1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, cụm công nghiệp là một thuật ngữ đã xuất hiện trong nền kinh
tế thế giới. Quá trình hình thành và phát triển cụm công nghiệp đã chứng tỏ vai
trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Quá trình
tham gia vào cụm công nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ hội tăng năng
suất, có khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào, thông tin, công nghệ, nguồn nhân
lực và nhà cung cấp dễ dàng hơn, cũng như sự hỗ trợ phù hợp từ phía chính phủ.
Trên thực tế, phát triển cụm công nghiệp là một trong những nhân tố thu hút
mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài - nguồn vốn đặc biệt quan trọng với nền
kinh tế các nước đang phát triển. Trong quá trình tìm kiếm địa điểm đầu tư, các
nhà đầu tư luôn cân nhắc kỹ những yếu tố liên quan đến hiệu quả đầu tư.
Công nghiệp ô tô ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Nó có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến
nhiều ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, các quốc gia đã
không ngừng hoàn thiện nhiều chính sách liên quan đến ngành công nghiệp ô tô.
Những năm gần đây, châu Á là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên
thế giới và ngành công nghiệp ô tô rất phát triển. Chính thành công trong quá
trình thu hút FDI được đánh giá là một trong những động lực tạo nên sự phát
triển của ngành công nghiệp này tại nhiều quốc gia đang phát triển. Trong đó,
điểm nổi bật chính là sự nỗ lực của các chính phủ trong quá trình phát triển các
cụm công nghiệp phục vụ cho ôtô nhằm thu hút FDI.
Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam cũng có nhiều chính sách nhằm phát
triển ngành công nghiệp này. ừ
2
đ
rong ngành công nghiệp ôtô vào FDI tại Việt Nam và Vĩnh Phúc.
Ba là, đánh giá khả năng phát triển cụm công nghiệp phục vụ cho công
nghiệp ô tô và thu hút FDI vào Việt Nam và Vĩnh Phúc.
Bốn là, đề xuất một số giải pháp để phát triển cụm công nghiệp ô tô nhằm
thu hút FDI tại tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương sau:
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI VÀ CỤM CÔNG NGHIỆP
Chương II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CỤM CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VÀ KHẢ NĂNG THU HÚT FDI TẠI VĨNH PHÚC
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ NHẰM THU HÚT FDI TẠI VĨNH PHÚC
Do thời gian cũng như tài liệu và kiến thức còn hạn, nên công trình nghiên
cứu không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
4
CHƢƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ
CỤM CÔNG NGHIỆP
1.1. Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Đầu tư là việc chủ đầu tư bỏ vốn tiến hành hoạt động đầu tư trong lĩnh vực
cụ thể để thu hút lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội.
Dựa vào nguồn gốc của chủ đầu tư, có hoạt động đầu tư trong nước hoặc
đầu tư nước ngoài và dựa và mục đích, cách thức tham gia vốn góp, mà người ta
chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
dụng mức 10%, làm mốc xác định FDI, trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ
sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10%, nhưng họ vẫn
được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng
vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Nhìn chung, các khái niệm quốc tế đều có điểm chung là hoạt động thiết
lập các mối quan hệ lâu dài hay lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư và thể hiện quyền
kiểm soát, ảnh hưởng và tiếng nói của nhà đầu tư tới việc quản lý doanh nghiệp.
- Theo nguồn Việt Nam: Luật đầu tư năm 2005 mặc dù không có khái
niệm về FDI nhưng từ những khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư
nước ngoài” và “đầu tư ra nước ngoài” có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do
nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt
Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia quản lý hoạt động đầu
6
tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Như vậy, dù không có khái niệm cụ thể và riêng biệt nhưng theo quan
niệm của Việt Nam có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài
đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt
động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam.
Từ các khải niệm trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối
quan tâm lâu dài, phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thế
cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư tực tiếp nước ngoài hoặc doanh
nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế
của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi
nhánh hay chi nhánh nước ngoài).
Thứ hai, chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc
quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong
1.1.2.4. Thu nhập của chủ đầu tƣ
Thu nhập mà chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải lợi tức xuất phát từ đặc điểm có quyền tham gia kiểm soát doanh
nghiệp của họ.
1.1.2.5. FDI thƣờng kèm chuyển giao công nghệ
FDI thường kèm chuyển giao công nghệ cho nước nhận đầu tư.
8
Do trong hình thức đầu tư trực tiếp, các chủ đầu tư nước ngoài quan tâm
chính là lợi ích lâu dài hay mối quan hệ lâu dài trong các doanh nghiệp nhận đầu
tư, nên họ không những góp vốn bằng tiền mà còn mang theo cả công nghệ, trình
độ quản lý để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ những đặc điểm trên, có thể kết luận rằng:
Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyền kiểm
soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư.
Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tạo cho
nước sở tại có cơ hội được tiếp thu công nghệ và kĩ thuật hiện đại, tiếp thu được
môi trường quản lý và tác phong làm việc tiên tiến của nước ngoài, giúp các
nước sở tại khai thác một cách hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn
vốn trong nước, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước. Nhà đầu tư không
dễ dàng rút vốn để chuyển sang hình thức đầu tư khác nếu thấy sự bất ổn của nền
kinh tế nước nhận đầu tư. Tuy nhiên nhược điểm là nước tiếp nhận đầu tư bị
phục thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI, khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu
tư theo ngành và theo vùng lãnh thổ.
Nếu nước tiếp nhận đầu tư không có một quy hoạch đầu tư cụ thể, dễ dẫn
đến việc đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá
mức, ô nhiễm môi trường trầm trọng và có thể bị nhập máy móc thiết bị công
nghệ cũ kĩ lạc hậu với giá đắt.
FDI còn có những tác động tích cực đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán
nói chung. Ngoài nguồn thu từ xuất khẩu, các nguồn thu khác trong cán cân vãng
lai cũng chịu ảnh hưởng dây chuyền từ hoạt động FDI. Các dịch vụ phục vụ các
nhà đầu tư thu ngoại tệ được mở rộng và phát triển.
10
Khách quốc tế đến các nước đang phát triển với mục đích tìm hiểu cơ hội
đầu tư tăng lên, dịch vụ du lịch, khách sạn, vận chuyển hàng không…cũng theo
đó mà phát triển. Mặc dù ảnh hưởng của FDI đến cán cân thanh toán còn là vấn
đề tranh cãi, do quan điểm cho rằng nguồn lợi nhuận chuyển ra nước ngoài dần
sẽ lớn và có tác động bất lợi. Nguồn thu từ xuất khẩu và từ các dịch vụ thu ngoại
tệ sẽ ngày càng gia tăng, còn nhu cầu nhập khẩu sẽ ổn định.
- Định hướng của chính phủ
FDI giúp các nước tăng GDP. Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn FDI
trong cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ngày càng tăng, liên tục có tốc độ tăng
trưởng cao hơn mức trung bình của nền kinh tế. FDI cũng đóng góp phần tăng
thu cho ngần sách nước nhận đầu tư thông qua thuế và tiêu dùng các dịch vụ
công cộng. Chính vì vậy nó góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển, tăng trưởng
kinh tế, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển
1.1.3.2 Phân loại theo cách thức thâm nhập
Hai hình thức chủ yếu là đầu tư mới (Greenfield Investment –GI ) và Mua
lại và sát nhập qua biên giới (M&A:Cross-border Merger and Acquisition).
Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh
doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh
đã tồn tại. Mua lại và sát nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến
việc mua lại hoặc hợp nhất với các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động.
Hai thuật ngữ “mua lại” và “sát nhập” được Luật cạnh tranh thông qua
tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực ngày tháng 7 năm 2005, điều 17, có đưa ra
khái niệm rõ hơn. Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp
12
Hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên
doanh là một pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân
độc lập, khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanh thì dù một
bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại.
Đây là phương pháp phổ biến nhất ở Viêt Nam trong thời gian quan hưng
cũng từ thực tế đã trải nghiệm cho thấy sự hợp tác này không phải lúc nào cũng
suôn sẻ và thường thì phía đối tác Viêt Nam do quản lý kém nên mất quyền kiểm
soát vào tay đối tác nước ngoài.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước
ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân
nước ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng các công ty trách
nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt nam.
- Một số hình thức khác
+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( BOT): là một
phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được kí kết giữa
nhà đầu tư nước ngoài ( có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà
nước có thẩm quyển để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạt, hết thời hạn
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà.
+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT): là một phương thức đầu tư
nước ngoài trên cơ sở văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.
Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
nước chủ nhà.
. Chính sách lao động.
. Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế.
Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đàu tư vào những nước có
hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đông bộ, thông thoáng, minh bạch
và có thể dự đoán được. Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư.
Thứ hai là các yếu tổ của môi trường kinh tế: Nhiều nhà kinh tế cho rằng
các yếu tổ kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố có ảnh hưởng quyết
định trong thu hút FDI. Tùy động cơ của chủ đầu tư mà có các yếu tố sau:
- Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu
tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng
trưởng của thị trường, khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới, các sở
thích đặc biệt của người tiêu dung ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường
- Các chủ đầu tư tìm kiếm nguyền nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đén
tài nguyên thiên nhiên, lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ, lao động cóa tay
nghề, công nghệ, phát minh, sang chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra
( thương hiệu…) cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, viễn thông),
- Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các
nguồn tài nguyên, tài sản, có cân đối với năng suất lao động, các chi phí như chi
phí vận chuyển, thông tin liên lạc đi/đến hoặc trong nước nhận đầu tư, chi phí
mua bán thành phẩm, tham gia các hiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi cho
việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực.
15
Hình 1.1: Các yếu tố của môi trƣờng đầu tƣ
tham nhũng, thủ tục hành
chính…)
- Các dịch vụ tiện ích xã
hội đảm bảo chất lượng
cuộc sống cho chủ đầu tư
- Dịch vụ hậu đầu tư
Khung chính sách FDI
- Sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã
hội
- Các quy định về việc thành lập và
hoạt động của các nhà đầu tư nước
ngoài
- Các quy tắc đối xử
- Các chính sách liên quan đến chức
năng và cấu trúc thị trường,(đặc biệt là
chính sách cạnh tranh và M&A)
- Các hiệp định quốc tế về FDI
- Chính sách tư nhân hóa
- Chính sách thương mại (thuế quan và
NTBs), sự liên kết chặt chẽ giữa chính
sách FDI và chính sách thương mai.
- Chính sách thuế
Các yếu tố
kinh tế:
(FDI phân
loại theo
động cơ của
nhà đầu tư)
Tìm kiếm thị trƣờng
cho việc thành lập mạng
lưới các doanh nghiệp toàn
khu vực
16
-
Thứ ba là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh, bao gồm chính sách
xúc tiến đầu tư, các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư, giảm các tiêu cực phí
bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính.
1.2. Một số vấn đề lý luận về cụm công nghiệp
1.2.1. Khái niệm cụm công nghiệp
Cụm công nghiệp là một khái niệm đã xuất hiện trong nền kinh tế thế
giới, tuy nhiên, do những cách tiếp cận khác nhau, do những sự khác biệt về
trình độ nền sản xuất công nghiệp cũng như các điều kiện kinh tế xã hội, đã dẫn
tới có khá nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về cụm công nghiệp.
Theo quan điểm của Michael E. Porter, chuyên gia quản lý nổi tiếng hàng
đầu thế giới của Đại học Havard “Cụm là nơi tập trung về mặt địa lý của các
công ty và các thể chế có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau trong một lĩnh vực
nào đó, ở một khu vực địa lý có lợi thế cạnh tranh khác thường về lĩnh vực đó”
[13]. Như vậy, cụm công nghiệp theo quan điểm của M. Porter là nơi hội tụ
những doanh nghiệp quan hệ mật thiết và liên đới với nhau trong cạnh tranh,
hoặc được mở rộng thành các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm bổ sung, quan hệ
liên đới với nhau về kỹ năng, công nghệ hay các nguyên liệu chung. Kết luận về
lý thuyết theo M. Porter, để phát huy lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp hỗ trợ
nên định vị gần nhau thành các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên ngành, hoặc
những ngành sản xuất rất gần nhau về công nghệ, về yêu cầu lao động…
Các cơ quan phát
triển
Cơ quan pháp lý
Công nghệ tương
tự
Chia sẻ chung
nguồn nhân lực
Chiến lược giống
nhau 18
Tại Việt Nam, trước khi có Quy chế thành lập và quản lý cụm công
nghiệp, khái niệm cụm công nghiệp thường gắn liền với khái niệm khu công
nghiệp. Cụm công nghiệp có thể là các khu công nghiệp vừa và nhỏ được hình
thành ngoài quy định của Chính phủ theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997, tức
là các khu công nghiệp không nằm trong quy hoạch được Chính phủ phê duyệt
thành lập, mà do chính quyền địa phương ra quyết định thành lập. Một quan
điểm khác lại cho rằng cụm công nghiệp là địa điểm đã phát triển công nghiệp
trước đây, này quy hoạch lại để phát triển theo mô hình khu công nghiệp.
Ngày 19/08/2009, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 105/2009/QĐ –
TTg về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý Cụm công nghiệp thống nhất
trên cả nước. Theo Quy chế này, Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ
phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác
định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp
chủ yếu các doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất công nghiệp dịch vụ trong nước.
1.2.2. Đặc điểm cụm công nghiệp
Qua một số khái niệm về cụm công nghiệp đưa ra ở trên, có thể thấy có
khá nhiều quan điểm khác nhau về cụm công nghiệp, tuy nhiên, nhìn chung các
quan điểm đều có chung một số đặc điểm chính về cụm công nghiệp như sau:
1.2.2.1. Tập trung về mặt địa lý
Cụm công nghiệp là một khu vực với quy mô nhỏ bao gồm nhiều doanh
nghiệp tập trung sản xuất các mặt hàng có liên quan với nhau, nhờ có tính tập
trung, chi phí sản xuất và chi phí quản lý của các doanh nghiệp trong cụm công
nghiệp được tiết kiệm đáng kể. Ngoài ra, sự tập trung theo địa lý của các doanh
nghiệp cũng được tiết kiệm đáng kể, tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và
1
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính Phủ. ( theo Luật đầu
tư 2005) 20
phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nhgiệp trong
cùng một lãnh thổ. Đồng thời, một mạng lưới các nhà cung cấp mang lại sự đổi
mới và lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ.
1.2.2.2. Có tính chuyên môn hoá
Trong cụm công nghiệp, việc chuyên môn hoá vào một ngành nghề không
những tiết kiệm được chi phí sản xuất, gia tăng tổng mức hàng hoá, dịch vụ mà
còn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đội ngũ lao động; sản phẩm sản xuất ra
đảm bảo chất lượng, tạo nên vị trí của cụm công nghiệp trong nên kinh tế.
1.2.2.3. Các doanh nghiệp có mối liên kế chặt chẽ
Theo như khái niệm về cụm công nghiệp đã trình bày, sản phẩm sản xuất
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực, tạo công ăn việc làm
và nâng cao thu nhập , đời sống cho dân cư…. và được thành lập theo quyết định
của chính quyền địa phương (tỉnh hoặc huyện).
Cụm công nghiệp với mục tiêu là phát triển sản xuất kinh doanh công
nghiệp, trên cơ sở giải quyết tốt vấn đề tạo ra kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật và
môi trường, thực hiện tách biệt khu sản xuất khỏi khu dân cư sinh sống.
Đối tưọng vào cụm công nghiệp làng nghề là các cơ sở sản xuất, kinh
doanh (doanh nghiệp vừa, nhỏ, hộ kinh doanh gia đình) ở làng nghề chuyển đến.
- Cụm công nghiệp hiện đại
Cụm công nghiệp hiện đại là loại hình cụm công nghiệp được xây dựng
mới hoàn toàn, chủ yếu do các công ty nước ngoài, doanh nghiệp lớn trong nước
đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng nhanh và chất lượng khá cao, tạo điều kiện
22
hấp dẫn các công ty nước ngoài có công nghệ kĩ thuật cao, khả năng tài chính
lớn và có chiến lược kinh doanh lâu dài tại Việt Nam.
Trong cụm công nghiệp hiện đại thường bao gồm đầy đủ các khu chức
năng chính như: khu dịch vụ kỹ thuật, khu nhà máy xí nghiệp, khu cây xanh, các
dự án kế cận, thuận lợi trong liên lạc giữa các khu chức năng với nhau trong nội
khu, cũng như hợp lý trong mối liên hệ với khu vực
1.2.3.2. Theo cơ cấu ngành nghề
- Cụm công nghiệp tổng hợp
Cụm công nghiệp tổng hợp thường có quy mô lớn hơn cụm công nghiệp
làng nghề: diện tích ban đầu có thể từ 5-10 ha, giai đoạn sau phát triển lên
khoảng 30-50 ha. Các cụm công nghiệp này, thường được hình thành trên cơ sở
nhu cầu của một số các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có phải di dời hoặc cần
phát triển mới, cũng có một số cơ sở sản xuất tự nguyện góp vốn xây dựng và tự
thành lập ban quản lý riêng.
Nguồn vốn xây dựng các cụm công nghiệp này, có thể một phần là vốn
vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá vào cái “vòng luẩn
quẩn” đó, để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các nước nhận
đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận thích đáng,
khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả. Hơn nữa, lượng vốn này còn có lợi
thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ: thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định, đôi khi
quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt hơn.
24
Như vậy đầu tư nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Chuyển giao công nghệ
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ
sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ
đầu tư không chỉ đưa vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật
như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu...(hay còn gọi là phần cứng), tri thức khoa
học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường ...(hay còn gọi là phần mềm.)
Do vậy đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu
tư, cụ thể FDI đã và sẽ:
.Thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm
lượng công nghệ cao.
. Đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật
cho các đối tác trong nước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo
và quá trình vừa học vừa làm.
. Mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận
công nghệ của các nước nhận đầu tư.
. Thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo kỹ sư, nhà quản lý
có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu dịch chuyển trong nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự
nghiệm quản lý tiên tiến
Cụm công nghiệp là môi trường tiếp nhận chuyển giao và sử dụng hiệu
quả những thành tựu khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất.