CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
I- Khái niệm và các nguồn hình thành nguồn vốn FDI
1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước ( nước đầu tư ) nắm
giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác ( nước chủ nhà hay nước
nhận đầu tư ).
2. Các nguồn hình thành vốn FDI
• Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận
biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một
đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng
suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn.
Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm
nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn
các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có
năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp tự sản xuất mà cũng có những hoạt
động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dư hoạt động
đó cho năng suất cận biên thấp.
• Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của
các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn
sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu Kaname (1962) cho rằng
sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được
xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới
1
làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất
để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước
ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị
trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn
Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các
công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước
công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy
mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc
gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công
ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp
cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong
sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National
Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal
(Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
• Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những
nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu
tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay
cũng có mục đích tương tự.
II- Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay
1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư
trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh
3
doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp
nhân mới nào.
Ưu điểm :
+Với nước tiếp nhận: giải quyết được tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghê, tạo thêm
đuợc mối quan hệ trong hợp tác kinh doanh, được nắm quyền điều hàng dự án.
+Với nước đầu tư: chia sẻ đuợc sự rủi ro trong đầu tư, tận dụng đựoc hệ thống phân
phối có sẵn , điều hành, phân bổ của nước tiếp nhận trong quá trình đầu tư. Xâm nhập
vào thị truờng nước sở tại đễ dàng hơn mà không mất thời gian thăm dò, nghiên cứu.
Nhược điểm
cận đựơc thị trường nước ngoài.
+Với nhà đầu tư nước ngoài:tận dụng được tài nguyên của nước sở tại, chủ động trong
việc quản lý, điều hành.
Nhược điểm
+Với nước tiếp nhận đầu tư:khó tiếp thu đựơc kinh nghiệm quản lý,công nghệ để nâng
cao được trình độ của cán bộ quản lý,cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước.Bị
chia sẻ thị truờng của nước mình,bị tận dụng nguồn tài nguyên.
+Với nhà đầu tư nước ngoài:phải chịu hoàn toàn mọi rủi ro trong quá trình đầu tư,mất
nhiều thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị truơng,khó xâm nhập vào nhiều lĩnh
vực thị trưòng trong nước lớn.
4. Các hình thức khác:
Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây
dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T). Những dự án B.O.T thường được chính phủ các
nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ
5
tầng kinh tế.
Ưu điểm
+Với nước tiếp nhận đầu tư:thu được vốn đầu tư vào nhưng dự án hạ tầng đòi vốn đầu
tư lớn,giảm sức ép cho ngân sách nhà nước,nâng cao được các công trình hạ tầng trong
nước.
+Với nhà đầu tu nước ngoài:hiệu quả sử dụng vốn được đảm bảo,chủ động quản lý,
điều hành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận.
Nhược điểm:
+Với nước tiếp nhận đầu tư:khó tiếp cận khả năng quản lý và ra soát công trình.Nhà
nước cung chịu rủi ro ngoài kiểm soat của nhà đầu tư.
+Với nhà đầu tư nước ngoài: mất nhiều thời gian trong việc đàm phán ,thực hiện hợp
đồng.
III- Mối quan hệ giữa công ty đa quốc gia và sự phát triển của
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các công ty đa quốc gia là các công ty mà lĩnh vực hoạt động của nó vượt ra khỏi
• Phản ứng với giá trị thay đối của ngoại tệ
• Phản ứng với các kiềm hãm thương mại
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những thuận lợi về mặt chính trị
IV- Lợi ích và rủi ro của vốn FDI
1. Lợi ích của vốn FDI
a) Về mặt kinh tế
Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực):
7
Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chưa được phát
huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu được một nguồn vốn
lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sản phẩm, trình độ quản
lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết.
Như ta đã biết thì công nghệ chính là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá một đất nước đang phát triển như nước ta. Chúng ta cần có vốn và công
nghệ để có thể thực hiện được nó. Khi đầu tư trực tiếp diễn ra thì công nghệ được du
nhập vào trong đó có cả một số công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương,
các chuyên gia cùng với các kỹ năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công
nghệ này, do vậy các cán bộ bản địa có thể học hỏi kinh nghiệm của họ.
