CUỘC THI KHKT DÀNH CHO HỌC SINH TH CẤP TỈNH
Tên đề tài:
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN
VỀ THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI
(Nghiên cứu tại địa bàn 03 xã Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Vinh
huyện Quảng Xương – tỉnh Thanh Hóa)
Tác giả: Dương Thị Lan Anh - Trần Thị Lan
Giáo viên HD: Lê Trọng Việt
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Xuân
Nguyên
Page 1 of 53
Tóm tắt đề tài
Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta. Chính phủ đã
ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm xử lý,
răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường, đồng
thời phát triển các công nghệ xử lý rác thải, nhằm giảm thiểu những tác động
đến môi trường. Có hành vi tham gia tích cực trong việc bảo vệ môi trường,
chúng ta sẽ được tận hưởng một môi trường trong sạch và phát triển bền
vững.
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường luôn là mối
quan tâm của toàn xã hội. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường; đặc biệt là ô nhiễm môi trường ven biển; Trong đó, rác
thải sinh hoạt chưa được phân loại, thu gom và xử lý thích hợp của người dân
và chính quyền địa phương là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
ô nhiễm môi trường.
Nghiên cứu cho thấy, rất nhiều người dân quan tâm đến vấn đề môi
trường và nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống
hàng ngày. Tuy nhiên, đa số người dân tại ba xã Quảng Hùng, Quảng Đại và
Quảng Vinh chưa thật sự chú ý đến việc phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt
và việc xử lý rác của chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền,
phổ biến và tập huấn cho người dân vẫn chưa được các cơ quan quản lý địa
1.2. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
1.3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
1.4. Mô tả mẫu nghiên cứu
1.5. Mô tả địa bàn nghiên cứu
1.6. Phương pháp nghiên cứu
1.7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.8. Kế hoạch triển khai nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2. Lý thuyết áp dụng
1.3. Khung phân tích và giả thuyết
1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu
1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng bảo vệ môi trường của người dân
2.1. Thực trạng việc phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt của người dân
2.2. Thực trạng việc xử lý rác thải sinh hoạt của người dân
Chương 3: Đánh giá nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi
trường
3.1. N
hận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải
sinh hoạt
Chương 3: Kết luận
PHẦN III: GIẢI PHÁP THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI
Page 5 of 53
1. Công tác tập huấn và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng
2.1. Rác thải sinh hoạt
2.2. Tác hại của xử lý rác thải không hợp vệ sinh
2.3. Phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
2.4. Hướng dẫn thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình
xuất một số giải pháp, kế hoạch hành động nhằm nâng cao ý thức, thúc đẩy sự
i Báo cáo kết quả khảo sát về tình trạng ô nhiễm môi trường của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường năm 2013.
Page 7 of 53
thma gia và thay đổi hành vi của người dân trong công cuộc chung tay bảo vệ
môi trường.
1.2. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nhận thức của người dân ven biển trong việc phân loại, thu gom và xủ lý
rác thải sinh hoạt
Khách thể nghiên cứu:
Người dân đang sinh sống tại ba xã: Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng
Vinh thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát và đánh giá nhận thức của người dân
tại xã Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Vinh trong việc phân loại, thu gom và
xử lý rác thải sinh hoạt.
Qua đó nhóm tác giả muốn chứng minh việc nâng cao nhận thức của
người dân đối với vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải là một điều rất
cần thiết và cấp bách. Xây dựng những giải pháp nhằm cải thiện vấn đề.
Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nhóm tác giả chưa thể nghiên
cứu sâu vào nhiều khía cạnh của ô nhiễm môi trường mà chỉ có thể nghiên
cứu một mảng nhỏ. Với mong muốn đề tài này sẽ được mở rộng hơn trong
tương lai.
1.3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung chủ yếu vào việc đánh giá nhận thức của người dân
trong vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
Xây dựng mô hình xử lý rác thải phù hợp với điều kiện địa phương,
cung cấp phân bón hữu cơ cho phát triển nông nghiệp tại chỗ.
Page 8 of 53
∗ Gia đình trí thức: 05 hộ
∗ Gia đình làm nghề tự do: 05 hộ
∗ Gia đình hưu trí: 05 hộ
∗ Về phỏng vấn sâu: Chọn ngẫu nhiên trong 03 xã:
- 02 cán bộ môi trường;
- 02 nhân viên vệ sinh môi trường (là nhân viên thu gom rác do
xã thuê);
- 06 hộ gia đình trong đó: 02 hộ là công nhân viên chức (trí
thức), 02 hộ làm kinh tế tự do, 02 hộ gia đình công nhân.
- 03 chủ tịch xã.
