giống các hội buôn từ thiện. Theo Người,

đa dạng hóa nền kinh tế nhiều thành phần.
Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, kinh tế hợp tác và HTX không phải là
mục đích mà chỉ là phương tiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Hồ Chí Minh đã
thấy được trình độ non yếu trong công tác quản lý của cán bộ ta, nhất là tư
tưởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí trong việc phát triển KTHT ở nông
thôn. Hồ Chí Minh nói "Nông dân cần trông thấy lợi ích bộ phận và lợi ích
toàn cuộc. Cho nên việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại
cho dân phải hết sức tránh". Mục đích của việc xây dựng và phát triển của
HTX là nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân.
Tóm lại, các luận điểm cơ bản của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội
khoa học về chế độ kinh tế môi trường và HTX tập trung chủ yếu vào vấn đề
sau:
Do đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp kiểu tổ chức trang trại
gia đình có hiệu quả cao, ưu việt hơn những trang trại có quy mô lớn và
không thể tổ chức theo kiểu xí nghiệp công nghiệp.
HTX chỉ là phương tiện đưa nông dân đến sự ấm no, văn minh, chống
sự bóc lột và cũng là con đường đơn giản nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông
dân trong quá trình xây dựng chế độ mới.
Sự ra đời của chế độ hợp tác p;hải dựa vào trên cơ sở tự nguyện của
người tham gia, theo yêu cầu sản xuất của người kinh doanh , cũng từ đó sẽ
đảm bảo được các nguyên tắc HTH và HTX hoạt động có hiệu quả hơn. các
quan hệ hợp tác nẩy sinh trên cơ sở của nhu cầu kinh tế gia đình, kinh tế
12
nông trại, dù bất kỳ hình thức nào cũng không được dùng mệnh lệnh cưỡng
bức nông dân vào HTX hoặc tước đoạt TLSX của nông dân.
Chế độ KTHT và HTX phải giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích giữa
nông dân với xã hội và giữa hộ nông dân với các tổ chức kinh tế hợp tác và
HTX.
2. Hợp tác hóa nhìn từ kinh nghiệp của các nước trên thế giới.
2.1. Hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc

HTX cả nược. Hoạt động của các HTX nông nghiệp rất đa dạng, có thể kể
đến một số hoạt động chính của HTX như : cho xã viên vay vốn, nhận tiền
gửi tiết kiệm của xã viên, thu mua nông sản của xã viên để kinh doanh, cung
ứng vật tư, máy móc nông nghiệp, hạt giống cho xã viên, cung ứng các loại
dịch vụ cho xã viên.
Hệ thống tổ chức HTX nông nghiệp theo 3 cấp : HTX cấp huyện, tỉnh
và quốc gia. HTX cấp huyện do một ban thường trực quản lý, thành viên của
ban này gồm đại diện của tất cả các Hiệp hội nông dân cấp xã trong phạm vi
huyện, để giúp đỡ các HTX có một ban cố vấn bao gồm chủ yếu là các quan
chức Nhà nước do người đứng đầu huyện làm chủ tịch, ba hoặc nhiều HTX
cấp huyện hợp thành HTX cấp tỉnh. Các HTX nông nghiệp ở Thái Lan được
hình thàn từ những người nông dân tự nguyện liên kết lại với nhau. Cơ quan
quyền lực cao nhất của HTX là đại biểu đại hội xã viên hay đại hội đại biểu
xã viên, đại hội bầu ra hội đồng ban quản trị, hội đồng ban quản trị chỉ định
chủ nhiệm, chủ nhiệm lập và điều hanh bộ máy quản lý HTX.0
2.3. Hợp tác xã nông nghiệp ở Liên Xô.
Ở Liên Xô cũ, do nền sản xuất hàng hoá TBCN phát triển chậm hơn
nên các hình thức HTX cũng phát triển muộn hơn so với các nước TBCN.
Các hình thức HTX trong nông nghiệp phát triển chủ yếu vào cuối thế kỷ
14
XIX đầu thế kỷ XX. Các HTX được hình thành một cách tự nguyện của
những hộ nông dân trong các lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, tín
dụng…
Cách mạng tháng 10 thành công, Nhà nước Sô Viết thực hiện khẩu hiệu
"Người cày có ruộng". Sau đó trong những năm nội chiến (1918 - 1920), về
cơ bản nông nghiệp nước Nga vẫn là cá thể. Cũng trong giai đoạn này, tư
tưởng tả khuynh nảy nở. Họ cho rằng tập thể hóa (TTH) và HTX càng
nhanh càng sớm thì càng nhanh có chủ nghĩa xã hội, từ đso kinh tế tiểu nông
đã bị xóa bỏ, đưa nông dân vào các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước và
cho đó là làm ăn lớn. Tiến hành phong trào TTH tuyệt đối đại bộ phận nông

quận thành phố (KRZALEN) làm nhiệm vụ cung ứng trực tiếp cho các nông
trại vốn tín dụng, dịch vụ kỹ thuạt mua nông sản. Liên hiệp HTX nông
nghiệp quận với 10.000 hộ xã viên thường có 500 đến 600 cơ sở cấp xã, thị
trấn và các HTX cơ sở, các HTX cơ sở tập hợp 99,2% số nông trại tham gia.
Nhìn chung quy mô các HTX ngày càng tăng lên và số HTX giảm đi.
Ở NHật Bản, các hợp tác xã không làm nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý trực
tiếp đất đai, lao động hoạt động sản xuất của các nông trại mà chỉ làm các
dịch vụ cho sản xuất như là ấp trứng, xưởng chế biến, xưởng sửa chữa công
cụ máy móc. Ngoài ra còn một số cơ sở phục vụ sinh hoạt như nhà văn hóa,
cửa hàng ăn uống, hệ thống thông tin liên lạc… quy mô đất canh tác của các
HTX ở các vùng trồng lúa thường nhỏ còn quy mô canh tác ở các HTX
trồng loại cây trồng khác và chăn nuôi bò thường lớn hơn. Bên cạnh hình
thức HTX tổng hợp, ở Nhật Bản còn phát triển các HTX chuyên ngành như:
Nuôi ong, nuôi lợn, gia cầm, nghề vườn và các HTX thủ công nghiệp.
Tóm lại, qua tóm tắt sơ lược về quá trình HTH là HTX nông nghiệp ở
một số nước trên thế giới cho thấy : HTX là một hình thức tổ chức kinh tế
có khả năng thu hút số đông người tham gia nhằm giải quyết những mục
16
đích, nhu cầu chung cả về kinh tế và xã hội. HTX hỗ trợ giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các thành viên, đồng thời
bảo vệ những lợi ích chính đáng của họ nhất là trong cơ chế thị trường.
Cơ sở cho sự hình thành và phát triển kinh tế HTX nông nghiệp là kinh
tế hộ nông dân hay kinh tế trang trại. HTX không phải là mục tiêu cuối cùng
của tổ chức sản xuất mà chỉ là một hình thức và biện pháp nhằm thúc đẩy và
phát triển sản xuất nông nghiệp và nó là con đường xã hội hóa nền nông
nghiệp.
Đa số các HTX được hình thành không phải trên cơ sở tập thể hóa mà
bằng góp vốn và phân chia lợi ích, do vậy không đụng chạm đến quyền sở
hứu của từng hộ, nông trại. Mặt khác nó lại tạo điều kiện làm tăng thêm
năng lực sản xuất và lợi ích của từng hộ, nông trại. Do vậy hội nông dân dễ

18
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, các HTX nông nghiệp đã tập trung
giải quyết những vấn đề cơ bản để phát huy vai trò tự chủ của hộ xã viên.
Đến nay ruộng đất và hều hết các TLSX cơ bản đã khác và đã có chủ cụ thể
hóa về ruộng đất và các tư liệu sản xuất cơ bản, HTX chỉ giữ lại những cơ
sở vật chất kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến đời sống chung của xã viên và
cũng giao khoán cho các hộ nhóm lao động hoặc người lao động quản lý sử
dụng như các công trình thủy lơi, đường điện trạm biến thế, các cơ sở dịch
vụ máy móc lớn… phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt; phần lớn các tài sản
còn lại đã hóa giá bán cho hộ xã viên hoặc hóa giá và chuyển sang UBND
xã quản lý để phục vụ chung cho của xã ví dụ: Qua điều tra 360 HTX ở tỉnh
Hải Hưng, giá trị bình quân mỗi hợp tác xã là 411.276.000 đồng, Hợp tác xã
giữ lại chỉ chiếm 21,2%; chuyển nhượng cho hộ cá nhân 39,9%; chuyển
giao sang UBND xã 40,9%.
Hiện nay các HTX đã và đang tiếp tục giao quyền sử dụng ruộng đất ổn
định lâu dài cho hộ xã viên HTX rút dần sự can thiệp trực tiếp vào quyền
chủ động sản xuất kinh doanh cho hộ xã viên. Hộ xã viên tự quyết định việc
sản xuất kinh doanh của hộ xã viên, tự do mua vật tư, thuê dịch vụ, bán sản
phẩm. HTX và hộ xã viên quan hệ bình đẳng thông qua hợp đồng kinh tế,
việc thu quỹ cho hợp tác xã về cơ bản đã được xóa bỏ. Chính quyền không
giao chỉ tiêu pháp lệnh cho kế hoạch sử dụng của hợp tác xã, bỏ việc giao
nghĩa vụ bán nông sản đối với xã viên giảm bớt những công việc HTX phải
làm thay cho chính quyền và những khoản đóng góp khác.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, HTX chuyển sang kinh doanh dịch
vụ cho hộ xã viên và hướng dẫn sản xuất cho kinh tế hộ cá nhân phát triển,
phải cạnh tranh trong cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế tham gia
sản xuất hàng hoá, nhiều HTX không có khả năng trụ vững đã phải giải thể.
Từ năm 1988 đến năm 1994 đã có 2.958 HTX tự giải thể chiếm 17,4% tổng
số HTX v có 33.804 tập đoàn sản xuất như tỉnh An Giang, Minh Hải, Cần
19

định nhưng xu hướng đang hình thành đơn vị kinh doanh có đủ tư cách pháp
nhân hoạt động thực sự theo cơ chế HTX. Hiện nay nhìn chung các tổ hợp
tác kiểu mới có quy mô nhỏ trên dưới 10 hộ tổ chức gọn nhẹ, nội dung hoạt
động còn đơn giản nhưng thiết thực, phân chia lợi ích công bằng, cùng có
lợi nên được nông dân đồng tình hưởng ứng; Nhiều tổ hợp tác kiểu mới xuất
hiện ngay trong HTX kiểu cũ. Ngoài sự xuất hiện những HTX kiểu mới đã
một số HTX trên cơ sở hợp nhất một số tập đoàn sản xuất nông nghiệp một
cách tự nguyện thành lập HTX để tập trung vốn, tổ chức hoạt động dịch vụ
cho xã viên tốt hơn.
3.2. Những vấn đề đặt ra khi đổi mới HTX hiện nay.
Nền kinh tế nước ta xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ
lạc hầu, sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần tham gia theo
cơ chế thị trường, phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác trong đó
có HTX. Đây cũng là thời gian chuẩn bị cho công cuộc công nghiệp hóa đất
nước, thì hàng loạt các vấn đề mới lại nảy sinh yêu cầu cần phải giải quyết.
Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn vẫn là một trong xí nghiệp
chiến lược phát triển kinh tế xã hội chủ yếu của nước ta cho nên việc giải
quyết những mẫu thuận để cho kinh tế hộ và kinh tế HTX phát triển dựa trên
kinh tế hộ tự chủ làm cho hai nhân tố này trở thành những nhân tố cộng
sinh. Do vậy trong tình trạng hiện nay, việc tạo điều kiện thuận lợi để cho
kinh tế hợp tác ra đời và phát triển mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế nông nghiệp
nông thôn cũng là việc tháo gỡ những mâu thuẫn vướng mắc và những yêu
cầu đặt ra mà mức chủ yếu là :
Cần lựa chọn các hình thức hợp tác thích hợp. Mọi hình thức hợp tác
kiểu mới phải xuất phát từ lợi ích kinh tế của người nông dân, người lao
động. Lợi ích kinh tế là mục tiêu đồng thời là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
của chế độ hợp tác. Bất kỳ hình thức kinh tế hợp tác nào, ngành nào lựa
21
chọn nếu không tôn trọng lợi ích của người nông dân thì người nông dân
cũng sẽ từ chối hoặc thờ ơ vì quyền lợi kinh tế đóng vai trò quyết định "Cần

Chủ yếu làm dịch vụ đầu vào, đầu ra
cho kinh tế hộ
8 Cơ chế quản lý Chủ yếu là hiện vật bao cấp Kinh doanh theo cơ chế thị trường
9 Tính chất hoạt động Để phát triển kinh tế tập thể
của chính bản thân mỗi HTX
và thay thế căn bản hoạt động
kinh tế mỗi hộ
Vì yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh
tế của mỗi hộ có thành viên đã góp cổ
phần góp sức để thành lập HTX nên nó
vì kinh tế hộ chứ không phải thay thế
kinh tế hộ
10 phân phối Đề ra theo lao động nhưng còn
mang nặng tính bình quân
Theo lao động vốn cổ phần và mức độ
sử dụng
11 Mục đích thành lập Đưa nông dân vào làm ăn tập
thể và phát triển kinh tế tập thể
Không coi lợi nhuận là mục tiêu tối cao
mà vì sự phát triển và hiệu quả của kinh
tế hộ.
22
Biểu 2: So sánh đặc trưng giữa mô hình hợp tác và hợp tác xã nông
nghiệp kiểu mới
STT
Tiêu thức Tổ hợp tác HTX nông nghiệp kiểu mới
1 Bản chất kinh tế
và nguyên tắc tổ
chức hoạt động
Căn bản giống HTX Theo luật HTX quy định

23
ở những vùng nông nghiệp có trình độ sản xuất hàng hoá cao, để gắn
bó chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, để bảo vệ lợi ích
của mình trong nền kinh tế thị trường nông dân dễ nhận thấy động cơ lợi ích
và tham gia một cách tự nguyện tổ chức HTX tại những vùng nông nghiệp
hàng hoá có môi trường thuận lợi và có nội dung để hoạt động. Có thể hình
thành những HTX đa ngành (kinh doanh tổng hợp), HTX chuyên ngành
hoặc các HTX thực hiện một vài công đoạn của sản phẩm trong quá trình
sản xuất hoặc dịch vụ. Cần khuyến khích hình thành và phát triển các dạng
HTX đơn giản như tổ, nhóm hợp tác từng khâu, từng việc của quá trình sản
xuất hoặc dịch vụ để tiến tới hình thành và phát triển của các hợp tác xã
chuyên ngành hoặc HTX đa ngành.
Đối với những vùng sản xuất hàng hoá chưa phát triển, chủ yếu là sản
xuất tự cấp tự túc thì nên lựa chọn các hình thức hợp tác thấp để giải quyết
một số khó khăn của hộ nông dân trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm và đời
sống. Hình thức hợp tác có thể là tổ, nhóm hợp tác với quy mô nhỏ, hoạt
động trong một số khâu làm đất, cung cấp giống… Cùng với sự phát triển
sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất hàng hoá, những hình thức đơn giản
trên sẽ phát triển, từ đó hình thành các HTX. Trước mắt ở những vùng này
không nên đưa nông dân vào các hình thức hợp tác bậc cao hoặc chuyển đổi
HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới một cách nhanh chóng khi trình độ lực
lượng sản xuất còn thấp kém. Bước đi trên đây là hợp quy luật, sẽ đưa
phong trào HTX ở nước ta đi từng bước vững chắc để tiếp tục đổi mới và
phát triển
24
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Vị trí địa lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status