Trên thực tế có nhiều mức độ phụ thuộc khác nhau vào nguồn FDI ở các nước đang
phát triển. Từ năm 1973, khi có nhiều nước chuyển sang đi vay các nước khác, những
luồng vốn chảy vào đó đã góp phần quan trọng cho việc hình thành vốn của một vài
nước đang phát triển. Giữa năm 1979 và năm 1981, luồng vốn đầu tư trực tiếp chiếm
khoảng 25% trong tổng số vốn cố định được đầu tư của Singapore; 11% ở Malaixia; gần
5% ở Chile và Philipines; khoảng 15% tại Brazil, Indonesia, Mehico, còn ở Hàn Quốc,
Ấn Độ và Nigeria không đáng kể. Tuy nhiên, những con số này chưa phản ánh đủ sự
đóng góp của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài vào tổng số vốn được đầu tư.
Lợi nhuận tái đầu tư đã không được kể đến ở một số nước đang phát triển; ngoài ra, quĩ
khấu hao của các doanh nghiệp FDI đã trang trải cho một phần cơ bản của các khoản chi
tiêu trong tổng số vốn của các nước này, mà lại không đưa vào định nghĩa FDI.
Có những khác biệt lớn giữa các nước về mức độ thay thế của FDI cho các luồng
Tiếp cận với thị trường nước ngoài:
Nếu như trước đây khi chưa có FDI, các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có
thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh tế
mới không phải trong nước. Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có,
9
và họ cũng đang cần thì ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có
nhiều sản phẩm được xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần phải
nhập khẩu một số loại mặt hàng mà trong nước đang cần. Từ các việc trao đổi thương
mại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tư giữa các nước. Như vậy quá trình đầu tư
nước ngoài và thương mại quốc tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau
và cùng phát triển.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế:
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước
sở tại theo chiều hướng tích cực hơn. Nó thường tập trung vào những ngành công nghệ
cao có sức cạnh tranh như công nghiệp hay thông tin. Nếu là một nước nông nghiệp thì
bây giờ trong cơ cấu kinh tế các ngành đòi hỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đã
tăng lên về tỷ trọng và sức đóng góp cho Ngân sách, GDP và cho xã hội nói chung.
Ngoài ra về cơ cấu lãnh thổ, nó có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển
giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói,
phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đưa những tiềm năng chưa khai phá
vào quá trình sản xuất và dịch vụ, và làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát
triển.
b) Về mặt xã hội
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế và tăng thu nhập quốc dân.
Góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp, từ đó góp phần nâng
cao đời sống của người dân trong các nước kém hoặc đang phát triển.
Thông qua việc tiếp nhận kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến, đầu tư trực tiếp sẽ
giúp cho các nước đang phát triển đuổi kịp trình độ phát triển cao của thế giới.
Đầu tư trực tiếp cũng góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên
sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích
không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm
liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế
của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang
nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các
quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng
nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch
mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Các doanh nghiệp FDI trong giai đoạn đầu có thể hạ giá để giành thị phần và bóp
chết các doanh nghiệp nội địa cạnh tranh với mình. Nhưng về lâu dài, khi họ thành công
và chiếm lĩnh thị trường và thị phần, người tiêu dùng sẽ buộc phải tuân theo luật chơi,
mà chính xác hơn là sẽ phụ thuộc vào sản phẩm, vào giá cả mà các doanh nghiệp FDI
này đưa ra.
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các
chủ thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính sách về giá
mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được
từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với trường hợp khai giá
giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng sau đó họ vẫn thực hiện
thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ
không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên và thậm chí họ có thể định giá giao
dịch cao. Các đối tượng này nắm bắt và vận dụng được những quy định khác biệt về
thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn
hợp pháp. Như thế, vô hình trung, chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực
hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về
lợi ích, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnh tranh.
Ăn sổi
12
FDI vào công nghiệp và xây dựng đứng đầu. Kế theo là dịch vụ và sau chót là nông
mua sắm, 400 siêu thị lớn nhỏ, kể ra đã là lực lượng hùng hậu so với 20 năm trước đây.
Đông mà không mạnh, chẳng hợp sức để cải thiện tình hình ngoại trừ việc ngoắc tay
tăng giá.
Hơn thế nữa lực lượng “cổ động viên sân nhà” với tâm lý xính dùng hàng ngoại,
tiền nào của ấy, không lăn tăn về mọi mặt .., sớm muộn gì cũng quay lại cổ suý cho “đội
khách”. Trận đấu mới bắt đầu, song hồi kết sẽ tới với kết quả được báo trước, không cần
đến chú bạch tuộc tiên tri.
b) Về mặt xã hội
Khấp khểnh vùng miền
Là những nhà kinh doanh lọc lõi, họ mang vốn liếng sang không phải làm từ thiện
mà để kiếm lời càng sớm, càng nhiều càng tốt. Họ chỉ chọn những thành phố, những địa
phương giáp biển, có cảng hàng không, có trục giao thông huyết mạch, miền xuôi, vùng
có mặt bằng lý tưởng..., đỡ phải đầu tư ban đầu.
Chỉ có 21/63 địa phương có vốn đăng ký của FDI từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó 6
địa bàn: TP HCM, Hà Nội, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận đã
chiếm 67% tổng số vốn đăng ký FDI trong cả nước. Các tỉnh mạn ngược đất rộng,
người thưa, địa chất công trình tốt, nhưng ngổn ngang khó khăn, nên không được FDI
ngó ngàng. Hố ngăn cách được đào rộng, moi sâu.
Căng thẳng quan hệ chủ thợ
Từng mong muốn FDI sẽ thu hút nhiều lao động. Điều đó có nhưng không bõ bèn.
Số lao động làm việc cho FDI tại thời điểm 1/7/2000 là 358 nghìn chiếm tỷ lệ 1,0% tổng
số lao động trên của toàn quốc. Các cặp số liệu tương ứng của 2005 là 1,112 triệu -
2,6%. Năm 2008 là 1,694 triệu - 3,7%. Năm 2009 là 1,611 triệu - 3,4%.
14
Nhưng một số doanh nghiệp bộc lộ nhiều nhược điểm như trả lương chậm - chậm
tăng lương - bớt xén tiêu chuẩn bảo hiểm, an toàn lao động - sa thải - cúp phạt...
Các nhà FDI xuất xứ từ nền công nghiệp phát triển nên họ thừa hiểu việc xây dựng
cơ sở sản xuất bao giờ cũng gắn liền với bảo vệ môi trường. Song với lý do “tế nhị” quy
chuẩn tối thiểu này khi đầu tư vào Việt Nam đã không bị bắt buộc, mà Vedan chỉ là ví
dụ điển hình. Kiện, họ bồi thường, nhưng chất độc hoà vào dòng nước, thâm sâu lòng
CHƯƠNG II:
XU HƯỚNG DÒNG VỐN FDI TRÊN THẾ GIỚI – VẬN
DỤNG VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM
I- Xu hướng dòng vốn FDI trên thế giới
1. Giai đoạn 1990-2000
Với sự hội nhập thị trường vốn quốc tế, dòng FDI toàn cầu đã tăng mạnh trong thập
niên 1990 với tỷ lệ khá cao trên cả sự tăng trưởng kinh tế và mậu dịch. Dòng đầu tư
chảy vào toàn cầu tăng trung bình là 13% một năm trong giai đoạn 1990-1997. Sau đó,
bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hoạt động sáp nhập và mua bán (M&As-Mergers and
Acquisitions), lượng vốn chảy vào này đã tăng trung bình gần 50% một năm giai đoạn
1998-2000, đạt kỷ lục là $1.500 tỷ năm 2000 (Bảng). Dòng FDI lại sụt giảm xuống
$729 tỷ năm 2001, phần lớn là do kết quả của sự giảm mạnh trong hoạt động M&A qua
biên giới giữa những nước công nghiệp từ mức $1.100 tỷ năm 2000 xuống khoảng $600
tỷ năm 2001.
Các nước công nghiệp đã chiếm giữ một thời gian dài trong việc thu hút cũng như
đầu tư FDI và giải thích cho gần 94% đầu tư FDI và 70% thu hút FDI (Hình). Dòng
chảy FDI vào những nước đang phát triển tăng trung bình là 23% một năm trong suốt
1990-2000. Năm 2001, dòng chảy này đã sụt 13% xuống mức $215 tỷ, phản ánh phần
lớn sự sụt giảm ở Hồng Kông, Ac-hen-ti-na, Bra-xin. Ngoại trừ những nước này, FDI
vào những nước đang phát triển tăng khoảng 18% trong năm 2001. Giai đoạn 1998-
17
2001, dòng FDI chảy vào các nước đang phát triển này tính trung bình là $225 tỷ một
năm.
Trong suốt giai đoạn 1998-2001, trong số $900 tỷ FDI chảy vào các nước đang phát
triển thì châu Á chiếm $407 tỷ. Hai nước ở châu Á thu hút FDI lớn nhất là Trung Quốc
với $165 tỷ và Hồng Kông với $124 tỷ. 5 quốc gia thu hút FDI lớn nhất là Trung Quốc,
Ác-hen-ti-na, Bra-xin, Hồng Kông và Mê-xi-cô- chiếm hơn ½ dòng chảy vào FDI. Các
nước đầu tư FDI lớn nhất là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, chỉ có 12% trong đầu tư FDI toàn cầu
là từ các nước đang phát triển.
thấp hơn và tiêu dùng tăng cao hơn.
19
Trong năm 2006, FDI vào những thị trường mới nổi tăng chỉ 3% trong khi dòng vào
FDI ở khu vực các nước phát triển được cho là tăng khoảng 36%. Một phần là do quá
trình hồi phục ở những thị trường mới nổi này phần lớn đã hoàn thành trong khi ở
những nước đã phát triển chỉ là mới bắt đầu. Nước Mỹ-nền kinh tế lớn nhất thế giới
được kỳ vọng là tiếp tục hấp dẫn được nguồn vốn nước ngoài, gần ¼ nguồn vốn FDI
giai đoạn 2006-10. 10 quốc gia thu hút FDI chủ yếu là ở những nước phát triển được
cho là chiếm hơn 2/3 nguồn FDI toàn cầu.
Giai đoạn khủng hoảng 2008-2009
Theo nhận định của các nhà kinh tế, cuộc khủng hoảng 2008-2009 đã tác động mạnh mẽ
đến dòng FDI. Sau khi giảm 17% trong năm 2008 xuống còn 1.720 tỷ USD, so với mức
2.080 tỷ của năm 2007; trong năm 2009, FDI toàn cầu tiếp tục giảm khoảng 41% xuống
còn 1.000 tỷ USD. Sự suy giảm này cho thấy nguồn tín dụng sẵn có giảm, mức độ suy
thoái nghiêm trọng ở các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển cũng như việc
né tránh rủi ro trên quy mô rộng của các nhà đầu tư.
Do tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu nên dòng vốn FDI chảy vào các nước đang
phát triển giảm sút 35% trong năm 2009 sau khoảng thời gian 6 năm tăng trưởng liên
tục. Ban đầu, dòng FDI vào các thị trường mới nổi không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng
hoảng. Năm 2008, trong khi dòng FDI vào các nước phát triển giảm 1/3 thì dòng FDI
vào các nước mới nổi lại tăng 11%. Trong năm 2009, dòng FDI vào các nước mới nổi
cũng giảm mạnh, khoảng 36%, xuống còn khoảng 532 tỷ USD. Nhưng mức giảm này
vẫn thấp hơn so với ở các nước phát triển - giảm 45%, xuống còn 488 tỷ USD. Do vậy,
năm 2009 là năm đầu tiên các nước mới nổi thu hút được FDI nhiều hơn các nước phát
triển.
Thị phần của các nền kinh tế đang nổi trong dòng FDI toàn cầu có xu hướng tăng trong
thời kỳ suy thoái vì việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp giảm mạnh ở các nước phát
triển. Mặc dù việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp xuyên biên giới ở các nước đang
nổi tăng đều trong những năm gần đây, nhưng hoạt động này vẫn chủ yếu diễn ra ở các
nước phát triển. Trong năm 2008, khoảng 80% các vụ mua bán và sáp nhập doanh
Dòng chảy vào FDI đã giảm 37% từ năm 2008 đến 2009 xuống mức $1.114 tỷ (Hình).
Tuy nhiên, con số này vẫn chiếm vị trí cao thứ 5 về lượng vốn đầu tư ra nước ngoài, nó
giải thích cho 11% tổng sản lượng GDP toàn cầu và hơn 80 triệu việc làm. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài toàn cầu đã bắt đầu thoát ra khỏi đáy vào gần cuối 2009 và tiếp tục cho
sự phục hồi vào nửa đầu 2010, khởi đầu cho một sự lạc quan đáng chú ý đối với triển
vọng FDI trong ngắn hạn. Trong dài hạn, quá trình phục hồi FDI được kỳ vọng sẽ trong
đà tăng mạnh. Ngoài ra, những dấu hiệu gần đây cho thấy sẽ có sự phục hồi vào năm
2010 với dòng vốn chảy vào kỳ vọng đạt $1200 tỷ, $1300-1500 vào năm 2011 và hướng
tới $1600-2000 năm 2012. Như vậy, FDI trên toàn thế giới đã có sự tăng trưởng trở lại
sau sự khủng hoảng từ cuối 2008, tuy nhiên, tình hình phục hồi có khả quan nhưng cần
thận trọng. Lí do là vì cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa kết thúc và những rủi ro tại các
thị trường như châu Âu, Mỹ với tình trạng nợ công vẫn còn tiềm ẩn.
Mặc dù có sự giảm sút trong hoạt động mua bán và sáp nhập năm 2009 nhưng trong
năm 2010 được kỳ vọng là sẽ có sự phục hồi khi mà việc định giá trở nên rẻ hơn và
ngày càng tăng trong sự hợp nhất của các công ty. Xu thế M&A xuất hiện nhiều hơn ở
22
các nước đang phát triển chứ không dừng lại ở các nước phát triển như trước. Lí do là
các nền kinh tế mới nổi đã có những doanh nghiệp lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng hết sức sôi động và giá trị kinh tế tăng gấp nhiều lần.
Những nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi và mới nổi đã thu hút ½ FDI và đầu tư
xấp xỉ ¼ FDI toàn cầu năm 2009.Những nước này đang dẫn dắt cho sự phục hồi FDI và
là điểm đến được ưa chuộng cho việc thu hút FDI. Trong khu vực nền kinh tế chuyển
đổi và mới nổi thì khối BRICs-Bra-xin, Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc chiếm phần lớn
nhất trong nguồn vốn FDI đầu vào (41%) trong khi khu vực thị trường mới nổi như
Colombia, Indonesia, Việt Nam, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi chỉ chiếm phần nhỏ
hơn (dưới 9%). Theo báo cáo về đầu tư của UNCTAD, ở khu vực châu Á, trong khi
luồng vốn FDI vào các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan
và Philippin đã giảm mạnh từ năm ngoái thì ở Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia
và Việt Nam, FDI vẫn có dấu hiệu tốt.
Khoảng 40% dự án đầu tư FDI vào khu vực ít phát thải các-bon trong suốt thời gian
bán và sáp nhập qua biên giới vẫn còn thấp ở mức $250 tỷ năm 2009, tăng lên 36%
trong 5 tháng đầu của 2010 so với cùng kỳ năm trước. Điều này có nghĩa là FDI có khả
năng phục hồi lại vào năm 2010 nhờ vào tăng trưởng kinh tế ở những nước chính yếu.
Dòng FDI chảy vào
FDI sụt giảm năm 2009 trên cả 3 nhóm đầu tư - các nước phát triển, đang phát triển và
những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Sự sụt giảm này phản ánh tình trạng
nền kinh tế vẫn còn yếu ở nhiều nơi trên thế giới cũng như khả năng tài chính giảm của
nhiều công ty xuyên quốc gia (TNCs).
Những khu vực nền kinh tế chuyển đổi và các nước đang phát triển có sự phục hồi tốt
hơn những nước phát triển. Sau 6 năm tăng trưởng ổn định thì dòng FDI vào các nước
đang phát triển sụt giảm khoảng 24% trong năm 2009.
Quá trình phục hồi FDI vào năm 2010 được kỳ vọng là sẽ mạnh mẽ hơn ở những nước
đang phát triển so với những nước phát triển . Vì vậy, sự tăng lên trong dòng đầu tư
nước ngoài vào những nước đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổi cũng
được kỳ vọng sẽ tiến triển nhanh hơn. Sự tăng lên rõ ràng này vào giai đoạn 2007-2009
(Hình) được cho là do sự chuyển hình và tăng trưởng của nền kinh tế cũng như quá trình
mở cửa rộng rãi hơn đối với FDI và sản xuất trên thế giới. Do vậy, các nước đang phát
triển và chuyển đổi này đã giải thích cho hơn phân nửa dòng chảy vào FDI toàn cầu.
Xếp hạng toàn cầu về những nước thu hút FDI lớn nhất cho thấy lại xuất hiện phần lớn
ở những nước đang phát triển và chuyển đổi. Trung Quốc vẫn là điểm đến thu hút FDI
thứ hai và Mỹ vẫn duy trì vị thế là nước thu hút FDI lớn nhất.
24
Các nước đang phát triển và chuyển đổi cũng thu hút được nhiều dự án đầu tư mới
(Greenfield) hơn những nước phát triển trong năm 2008-2009. Mặc dù phần lớn M&A
qua biên giới vẫn diễn ra ở những khu vực các nước phát triển thì một phần các giao
dịch này đối với các nước đang phát triển cũng đang trên đà tăng.
Theo như Bài nghiên cứu về triển vọng đầu tư thế giới của UNCTAD cũng đã khẳng