Như vậy số lượng mẫu được khảo sát trong ba xã Quảng Hùng, Quảng Đại,
Quảng Vinh là 75 mẫu; phỏng vấn sâu: 13 mẫu
Để đánh giá nhận thức, sự tham gia của người dân về việc phân loại, thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt tại 03 xã ven biển, bao gồm: Quảng Hùng, Quảng
Đại, Quảng Vinh thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Trong đó, tác
giả đề tài chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình để làm mẫu nghiên cứu, mẫu
nghiên cứu được lựa chọn dựa trên các đặc điểm về nghề nghiệp.
Số liệu trong bảng dưới đây là đặc điểm của mẫu nghiên cứu trong đề tài của
nhóm tác giả:
Bảng 1.1 : Giới tính của người tham gia phỏng vấn
Giới tính N Tỷ lệ
Nam 30 50
Nữ 30 50
Tổng 60 100
Page 10 of 53
Bảng 1.2: Độ tuổi của người tham gia phỏng vấn
Độ tuổi N Tỷ lệ %
Từ 20- 30 12 20,0
Từ 31 – 40 16 26,7
Từ 41 – 50 19 31,7
∗ Dân số: 5.277 người
Xã Quảng Hùng gồm các làng:
Làng Bến: thời Trần là làng Kênh; đầu thế kỉ 19 là thôn Bến thuộc xã
Chàng Xá, tổng Thủ Hộ; thời Minh Mạng đổi thành thôn Trường Tân, xã
Lương Xá; thời Đồng Khánh (cuối thế kỉ 19) đổi tổng Thủ Hộ thành tổng Thủ
Chính. Từ năm 1954, gồm bốn xóm là Tân Tiến, Tân Hưng, Tân Đức và Tân
Thọ; từ năm 1960 lập thành các xóm: Hùng Tiến, Hùng Hưng và Hùng Đức.
Làng Thủ Phú: đầu thế kỉ 19 là xã Phú Xá thuộc tổng Thủ Hộ. Đầu thế kỉ
20 tách một phần lãnh thổ để lập các thôn Yên Nam và Hải Nhuận (nay thuộc
xã Quảng Hải), phần còn lại đổi thành thôn Thủ Phú. Từ năm 1954, các xóm
thuộc làng Thủ Phú được chia về hai xã là Quảng Đại và Quảng Hùng, trong
đó phần thuộc về Quảng Hùng gọi là làng Trường Thái, gồm các xóm: Thái
Học, Thái Nguyên, Thái Sơn, Thái Bình, Thái Hòa và Thái Thịnh; từ năm 1960
lập thành các xóm: Hùng Học, Hùng Nguyên và Hùng Sơn.
Làng Nang: Từ năm 1954, gồm các xóm: Tân Khang, Tân Phúc, Tân Bắc,
Tân Nam, Tân Hùng và Tân Thắng; từ năm 1960 lập thành các xóm: Hùng
Khang, Hùng Phúc, Giang Bắc và Giang Nam.
Page 12 of 53
- Xã Quảng Vinh
Xã Quảng Vinh nằm ở phía đông bắc của huyện Quảng Xương, ven Vịnh Bắc
Bộ với chiều dài 3 km bờ biển.
∗ Phía đông giáp phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn và biển Đông.
∗ Phía nam giáp biển Đông.
∗ Phía tây giáp các xã Quảng Hùng, Quảng Minh, huyện Quảng Xương và
xã Quảng Cát, thành phố Thanh Hóa.
∗ Phía bắc giáp các xã Quảng Thọ và Quảng Châu, huyện Quảng Xương.
∗ Diện tích: 4,7 km2
∗ Dân số: 8.301 người
Xã Quảng Vinh gồm các làng:
Làng Trường Lệ: trước là Kẻ Trường rồi đổi thành Trường La; đầu thế kỉ
đó phần lớn thuộc về Quảng Đại, nay là các thôn 7, 8, 9.
Làng Nghiêm: đầu thế kỉ 19 là thôn Uy thuộc xã Chàng Xá, tổng Thủ Hộ;
thời Minh Mạng đổi xã Chàng Xá thành xã Lương Xá. Từ năm 1946 thuộc xã
Tây Hồ, năm 1948 thuộc xã Quảng Hải. Năm 1954, các xóm thuộc làng
Nghiêm được chia về ba xã Quảng Nhân, Quảng Đại và Quảng Giao, trong đó
xóm Nghiêm Kênh và Nghiêm Phùng thuộc về Quảng Đại.
Làng Bùi: đầu thế kỉ 19 là thôn Bùi thuộc xã Chàng Xá, tổng Thủ Hộ. Đầu
thế kỉ 20 gồm có năm xóm là Sau, Trước, Giữa, Mả và Chợ. Từ năm 1946 thuộc
xã Tây Hồ, năm 1948 thuộc xã Quảng Hải. Năm 1954, các xóm thuộc làng Bùi
được chia về hai xã là Quảng Đại và Quảng Giao, trong đó các xóm Bùi Huệ,
Bùi Hòa và Bùi Đông thuộc về Quảng Đại, nay tương ứng là các thôn 1, 3, 5.
Page 14 of 53
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu xã hội học, cụ thể là: Phương pháp nghiên cứu
định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính.
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Đây là phương pháp sử dụng bảng
câu hỏi dưới dạng viết và các câu trả lời tương ứng.
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 với 2 loại câu hỏi là câu hỏi mở
và câu hỏi đóng thể hiện qua hai dạng bảng chủ yếu là bảng mô tả và bảng
kết hợp
Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu định tính là phương
pháp phỏng vấn sâu, phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi mang tính chất
gợi mở. Nhấn vào mức độ tham gia và thực trạng của việc phân loại, thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt, bối cảnh nghiên cứu cho thấy được đặc trưng của
cộng đồng mà nhóm nghiên cứu quan tâm.
Nhóm tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là cán bộ và người dân
trong 03 xã nhằm tìm hiểu về thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác của
người dân.
huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của người dân trong
việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt. Cho thấy được ý thức cộng
Page 16 of 53
đồng của người dân hiện nay qua nhận thức và mức độ tham gia của người
dân về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt nói chung.
Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội để nhóm tác giả được thực tập và
hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu xã hội học. Đề tài này cho thấy rõ
thái độ, nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường thông qua
việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải. Cung cấp những thông tin và giải
pháp nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi
trường.
Đề tài mang tính chất đánh giá nhận thức và mức độ tham gia của người
dân về vấn đề bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại, thu gom rác thải
sinh hoạt hàng ngày và qua công tác xử lý rác thải sinh hoạt.
Qua đề tài nhóm tác giả cũng đề ra những biện pháp giúp địa phương
tham khảo trong việc quản lý và hướng dẫn người dân trong việc phân loại,
thu gom và xử lý rác thải. Và điều quan trọng nhất là thông qua đề tài này
nhóm tác giả có thêm được nhiều kinh nghiệm cho mình để phục vụ cho các
cuộc nghiên cứu sau.
Qua đó cũng đề xuất một số khuyến nghị để địa phương tạo điều kiện và
cung cấp một số kiến thức về môi trường giúp cho người dân nâng cao nhận
thức, có trách nhiệm với môi trường qua những hành động cụ thể. Đặc biệt
nhóm tác giả muốn xây dựng một mô hình và xử lý rác thải hiệu quả, tận
dụng nguồn tài nguyên này cho phát triển nông nghiệp.
Page 17 of 53
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Lĩnh vực môi trường
loại, bỏ rác vào thùng đến thói quen đổ rác như ở các thành phố và đóng góp
kinh phí xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn theo quy trình công nghệ của
các nhà khoa học Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam.
Tác giả Vũ Thế Long trong bài viết “ Về tập quán xử lý rác thải sinh hoạt
người Việt”, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, trên trang
PCDA.ORG.VN, cho rằng tại xã hội nông thôn truyền thống rác thải sinh hoạt
được người dân xử lý bằng cách tận dụng tối đa vào sinh hoạt hằng ngày, cụ
thể như: Thức ăn thừa thì cho gia súc gia cầm, rác thực vật ủ phân bón cho
cây, chai lọ, vỏ đồ hộp như lon sữa bò tận dụng làm đồ đong, gáo múc…Người
Việt vốn có một tập quán xử lý rác hợp lý, tiết kiệm giữ môi trường sạch sẽ,
phân loại và tìm cách tái sử dụng rác một cách hợp lý. Cùng với sự phát triển
kinh tế và quá trình đô thị hóa nhanh, nảy sinh ra những mâu thuẫn cần giải
quyết giữa lối sống nông nghiệp chuyển sang lối sống công nghiệp, giữa lối
sống trong môi trường thành thị và lối sống trong môi trường nông thôn. Việc
thu gom rác hợp lý và sự tự giác tham gia của cộng đồng trong các khâu thải
rác và thu gom rác là những vấn đề cần đặt ra cho tất cả mọi hệ thống xã hội
ở mọi nơi trong cả nước.
Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã tìm được một đề tài nghiên cứu một cách
khá cụ thể về nhận thức của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường:
Page 19 of 53
TS. Nguyễn Văn Đúng trong đề tài “ Giải pháp nâng cao nhận thức cộng
đồng trong việc bảo vệ môi trường”, liên hiệp các khoa học và kỹ thuật tỉnh
Đồng Tháp. Tham luận tại “Hội nghị thông báo kết quả nghiên cứu Khoa học
Xã hội Nam Bộ 2008”. Đề tài đưa ra tình trạng ô nhiễm môi trường do khâu
xử lý rác thải chưa hợp lý của cơ quan phụ trách. Hầu hết rác được thu gom
về đều được mang ra các bãi rác lộ thiên, không được quy hoạch thiết kế hợp
vệ sinh gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Tác
giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu; Phương pháp nghiên cứu tổng
hợp, liên ngành; Phỏng vấn theo phiếu khảo sát đã soạn sẵn, với số lượng
mẫu 3050 phiếu tại phường 1 và 2 thành phố Cao Lãnh và xử lý thông tin
đó là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích.
Khởi điểm của hành động xã hội là nhu cầu và lợi ích cá nhân, đó là
những động cơ thúc đẩy hành động hay nói cách khác mọi người hành động
đều có mục đích. Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động tùy
theo hoàn cảnh hoạt động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án
tối ưu nhất đối với mình.
Sơ đồ thể hiện:
Lý thuyết này cho rằng ở xã hội phát triển, hành động của con người sẽ
tuân theo hành động hợp lý về giá trị và hợp lý về mục đích, thay vì hành động
theo truyền thống hay theo cảm xúc.
Lý thuyết hành động xã hội thể hiện, một người dân bỏ rác ra khỏi nhà
mình mà không quan tâm bỏ có đúng nơi quy định hay không với những suy
Page 21 of 53
nghĩ chỉ cần trong nhà sạch sẽ và không có rác là được nhưng gia đình họ vẫn
có thể bị ô nhiễm bởi mùi hôi thối từ rác thải họ bỏ không đúng nơi quy định
bay vào nhà và làm cho gia đình họ cũng phải chịu ô nhiễm. Hay đó là một
hành động tuân theo khi thấy mọi người xung quanh ai cũng vứt rác bừa bãi,
không đúng nơi quy định hay không bao giờ phân loại rác thì họ không bao
giờ tự mình thực hiện mà làm theo đám đông.
Qua lý thuyết hành động xã hội cho ta biết được để giảm bớt những hậu
quả không chủ định thì cần tăng cường hiểu biết về bản thân đồng thời cần
phải biết chú ý hơn về hoàn cảnh, điều kiện, môi trường hành động, chỉ có như
vậy chúng ta mối giảm bớt được tính duy ý chí trong hành động người dân
nhờ đó sẽ tăng cường sự phù hợp giữa chủ thể hoan cảnh và hoàn cảnh và
hoàn cảnh trên thực tế.
1.2.2. Lý thuyết lối sống
Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp. Nó gồm quan hệ
kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hóa và quan hệ khác, đặc trưng
sinh học của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất
nhân, các nhóm vào các chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận là đúng, cần
phải làm theo để đảm bảo xã hội luôn phát triển và bền vững.
Áp dụng lý thuyết này thể hiện việc áp dụng các hệ thống chính sách của
nhà nước cho người dân về vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải nhằm
đảm bảo vệ sinh môi trường. Bằng sự thuyết phục và áp dụng các chế tài như
mức hình phạt về hành chính để nâng cao nhận thức của người dân và đẩy
những hành động lệch lạc vào khuôn mẫu, đồng thời giúp xem xét việc thực
hiện chính sách của nhà nước đã hợp lý và hiệu quả chưa để góp phần bổ
sung chính sách .
1.3. Khung phân tích và giả thuyết
1.4.1. Mô hình khung phân tích
Page 23 of 53
1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện trạng nhận thức về rác thải sinh hoạt của nhân dân tại
ba xã nghiên cứu ở mức độ nào?
- Rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý như thế nào?
- Giải pháp nào nhằm hạn chế và giải quyết hiện trạng
1.4.3. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của người dân về việc phân loại, thu gom và xử lý
rác thải của người dân còn nhiều hạn chế.
- Hiện trạng rác thải sinh hoạt chưa được phân loại và giải
quyết triệt để.
- Công tác quản lý chưa tốt, tuyên truyền về vệ sinh môi trường
tại địa phương chưa hiệu quả dẫn đến lượng rác thải chưa
được thu gom, phân loại và xử lý hiệu quả.
- Lượng rác thải không được thu gom sẽ nhiều hơn, gây ô
nhiễm môi trường hơn nếu không có sự can thiệp và giải
quyết kịp thời.
Page 24 of 53
Chương 2: Thực trạng việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh