MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu – kết quả cần đạt 4
3. Đối tượng nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Phạm vi nghiên cứu 5
7. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu 5
PHẦN II: NỘI DUNG 7
I- Cơ sở lý luận 7
II- Nội dung 7
1. Thực trạng nghiên cứu 7
2. Những hạn chế, khó khăn 8
3. Giải pháp về dạy các yếu tố hình học lớp 4 9
4. Phát huy khả năng sáng tạo trong dạy học « các yếu tố hình học »ở lớp 4 14
5. Kết quả thực nghiệm và ích lợi, khả năng vận dụng 22
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
1. Kết luận 24
2. Kiến nghị 25
* Đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học, sáng kiến cấp trường 27
* Đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học, sáng kiến cấp huyện 28
* Đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học, sáng kiến cấp tỉnh 29
* Phiếu đăng ký viết sáng kiến kinh nghiệm 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
Bậc Tiểu học không những là bậc nền móng cho các bậc học cao
hơn, mà còn là bậc học nền tảng cho việc dạy môn Toán ở các bậc học tiếp theo.
Giáo dục Tiểu học là giáo dục toàn diện nhằm đáp ứng quá trình công nghiệp
“ Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả
năng sáng tạo của học sinh ”.
4
3. Đối tượng nghiên cứu:
Để thực hiện hiệu quả đề tài đưa ra, tôi đã lấy đối tượng nghiên cứu là
học sinh ở lớp 4A- Trường Tiểu học Tề Lỗ - Yên Lạc – Vĩnh Phúc để minh
chứng cho quá trình giảng dạy các yếu tố hình học Toán 4.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Áp dụng từ thực tế - các em nắm vững kiến thức trọng tâm, phương pháp
giảng dạy của giáo viên về hình học từ đơn giản, trừu tượng đến nâng cao. Bản
thân tôi đã nghiên cứu phương pháp giảng dạy từng dạng toán hình học ở lớp 4 .
Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ này, tôi thực hiện đúng nội dung, phương
pháp, hình thức dạy học đảm bảo, nhằm tạo không khí học tập sôi nổi, hăng say,
thu hút sự đam mê toán học của học sinh lớp 4A- Trường Tiểu học Tề Lỗ.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Khi thực hiện nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
a/ Phương pháp nghiên cứu lí luận.
* Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài sách giáo khoa, sách giáo
viên, sách bồi dưỡng học sinh Giỏi lớp 4, sách tham khảo ở Tiểu học.
* Hệ thống hóa những vấn đề có liên quan đến yếu tố hình học Toán 4.
b / Phương pháp điều tra, khảo sát.
* Thực trạng Toán hình ở lớp 4.
* Trực tiếp đối thoại với học sinh Tiểu học ở lớp 4.
c/ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Trực tiếp dạy và dự giờ Toán.
d/ Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả
* Kiểm tra chất lượng qua từng tháng.
* Thống kê kết quả qua từng tháng.
d/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
* Giáo viên tự rút kinh nghiệm cho bản thân
lứa tuổi, các em không đọc kỹ đề bài, thường hay vội vàng, hấp tấp, các em chưa
cẩn thận trong quá trình vẽ hình; nhiều khi ra kết quả đúng nhưng lại thiếu lập
luận nên đúng nhưng chưa đủ. Bên cạnh đó còn có nguyên nhân là chủ quan; các
em không tự tin vào bài làm của mình nên dẫn đến sai. Điều này cho thấy các
em thiếu cơ sở lý luận, không tin tưởng vào khả năng làm bài của bản thân. Từ
điều này, tôi đã nghiên cứu đề tài :
“ Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát
huy khả năng sáng tạo của học sinh ”.
Tâm lý học sinh Tiểu học mang tính tư duy tương đối, cụ thể. Trí nhớ
máy móc ảnh hưởng đến thao tác tư duy, thao tác tổng hợp. Mọi khả năng của
các em đều trừu tượng.
Từ đặc điểm trên, tôi lựa chọn dạy từng dạng bài với phương pháp dạy
học đảm bảo tính vừa sức, đồng thời phát huy khả năng sáng tạo của học sinh.
1. Quan điểm dạy yếu tố hình học ở Tiểu học:
- Quan sát vật mẫu, thực hành vẽ hình trên bảng con hoặc trên giấy kẻ ô ly để
nhận dạng, ghi tên hình, tính toán chính xác.
- Trừu tượng hình học theo mô hình thủ thuật có kinh nghiệm mang lại kết quả
cao.
2. Tiến hành dạy hình học ở Tiểu học.
- Việc dạy yếu tố hình học lớp 4 – cần lựa chọn được các phương pháp dạy
học phù hợp với từng nội dung và phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh.
- Linh hoạt, tự tin, chủ động trong chuẩn bị kế hoạch dạy học từng bài và
trong tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập.
II. Nội dung:
1. Thực trạng nghiên cứu:
- Trong chương trình môn Toán lớp 4, ở học kỳ I chủ yếu tập trung và bổ
sung, hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hóa, khái quát hóa về số tự nhiên và dãy số
tự nhiên, các phép tính và một số tính chất. Ở học kỳ II tập trung vào dạy phân
đúng mức tới việc làm thế nào để đối tượng học sinh nắm vững được lượng kiến
thức. Nguyên nhân là do giáo viên chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy cũng
như chưa đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học
tập của học sinh. Tổ chức các hình thức dạy và học chưa phong phú và phù hợp
với từng đối tượng học sinh. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe
giảng của học sinh. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức
còn dàn trải.
Nội dung mỗi bài học trước thường là cơ sở của bài học sau, việc giới
thiệu bài cũng hết sức quan trọng vì nó là một sự chuyển tiếp giữa mảng kiến
thức cũ và mảng kiến thức mới.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học không kém phần quan trọng. Đồ dùng dạy
học phong phú, lạ lẫm cũng thu hút học sinh chú ý vào bài giảng rất là nhiều,
8
đặc biệt những đồ dùng dạy học càng thu hút và huy động được nhiều các giác
quan của học sinh thì càng có hiệu quả.
Ví dụ bài: “ Diện tích hình thoi ”. Học sinh thực hành trên mô hình vật
thật sẽ dễ tiếp thu kiến thức hơn vì trực quan tác động được nhiều đến các giác
quan của các em ( có thêm xúc giác – tiếp xúc với hình học không gian ). Một số
giáo viên ít dành thời gian nghiên cứu, chuẩn bị hay chuẩn bị đồ dùng dạy học
phục vụ cho tiết dạy chưa phong phú ( sợ tốn thời gian ) dẫn tới việc tiếp thu bài
môn Toán chưa cao.
b. Về phía học sinh:
Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm học 2013 – 2014 của lớp
4A như sau:
Tổng số
học sinh
Điểm giỏi
( 9 - 10 )
Điểm khá
( 7 - 8 )
9
Ví dụ 2: Trên hình bên có bao nhiêu góc nhọn, góc vuông, góc tù:
Ví dụ 3: Trên hình bên có bao nhiêu góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt;
kể tên ?
10
A
M
N
B
Q
P
X Y
E
V
D
U
O
G
H
H
C
K
Y
I
N
M
X
O
- Hình tứ giác : Ở lớp 1, học sinh được làm quen với hình vuông (dạng tổng
thể ); Ở lớp 2, học sinh được làm quen với hình tứ giác, hình chữ nhật (dạng
C
N
1
5
2
b. Số hình tứ giác là:
- Hình ghi 1 số: 0 - Hình ghi 2 số: 1+3; 2+3; 3+4 (3 hình)
- Hình ghi 3 số: 1 + 2 + 3; 2 + 3 + 4; 3 + 4 + 5 ( 3 hình).
- Hình ghi 4 số: 1 + 2 + 3 + 4; 2 + 3 + 4 + 5; 1 + 3 + 4 + 5 ( 3 hình).
- Hình ghi 5 số: 0
Vậy có tất cả : 0 + 3 + 3 + 3 = 9 hình tứ giác
- Hai đường thẳng : Ở các lớp 1- 2- 3 học sinh được học điểm, đoạn
thẳng, đường thẳng với sự hỗ trợ của các “hình ảnh” trực quan ( kéo dài về hai
phía một đoạn thẳng ta được một đường thẳng ). Bước đầu học sinh được làm
quen với hai đường thẳng “cắt nhau ” và “điểm giao nhau” của hai đường thẳng
đó, rồi từ đó học sinh nhận ra “điểm giao nhau” của hai cạnh trong một hình đã
học ( qua hình ảnh đỉnh của các hình tam giác, hình tứ giác, đỉnh của một góc là
“điểm giao nhau” của hai cạnh của hình hoặc của hai cạnh của góc,… ).
Đến với lớp 4, các em được làm quen với hai đường thẳng “không cắt
nhau ” tức là hai đường thẳng song song; và hai đường thẳng “cắt nhau ”đặc biệt
đó là hai đường thẳng vuông góc với nhau.
Như vậy, đến với lớp 4, học sinh được học “hệ thống” các “quan hệ ”
thường gặp đối với hai đường thẳng ( hai đường thẳng cắt nhau, hai đường thẳng
vuông góc, hai đường thẳng song song ).
* Vẽ hình, dựng hình :
- Giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng thước kẻ, compa, bút, ….
để vẽ.
- Hướng dẫn học sinh luyện tập vẽ hình, dựng hình theo quy trình hợp lý.
- Hình vẽ phải rõ ràng, chuẩn xác, nét vẽ phải mảnh không nhoè, ghi đúng ký
hiệu.
(Sau đây là một số minh họa để giải quyết dạng bài tập này có hiệu quả nhất)
Ví dụ 1: Tính diện tích của hình chữ nhật, hình bình hành :
(Sách giáo khoa trang 104)
+ Với đề bài đã cho các em cần làm gì?
( vẽ hình- dùng thước có vạch xăng - ti - met, ê ke để vẽ )
+ Bài toán hỏi gì?
(Bài toán hỏi diện tích của mỗi hình)
+ Làm thế nào để tính để tính được diện tích của mỗi hình ?
(Áp dụng công thức tính diện tích của mỗi hình để làm)
Ví dụ 2: Tính chu vi hình bình hành, biết :
a / a = 8 cm, b = 3 cm
b / a = 10 dm, b = 5 dm
(Sách giáo khoa trang 105)
- Bài toán cho biết gì? ( độ dài các cạnh )
13
5 cm
10cm
10 cm
5 cm
B
b
A a
D C
- Bài toán hỏi gì? (Chu vi của hình bình hành)
- Muốn tìm chu vi của hình bình hành ta làm thế nào? Vì sao?
(Lấy tổng độ dài của a va b rồi nhân với 2)
Bài giải
a/ Chu vi hình bình hành đó là :
( 8 + 3 ) x 2 = 22 (cm)
b/ Chu vi hình bình hành đó là :
với nhau, các cặp cạnh của khung ảnh, khung cửa sổ vuông góc, song song với
nhau,… ) để củng cố các biểu tượng về hình hình học.
14
+ Giáo viên có thể đưa ra các hoạt động thực hành để hình thành các biểu
tượng về một hình học.
Ví dụ: Bài 3 trang 141 – Toán 4 :
Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng ê ke “ nhận biết ” góc nào là góc nhọn,
góc tù, góc bẹt; cắt ghép tờ giấy để được hình thoi; cắt ghép hình bình hành,
hình thoi, hình chữ nhật để tính diện tích các hình đó,…
4. 2. Dạy về “Góc nhọn, góc tù, góc bẹt”:
Nhằm phát huy sự tư duy và khả năng sáng tạo của học sinh- ở lớp 3, học
sinh đã biết “góc vuông, góc không vuông”, đến với lớp 4, các em được biết “cụ
thể ” hơn, “góc không vuông” là các góc : “góc nhọn, góc tù, góc bẹt ”. Bởi vậy,
ở lớp 4 các biểu tượng về góc nhọn, góc tù, góc bẹt được học sâu hơn.
Ví dụ : Nêu một “đặc điểm” ( một dấu hiệu nhận biết) về góc ( góc nhọn bé hơn
góc vuông, góc tù lớn hơn góc vuông, góc bẹt bằng hai góc vuông).
Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn học sinh giới thiệu “góc nhọn, góc tù, góc
bẹt” trong Toán 4 theo các hoạt động sau :
Ví dụ : Giới thiệu góc nhọn
+ Giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ góc nhọn ( trên bảng hoặc bảng phụ )
rồi giới thiệu “đây là góc nhọn”, “góc nhọn đỉnh O, cạnh OA, OB”.
+ Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ “hình ảnh”góc nhọn có trong thực tế, chẳng
hạn: góc nhọn tạo bởi hai kim đồng hồ, góc nhọn tạo bởi hai cạnh lá cờ đuôi
nheo, cái ê ke có hai góc nhọn và một góc vuông…
+ Giáo viên “áp” góc vuông của cái ê ke vào góc nhọn ( như sách giáo khoa ) để
học sinh “quan sát” rồi nhận ra: với “hình ảnh” đó, ta biết được “góc nhọn bé
hơn góc vuông”.
+ Cuối cùng có thể cho học sinh tự vẽ vào vở ( giấy nháp ) một số “góc nhọn”
rồi tự đọc lên mỗi góc đó.
Để nhận biết góc nào là góc nhọn, góc tù, góc bẹt ta thường làm như sau :
G
A
D C
B
- Dùng ê ke để vẽ hai đường thẳng vuông góc nào đó ( tách ra khỏi hình chữ
nhật ), rồi cho biết hai đường thẳng vuông góc đó tạo thành bốn góc vuông.
- Giáo viên cho các em nhận biết hình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau
có trong thực tế. Ví dụ : hai cạnh của góc bảng đen vuông góc với nhau; hai
đường mép cắt nhau của một bìa quyển sách vuông góc với nhau; hai kim đồng
hồ chỉ lúc 3 giờ đúng nằm trên hai đường thẳng vuông góc với nhau.
Để các em có sự sáng tạo và tư duy tốt trong quá trình nhận biết hai đường
thẳng vuông góc với nhau ta thường làm như sau:
Trước hết trong Toán 4 không đưa ra “định nghĩa” khái niệm, cũng như chưa
đưa ra những “dấu hiệu” về hai đường thẳng vuông góc với nhau, mà mới ở mức
độ hình thành biểu tượng về hai đường thẳng vuông góc qua “hình ảnh” cặp
cạnh vuông góc với nhau trong hình chữ nhật. Bởi vậy, để nhận biết hai đường
thẳng vuông góc, trong Toán 4 thường được thực hiện như sau :
- Quan sát, nhận dạng tổng thể, bằng “trực giác” nhận ra hai đường thẳng vuông
góc, chẳng hạn: Chỉ ra hai đường thẳng vuông góc ( nếu có ) trong các hình sau :
a) b)
c)
- Dựa vào hình chữ nhật hoặc hình vuông ( theo cách giới thiệu hai đường thẳng
vuông góc trong Toán 4 )
17
Q
P
M
N
C
D
A B
- Quan sát trực quan ( tách rời hình chữ nhật ) hai đường thẳng song song nào
đó, chẳng hạn: đường thẳng MN và PQ song song với nhau, rồi giới thiệu “đây
là hai đường thẳng song song”.
- Giáo viên cho học sinh nhận biết “hình ảnh” hai đường thẳng song song với
nhau có trong thực tế. Ví dụ : Hai chấn song cửa sổ song song với nhau; hai
cạnh đối diện của bảng lớp học hình chữ nhật song song với nhau; hai đường ray
tàu hỏa song song với nhau,…
- Học sinh tự sáng tạo và vẽ vào giấy kẻ ô li ( hoặc giấy có kẻ ô vuông ) hai
đường thẳng song song ( dựa vào các đường kẻ song song có trong giấy ô li như
là “hai cạnh”của hình chữ nhật được kéo dài ra ).
- Ở mức độ ban đầu có thể quan sát trực giác, nhận dạng tổng thể để nhận ra
hai đương thẳng song song .
Ví dụ : Nêu tên các cặp cạnh song song có trong mỗi hình sau:
- Giáo viên có thể cho các em tư duy dựa theo cách hình thành biểu tượng về hai
đường thẳng song song trong sách Toán 4: Hai đường thẳng do hai cạnh đối diện
của hình chữ nhật hoặc hình vuông kéo dài thì hai đường thẳng đó song song với
nhau.
- Giáo viên có thể cho các em nhận xét sau: Trong hình chữ nhật ABCD, cặp đối
diện AB và DC là một cặp cạnh song song với nhau. Hai cạnh đó cùng vuông
góc với cạnh AD ( xem hình vẽ ). Từ đó, cho ta “hình ảnh ” hai đường thẳng AB
và DC cùng vuông góc với đường thẳng AD và song song với nhau.
Ví dụ : Trong hình ABCDEG nếu quan sát thấy các góc A vuông, góc G vuông,
góc C vuông, góc D vuông, ta có thể nêu được : hai cạnh AB, GE song song với
nhau, hai cạnh BC, ED song song với nhau ( chưa cần giải thích vì sao ).
19
M
Q
N
P
Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m,
BD = n (hình a)
- Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học
sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau:
+ Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b).
Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) =
m
×
2
n
=
2
nm×
20
G
A
E
D
C
B
+ Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c).
Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) =
2
m
×
n =
B
O
N
M
N
A C
DM
S = a x h
A
B
C
D
a
I
BA
H
C
a
Chiều cao
A
B
D C
H
Ví dụ : Trong Toán 4, việc xây dựng quy tắc ( công thức ) tính diện tích
hình bình hành, hình thoi chủ yếu dựa vào quy tắc ( công thức) tính diện tích
hình chữ nhật ( đã học ) bằng cách cắt ghép hình bình hành ( hình thoi) thành
hình chữ nhật thích hợp. Chẳng hạn:
- Khi vận dụng công thức tính diện tích hình bình hành ( S = a x h); diện
tích hình thoi ( S = m x n : 2 ), học sinh cần hiểu ý nghĩa của các chữ a, h, S, m,
n trong công thức đó là gì? Là độ dài của cạnh nào ở trong hình bình hành hoặc
39 100
22
C
A
D
C
B
H
a
A B
I
H
a
O
n
2
D
C
B
m
A C
M
N
B
m
A
O
n
2
b/ Ích lợi và khả năng vận dụng:
thức có liên quan đến bài toán như công thức tính chu vi, diện tích, kĩ thuật tính
toán, đổi đơn vị đo…
- Khi vẽ hình cần đảm bảo tính chính xác, thao tác vẽ hình đúng và phải
đảm bảo phù hợp với tư duy học sinh.
- Yêu cầu từ dễ đến khó về đặt lời cho từng phép tính và cách phân tích.
( đối với học sinh giỏi yêu cầu ở mức khó hơn)
- Khi dạy thực hành luyện tập - Giáo viên cần lưu ý giúp mọi học sinh
đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình.
Qua những phương pháp trên, tôi thấy các em đã có hứng thú học tập và
vận dụng vào làm bài tập tốt. Mặc dù chưa được hoàn thiện, nhưng cũng chứng
tỏ trong các môn học, môn Toán cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học,
giúp học sinh phát huy cao tính tích cực trong học tập.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức
nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng, học sinh tự tin làm bài
tạo không khí tiết học sôi nổi, không gò bó, học sinh được thực sự bộc lộ hết
khả năng của mình. Do đó học sinh lớp tôi - có hứng thú học toán, luôn tạo
thói quen tự suy nghĩ, chủ động làm bài rồi tìm ra cách giải hay và nhanh
24
nhất. Chính vì vậy tôi đã cùng với giáo viên trong tổ khối 4, 5 trao đổi, chia
sẻ kinh nghiệm, đồng thời xây dựng đề tài này để cùng nhau nâng cao chất
lượng giảng dạy yếu tố hình học Toán 4 trong chương trình học tập ở Tiểu
học. Từ đó giúp các em có tri thức trong học tập, để các em tiến tới các bậc
học cao hơn.
2. Kiến nghị:
Qua thực tế áp dụng các đề tài trên vào hướng dẫn học sinh học tốt môn
Toán, bản thân tôi đưa ra một số kiến nghị sau:
a. Đối với giáo viên:
- Giáo viên trong mỗi nhà trường cần phải nắm được toàn bộ chương trình
môn Toán lớp 4, nắm vững kiến thức Toán trong sách giáo khoa; sách giáo viên;
chuẩn kiến thức kĩ năng. Có đầy đủ đồ dùng dạy và học cho giáo viên và học
Để đề tài này có hiệu quả hơn, tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến
quý báu của cấp trên và đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở
ngôi trường Tiểu học .
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tề Lỗ, ngày 10 tháng 4 năm 2014
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Người viết sáng kiến kinh nghiệm
Nguyễn Thị Kim Liên
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
26
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC, SÁNG KIẾN
CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….