Sử Dụng Mô Hình Đối Tượng Thông Minh Trong Biểu Diễn Tri Thức Và Xây Dựng Chiến Lược Suy Diễn - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
________________
BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC
BIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG
Đề Tài:
Sử Dụng Mô Hình Đối Tượng Thông Minh
Trong Biểu Diễn Tri Thức Và
Xây Dựng Chiến Lược Suy Diễn
Học viên thực hiện:
Trần Thanh Quốc Thắng
MSSV: CH1101131
Nguyễn Anh Nhân
MSSV: CH1101114

TP. HCM, 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
Phần 1: Tổng Quan Về Biểu Diễn Tri Thức 3
I. Giới thiệu về biểu diễn tri thức 3
II. Vai trò của biểu diễn tri thức trong ứng dụng 3
III. Một số phương pháp biểu diễn tri thức 4
1. Biểu diễn tri thức sử dụng luật dẫn xuất (luật sinh) 4
2. Biểu diễn tri thức sử dụng mạng ngữ nghĩa 6
3. Biểu diễn tri thức bằng frame 9
4. Biểu diễn tri thức bằng script 10
Phần 2: Mô Hình Đối Tượng Thông Minh 13
I. Giới thiệu 13
II. Mô hình đối tượng thông minh 13
1. Tổng quan về mô hình đối tượng thông minh 13
2. Các thành phần của một đối tượng thông minh 14

• Nó là một tập hợp các cam kết bản thể học, nghĩa là, một câu trả lời cho câu
hỏi: tôi nên suy nghĩ về thế giới theo khía cạnh nào ?
• Đó là một lý thuyết rời rạc của lý luận thông minh, thể hiện về ba thành phần:
(i) quan niệm cơ bản của biểu diễn của lý luận thông minh, (ii) tập hợp các suy luận
được thừa nhận và (iii) thiết lập các kết luận nó khuyến cáo.
• Nó là một phương tiện để tính toán thực dụng hiệu quả, tức là, môi trường tính
toán mà suy nghĩ được thực hiện. Một trong những đóng góp hiệu quả này thực tế
được cung cấp bởi các hướng dẫn cơ quan đại diện cung cấp cho tổ chức thông tin để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra những kết luận đề nghị.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 3
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
• Nó là một phương tiện biểu hiện của con người, nghĩa là, một ngôn ngữ mà
chúng ta diễn đạt về thế giới.
Hiểu biết về vai trò và thừa nhận sự đa dạng của biểu diễn tri thức có những kết
quả rất hữu ích. Thứ nhất, từng vai trò được yêu cầu có một cái gì đó hơi khác nhau
trong cùng một biểu diễn, mỗi vai trò sẽ bắt nguồn cho những thuộc tính thú vị và
khác biệt mà mỗi biểu diễn tri thức phải có.
Thứ hai, chúng tôi tin rằng vai trò cung cấp một khuôn khổ hữu ích để mô tả
một loạt các biểu diễn. Chúng tôi đề nghị cơ bản "tư duy" của biểu diễn tri thức có thể
được nắm bắt bằng sự hiểu cách đánh giá mỗi vai trò, và cho thấy điểm tương đồng
và khác biệt cần thiết.
Thứ ba, chúng tôi tin rằng một số bất đồng trước đây về biểu diễn tri thức là hữu
ích khi tất cả các vai trò được đưa ra xem xét thích hợp. Chúng tôi chứng minh điều
này bằng cách xem xét lại và mổ xẻ các đối số đầu liên quan đến frame và logic.
Cuối cùng, chúng tôi tin rằng xem xét biểu diễn tri thức theo cách này sẽ có kết
quả cho cả nghiên cứu và thực hành. Đối với nghiên cứu, quan điểm này cung cấp
một câu trả lời trực tiếp cho một câu hỏi có ý nghĩa cơ bản trong lĩnh vực này. Nó
cũng cho thấy việc áp dụng một quan điểm rộng rãi về những gì quan trọng về biểu
diễn tri thức, và nó làm cho các trường hợp đó một phần đáng kể của các nỗ lực đại

Tùy vào các vấn đề đang quan tâm mà luật sinh có những ngữ nghĩa hay cấu tạo khác
nhau :
Trong logic vị từ : P
1
, P
2
, , Pn, Q là những biểu thức logic.
Trong ngôn ngữ lập trình, mỗi một luật sinh là một câu lệnh.
IF (P
1
AND P
2
AND AND Pn) THEN Q.
Trong lý thuyết hiểu ngôn ngữ tự nhiên, mỗi luật sinh là một phép dịch :
ONE → một.
TWO → hai.
JANUARY → tháng một
Để biễu diễn một tập luật sinh, người ta thường phải chỉ rõ hai thành phần chính sau :
(1) Tập các sự kiện F(Facts)
F = { f
1
, f
2
, fn

}
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 5
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
(2) Tập các quy tắc R (Rules) áp dụng trên các sự kiện dạng như sau :

Các mối quan hệ này sẽ được biểu diễn trực quan bằng một đồ thị như sau :
Hình 1.1 Các mối quan hệ trong mạng ngữ nghĩa
Do mạng ngữ nghĩa là một loại đồ thị cho nên nó thừa hưởng được tất cả những
mặt mạnh của công cụ này. Nghĩa là ta có thể dùng những thuật toán của đồ thị trên
mạng ngữ nghĩa như thuật toán tìm liên thông, tìm đường đi ngắn nhất,… để thực
hiện các cơ chế suy luận. Điểm đặc biệt của mạng ngữ nghĩa so với đồ thị thông
thường chính là việc gán một ý nghĩa (có, làm, là, biết, ) cho các cung. Trong đồ thị
tiêu chuẩn, việc có một cung nối giữa hai đỉnh chỉ cho biết có sự liên hệ giữa hai đỉnh
đó và tất cả các cung trong đồ thị đều biểu diễn cho cùng một loại liên hệ. Trong
mạng ngữ nghĩa, cung nối giữa hai đỉnh còn cho biết giữa hai khái niệm tương ứng có
sự liên hệ như thế nào. Việc gán ngữ nghĩa vào các cung của đồ thị đã giúp giảm bớt
được số lượng đồ thị cần phải dùng để biễu diễn các mối liên hệ giữa các khái niệm.
Chẳng hạn như trong ví dụ trên, nếu sử dụng đồ thị thông thường, ta phải dùng đến 4
loại đồ thị cho 4 mối liên hệ : một đồ thị để biểu diễn mối liên hệ "là", một đồ thị cho
mối liên hệ "làm", một cho "biết" và một cho "có".
Một điểm khá thú vị của mạng ngữ nghĩa là tính kế thừa. Bởi vì ngay từ trong
khái niệm, mạng ngữ nghĩa đã hàm ý sự phân cấp (như các mối liên hệ "là") nên có
nhiều đỉnh trong mạng mặc nhiên sẽ có những thuộc tính của những đỉnh khác. Chẳng
hạn theo mạng ngữ nghĩa ở trên, ta có thể dễ dàng trả lời "có" cho câu hỏi : "Chích
chòe có làm tổ không?". Ta có thể khẳng định được điều này vì đỉnh "chích chòe" có
liên kết "là" với đỉnh "chim" và đỉnh "chim" lại liên kết "biết" với đỉnh "làm tổ" nên
suy ra đỉnh "chích chòe" cũng có liên kết loại "biết" với đỉnh "làm tổ". (Nếu để ý, bạn
sẽ nhận ra được kiểu "suy luận" mà ta vừa thực hiện bắt nguồn từ thuật toán "loang"
hay "tìm liên thông" trên đồ thị!). Chính đặc tính kế thừa của mạng ngữ nghĩa đã cho
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 7
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
phép ta có thể thực hiện được rất nhiều phép suy diễn từ những thông tin sẵn có trên
mạng.
Tuy mạng ngữ nghĩa là một kiểu biểu diễn trực quan đối với con người nhưng

Hầu như không thể biển diễn các tri thức dạng thủ tục bằng mạng ngữ nghĩa vì
các khái niệm về thời gian và trình tự không được thể hiện tường minh trên mạng ngữ
nghĩa.
3. Biểu diễn tri thức bằng frame
Frame là một cấu trúc dữ liệu chứa đựng tất cả những tri thức liên quan đến một
đối tượng cụ thể nào đó. Frames có liên hệ chặt chẽ đến khái niệm hướng đối tượng
(thực ra frame là nguồn gốc của lập trình hướng đối tượng). Ngược lại với các
phương pháp biểu diễn tri thức đã được đề cập đến, frame "đóng gói" toàn bộ một đối
tượng, tình huống hoặc cả một vấn đề phức tạp thành một thực thể duy nhất có cấu
trúc. Một frame bao hàm trong nó một khối lượng tương đối lớn tri thức về một đối
tượng, sự kiện, vị trí, tình huống hoặc những yếu tố khác. Do đó, frame có thể giúp ta
mô tả khá chi tiết một đối tượng.
Dưới một khía cạnh nào đó, người ta có thể xem phương pháp biểu diễn tri thức
bằng frame chính là nguồn gốc của ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng. Ý tưởng của
phương pháp này là "thay vì bắt người dùng sử dụng các công cụ phụ như dao mở để
đồ hộp, ngày nay các hãng sản xuất đồ hộp thường gắn kèm các nắp mở đồ hộp ngay
bên trên vỏ lon. Như vậy, người dùng sẽ không bao giờ phải lo lắng đến việc tìm một
thiết bị để mở đồ hộp nữa!". Cũng vậy, ý tưởng chính của frame (hay của phương
pháp lập trình hướng đối tượng) là khi biểu diễn một tri thức, ta sẽ "gắn kèm" những
thao tác thường gặp trên tri thức này. Chẳng hạn như khi mô tả khái niệm về hình chữ
nhật, ta sẽ gắn kèm cách tính chu vi, diện tích.
Frame thường được dùng để biểu diễn những tri thức "chuẩn" hoặc những tri
thức được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm hoặc các đặc điểm đã được hiểu biết
cặn kẽ. Bộ não của con người chúng ta vẫn luôn "lưu trữ" rất nhiều các tri thức chung
mà khi cần, chúng ta có thể "lấy ra" để vận dụng nó trong những vấn đề cần phải giải
quyết. Frame là một công cụ thích hợp để biểu diễn những kiểu tri thức này.
Mỗi một frame mô tả một đối tượng (object). Một frame bao gồm 2 thành phần
cơ bản là slot và facet. Một slot là một thuộc tính đặc tả đối tượng được biểu diễn bởi
frame. Ví dụ : trong frame mô tả xe hơi, có hai slot là trọng lượng và loại máy.
Mỗi slot có thể chứa một hoặc nhiều facet. Các facet (đôi lúc được gọi là slot

Result (Kết quả) : trạng thái của các Role sau khi script đã thi hành xong.
Track (phiên bản) : mô tả một biến thể (hoặc trường hợp đặc biệt) có thể xảy ra
trong đoạn script.
Sau đây là một ví dụ tiêu biểu cho script. Ví dụ này là một biến thể của ví dụ nổi
tiếng về nhà hàng bán thức ăn nhanh (các nhà hàng bán gà rán mà ta thường gặp trong
các siêu thị!) thường được sử dụng để minh họa cách biểu diễn tri thức bằng script
trong cách sách nói về trí tuệ nhân tạo. Đi ăn trong một nhà hàng là một tình huống
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 10
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
thường gặp trong cuộc sống với những điều kiện vào, diễn viên, tác tố, hoàn cảnh, kết
quả khá "chuẩn". Và qua script ở ví dụ, bạn sẽ thấy phương pháp này có thể được
dùng để mô tả chính xác những tình huống diễn ra hàng ngày của những nhà hàng bán
thức ăn nhanh. Các tình huống là những đoạn script con trong đoạn script chính để
mô tả những tình huống nhỏ trong toàn bộ quá trình. Lưu ý rằng trong đoạn script này
có tình huống tùy chọn trong đó mô tả việc khách hàng mua thức ăn về thay vì vào
nhà hàng ăn.
Script "nhà hàng"
Phiên bản : Nhà hàng bán thức ăn nhanh.
Diễn viên : Khách hàng
Người phục vụ.
Tác tố : Bàn phục vụ.
Chỗ ngồi.
Khay đựng thức ăn
Thức ăn
Tiền
Các loại gia vị như muối, tương, ớt, tiêu,
Điều kiện vào :
Khách hàng đói
Khách hàng có đủ tiền để trả.

Script rất hữu dụng trong việc dự đoán điều gì sẽ xảy đến trong những tình
huống xác định. Thậm chí trong những tình huống chưa diễn ra, script còn cho phép
máy tính dự đoán được việc gì sẽ xảy ra và xảy ra đối với ai và vào thời điểm nào.
Nếu máy tính kích hoạt một script, người dùng có thể đặt câu hỏi và hệ thống có thể
suy ra được những câu trả lời chính xác mà không cần người dùng cung cấp thêm
nhiều thông tin (trong một số trường hợp có thể không cần thêm thông tin). Do đó,
cũng giống như frame, script là một dạng biểu diễn tri thức tương đối hữu dụng vì nó
cho phép ta mô tả chính xác những tình huống "chuẩn" mà con người vẫn thực hiện
mỗi ngày hoặc đã nắm bắt chính xác.
Để cài đặt script trong máy tính, bạn phải tìm cách lưu trữ các tri thức dưới dạng
hình thức. LISP là ngôn ngữ lập trình phù hợp nhất để làm điều này. Sau khi đã cài
đặt xong script, bạn (người dùng) có thể đặt câu hỏi về những con người hoặc điều
kiện có liên quan trong script. Hệ thống sau đó sẽ tiến hành thao tác tìm kiếm hoặc
thao tác so mẫu để tìm câu trả lời. Chẳng hạn bạn có thể đặt câu hỏi "Khách hàng làm
gì trước tiên?". Hệ thống sẽ tìm thấy câu trả lời trong scene 1 và đưa ra đáp án "Đậu
xe và bước vào nhà hàng".
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 12
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Phần 2: Mô Hình Đối Tượng Thông Minh
I. Giới thiệu
Phần 2 sẽ trình bày việc sử dụng mô hình đối tượng thông minh việc thiết kế các
hệ thống cơ sở tri thức phức tạp, đồng thời thảo luận về tiềm năng của mô hình này ở
khía cạnh các chiến lược suy diễn và các kỹ thuật phát triển cho những hệ thống cơ sở
tri thức. Phần này cũng sẽ trình bày một ngôn ngữ lập trình với tên gọi Smart Object
Language (SOL) cho việc biểu diễn mô hình trên và đưa ra một ví dụ về việc sử dụng
mô hình đối tượng thông minh trong một hệ thống tài chính. Cuối cùng là phần kết
luận, đồng thời đưa ra một số phương hướng cho việc nghiên cứu, phát triển và mở
rộng mô hình đối tượng thông minh.
II. Mô hình đối tượng thông minh

Việc phân chia một môi trường thành phần miền, phần ứng dụng và sự tương tác
giữa các thành phần này được minh họa trong hình 2.1. Đối tượng thông minh chính
là kiến trúc cơ bản biểu diễn các phần, các kết nối, là những khái niệm mà chúng ta
mong muốn nắm bắt và suy ra những phần tham khảo liên quan đến chúng.
Các đối tượng thông minh có một cấu trúc nội bộ dùng để phân vùng tri thức
chứa bên trong chúng, xác định các tương tác, các đặc điểm hành vi của một hệ thống
các đối tượng.
2. Các thành phần của một đối tượng thông minh
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 14
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Hình 2.2 Các thành phần của một đối tượng thông minh
Một đối tượng thông minh có bốn thành phần chính được trình bày như trong
hình 2.2
Trong mỗi thành phần, tri thức về cấu trúc hệ thống hoặc hành vi của hệ thống
được diễn đạt bởi một ngôn ngữ luật cơ sở (rule-based language) được suy ra bởi
động cơ suy diễn. Bất cứ ngôn ngữ nào nếu muốn hiện thực mô hình này sẽ phải thêm
vào các câu lệnh cho phép chuyển đổi các chiến lược suy diễn hay các khai báo để chỉ
ra một chiến lược suy diễn cụ thể khả thi ứng với một đối tượng thông minh cụ thể.
Miền phương thức (Methods) của một đối tượng thông minh chứa cả hai loại
tri thức: tri thức phần miền và tri thức phần ứng dụng của đối tượng. Miền phương
thức xử lý và tạo ra tri thức cho cả phần miền và phần chi tiết. Luật cơ sở khi được
phân mãnh (là một điều tự nhiên trong suốt quá trình giải quyết vấn đề sử dụng đối
tượng thông minh) sẽ cho hiệu quả cao hơn khi không được tách biệt vì chỉ một số tập
luật được tham khảo thường xuyên ở những mức thấp hơn trong hệ thống phân cấp.
Hiệu quả này đã được vận dụng trong môi trường hệ chuyên gia của IBM (IBM’s
Expert System Environment) và hiệu quả của nó đã được chứng minh.
Miền thuộc tính (Attributes) của một đối tượng thông minh chứa đặc điểm mô
tả của đối tượng bao gồm các ràng buộc toàn vẹn, các heuristics, các luật thu được,
các phương thức khởi tạo.

điều kiện ngoại lệ trong hệ thống, khả năng của miền quan sát là cực kỳ mạnh mẽ cho
việc biểu diễn bất kỳ thay đổi chủ yếu nào trong hành vi của hệ thống. Nó cũng cho
phép quan sát, ghi lại các bước thực hiện và hành vi của hệ thống. Các chiến lược suy
diễn và các cách thức suy diễn được khởi tạo dưới sự điều khiển của chương trình.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 16
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Việc phân chia nội bộ các đối tượng thông minh là một cố gắng nhằm điều
khiển sự phức tạp không thể tránh được trong những môi trường lớn và có nhiều hoạt
động đa dạng. Một đối tượng thông minh không chỉ đơn giản là một nhóm khái niệm
của các yếu tố tri thức, mặc dù nó phục vụ cho chức năng cần thiết đó; cấu trúc cung
cấp tri thức tiềm ẩn đồng thời đơn giản hóa việc biểu diễn và cung cấp sự hỗ trợ cho
lập trình viện trong việc lập trình với những khai báo nghiêm ngặt trong những ngôn
ngữ lập trình truyền thống. Sự phức tạp của siêu điều khiển và chiến lược đa suy diễn
được điều khiển nhờ vào đặc tính ẩn của đối tượng. Biểu diễn khái niệm là rõ ràng
hơn khi được bao bọc trong kiểu đối tượng và việc sử dụng lại cũng có thể xem như là
một ưu điểm phụ. Cấu trúc hình thức cũng giúp cho việc hiện thực động cơ suy diễn
có khả năng hiệu quả hơn.
III. Ngôn ngữ biểu diễn đối tượng thông minh (SOL)
SOL là một ngôn ngữ dùng để biểu diễn ngôn ngữ mô tả luật trong việc hiện
thực kiểu dữ liệu của những đối tượng thông minh. Phần này sẽ sử dụng SOL để trình
bày cách thức biểu diễn một mô hình đối tượng thông minh, tuy nhiên sẽ không trình
bày một cách chi tiết, thay vào đó sẽ trình bày tổng quan về một hệ thống SOL.
Theo như cách định nghĩa về kiến trúc của một đối tượng thông minh, SOL đưa
ra cách thức trình bày cho các miền của một đối tượng thông minh: miền phương
thức, miền thuộc tính, miền giao diện và miền quan sát như trong hình 2.3
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 17
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Hình 2.3 Ngôn ngữ mô tả đối tượng thông minh

thường trong lập trình hướng đối tượng cũng được áp dụng trong những hệ thống đối
tượng thông minh, và nếu phần luật biến đổi của một lớp cha của các đối tượng chứa
những luật đĩnh nghĩa lại các luật cố định thì những luật ghi đè sẽ được kế thừa bởi tất
cả các lớp bên dưới lớp cha. Các lớp khác nhau của một lớp cha có thể có những luật
biến đổi đã được chỉnh sữa và tạo thành hệ thống phân cấp kế thừa.
Cả hai phần luật biến đổi và luật cố định của thành phần giám sát chứa những
luật có chung dạng với những luật của thành phần phương thức. Phần luật biến đổi có
thể rỗng. Có một tập các hành động đặc biệt (start, resume) và những từ khóa dùng
trong việc giám sát liên lạc (suspend, method, done) được dành riêng cho các luật
giám sát. Cách xây dựng này cho phép điều khiển qua lại giữa các thành phần trong
đối tượng thông minh và giữa các đối tượng với nhau, thêm vào đó là việc cho phép
thực thi bất kỳ hành động nào được cho phép trong miền phương thức. Cách thức sử
dụng các từ khóa của SOL để hiện thực một chiến lược suy diễn sẽ được minh họa
trong phần kế tiếp.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 19
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
IV. Ví dụ về cách thiết kế một đối tượng thông minh
1. Mô hình hệ thống phân tích tài chính
Hình 2.4 Kiến trúc của một cơ sở tri thức về tài chính
Hình 2.4 minh họa kiến trúc của một hệ thống hỗ trợ phân tích tài chính. Thiết
kế này được xây dựng dựa trên một biến thể của phương pháp Wirfs-Brock. Việc tiếp
cận đối tượng thông minh trong hệ thống cơ sở tri thức được minh họa trong ví dụ
này. Hệ thống sẽ đánh giá tình hình tài chính của công ty và hỗ trợ đưa ra các đề nghị
để cải thiện các chỉ số bất lợi nếu cần thiết. Các chỉ số công nghiệp trung bình được
sử dụng như là tiêu chuẩn cho việc đánh giá năng suất. Hệ thống này đã được xây
dựng trước đó bởi một trong những tác giả bằng cách sử dụng một hệ chuyên gia.
Kiến trúc của một hệ thống đối tượng thông minh là khác hẳn so với các hệ thống
trước đó ở chỗ tri thức được phân thành một số hạng mục chính, mỗi hạng mục tri
thức được nhúng vào trong một đối tượng thông minh, như trong hình 2.4. Mối quan

Tái sử dụng
Việc biểu diễn tri thức ở dạng đối tượng cho phép khả năng tái sử dụng lại tri
thức. Việc phát triển các hệ thống tri thức có phương thức (prototype) liên quan với
nhau cho phép tận dụng lại các đối tượng thông minh đã được phát triển trước đó. Ví
dụ, một hệ thống cho vay ủy quyền trong ngân hàng có thể tận dụng lại hầu như là
toàn bộ các module phân tích.
Phân vùng tri thức
Trong ví dụ này, tri thức được phân vào những vùng tách biệt với nhau, mỗi
vùng tương ứng với một đối tượng thông minh và tạo thành một hệ thống phân cấp.
Mức độ phân chia tối đa mà một hệ thống cơ sở tri thức có thể được phân chia (thành
các module) vẫn đang còn tiếp tục được nghiên cứu. Các đối tượng thông minh cung
cấp khả năng biểu diễn tri thức thích hợp cũng như khả năng áp dụng kỹ thuật phân
tích phát triển theo hướng đối tượng nhằm mỡ rộng thêm đề tài này.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 21
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Cấp cao nhất của hệ thống trong ví dụ trên cung cấp đánh giá về tình hình tài
chính ở mức độ vĩ mô. Các dữ liệu ở mức cao và các biến trạng thái sử dụng trong
việc đánh giá bởi module mức phân tích vĩ mô được liên kết với nhau từ phần thuộc
tính tới những phương thức dùng để chỉ ra dữ liệu hiện tại có đầy đủ chưa. Nếu chưa,
các phương thức sẽ được gọi bên trong các đối tượng thông minh ở mức thấp hơn: lợi
nhuận, tính thanh khoản, doanh thu và tỷ số vốn vay. Chuỗi suy luận bên trong các
module này sẽ được thực hiện trong các ngữ cảnh khác nhau, hoàn toàn độc lập về
trạng thái và nội dung thông tin. Chỉ kết quả sau cùng được trã về và được sử dụng
bởi mức phân tích vĩ mô. Ví dụ bên dưới sẽ trình bày hai luật trong phương thức
DanhGiaHieuSuat của đối tượng thông minh mức phân tích vĩ mô
If ThanhKhoan = KhongTe and LoiNhuan = Tot
Then HieuSuat = Tot
If ThanhKhoan = Tot and LoiNhuan = Tot and DoanhThu = Tot
Then HieuSuat = XuatSac

tiêu chuẩn về thiết kế, biểu diễn tri thức trong các hệ thống cơ sở tri thức phức tạp. Nó
xây dựng, nắm giữ các vùng và tri thức ứng dụng dưới dạng các đối tượng thông
minh, tính đóng gói của dữ liệu và các trạng thái được cải thiện. Các đối tượng thông
minh được định nghĩa bằng những cấu trúc nội nhằm hỗ trợ thiết kế cho những hệ
thống cơ sở tri thức phức tạp. Chiến lược đa suy diễn và các tác vụ chung là tự nhiên
trong cách tiếp cận đối tượng thông minh.
Mô hình này cũng đã chứng tỏ tính linh động trong việc sử dụng. Nó có thể
được mỡ rộng cho phù hợp với thiết kế của các hệ chuyên gia và có thể hiện thực một
số lượng lớn các hệ thống cơ sở tri thức khác nhau một cách hiệu quả hơn nhiều so
với các phương pháp truyền thống. Dự án này cũng đưa ra một số định hướng cho
việc mỡ rộng nghiên cứu mô hình trong tương lai như:
 Hình thức hóa phương pháp thiết kế một hệ thống cơ sở tri thức sử dụng
mô hình này.
 Hiện thực ngôn ngữ đối tượng thông minh SOL, hay nâng cấp nó lên một
phiên bản mới, như là một thư viện đối tượng. Điều này sẽ cho phép bất
cứ ứng dụng nào được phát triển trong môi trường đó đều dễ dàng thêm
vào một hệ thống cơ sở tri thức con ở dạng một mạng lưới các đối tượng
thông minh.
 Cải tiến ngôn ngữ đối tượng thông minh, cung cấp lệnh giám sát cho
phép truy cập tới các cấu trúc tượng trưng của hệ thống.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 23
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
 Phát triển các phương thức cho phép từ ngôn ngữ đối tượng thông minh
có thể gọi đến các ngôn ngữ lập trình phổ biến khác.
MÔN HỌC: BIIỂU DIỄN TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG 24
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
Trong phạm vi ngắn gọn của đề tài, nghiên cứu về biểu diễn tri thức và ứng
dụng của nó trong tin học, thông qua lý thuyết về biểu diễn tri thức bằng việc sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status