nghiên cứu thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh hà nam - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


ĐỖ LÂM BÌNH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÝ
NƯỚC, RÁC THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH HÀ NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Mã số : 60 85 02

giường
bệnh tại Việt Nam 8
Bảng 2.4: Đặc tính nước thải của bệnh viện 22
Bảng 2.5: Tiêu chuẩn nước cấp và lượng nước thải bệnh viện 23
Bảng 2.6: Nhân lực y tế tại các xã, phường tại Hà Nam 31
Bảng 2.7: Thực trạng cơ sở vật chất trạm y tế xã/ phường 32
Bảng 2.8: Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải y tế 35
Bảng 4.1: Số bệnh viện trong tỉnh Hà Nam 39
Bảng 4.3. Số lượng rác thải ước tính tại các bệnh viện 41
Bảng 4.4: Các loại hình xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 43
Bảng 4.5: Số lượng nước thải ước tính tại các bệnh viện 44
Bảng 4.6: Các loại hình xử lý nước thải y tế của các bệnh viện tỉnh Hà Nam 50
Bảng 4.7: Khối lượng rác thải y tế của bệnh viện qua các năm 54
Bảng 4.8: Khối lượng rác thải y tế ở các khoa phòng tại bệnh viện 55
Bảng 4.9: Khối lượng rác thải y tế của bệnh viện năm 2010 56
Bảng 4.10: Tổng lượng rác thải y tế đem xử lý của bệnh viện năm 2010 57
Bảng 4.11: Mức độ ô nhiễm của các chất khí tại lò đốt chất thải y tế của
bệnh viện 58

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 4.12: Mứ c độ hiể u biế t củ a nhân viên bệ nh việ n về phân loạ i rá c
thải y tế 59
Bảng 4.13: Số lượng nước thải ước tính của bệnh viện 61
Bảng 4.14: Kết quả phân tích mẫu nước thải sau xử lý ở bệnh viện mùa khô 63
Bảng 4.15: Kết quả phân tích mẫu nước thải sau xử lý ở bệnh viện mùa mưa 63
Bảng 4.16: Kết quả trung bì nh mẫu nước thải sau xử lý ở bệnh viện mùa
mưa và mù a khô 64
2.1.2. Phân loại chất thải y tế 4
2.1.3. Quản lý chất thải y tế 5
2.2. Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 8
2.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế 8
2.2.2. Phân loại chất thải y tế 12
2.2.3. Quản lý chất thải y tế 14
2.3. Biện pháp xử lý chất thải y tế 18
2.3.1. Xử lý chất thải rắn y tế 18
2.3.2. Thực trạng thu gom và xử lý nước thải y tế 21
2.5. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế 29
2.6. Đặc điểm ngành y tế Hà Nam 31
2.6.1. Nhân lực y tế 31
2.6.2. Cơ sở hạ tầng tuyến xã (phường) 32
2.7. Các văn bản liên quan đến xử lí rác thải y tế hiện nay ở Việt Nam 32
2.7.1. Các văn bản do chính phủ và quốc hội ban hành 33
2.7.2. Các văn bản liên bộ 33
2.7.3. Các văn bản của bộ Y tế 34
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1. Đối tượng nghiên cứu 36
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36
3.3. Nội dung nghiên cứu 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.4. Phương pháp nghiên cứu 36
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 36
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1. Khái quát đặc điểm của các bệnh viện trong tỉnh Hà Nam 39
4.1.1. Số bệnh viện trong tỉnh Hà Nam 39
4.1.2. Thực trạng thu gom và xử lý rác thải tại các bệnh viện tỉnh Hà Nam 40

trọng của ngành y tế. Hiện nay, để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế
không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện. Tuy nhiên, trong quá
trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường
một lượng lớn các chất thải nguy hại. Theo tổ chức Y tế thế giới, trong thành
phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn, 5% là chất
thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát
sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ
làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung
quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tỷ lệ bệnh tật của cộng
đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp.
Theo báo cáo của Bộ Y tế Việt Nam hiện nay có xấp xỉ 1050 bệnh viện,
hơn 10000 trạm y tế xã cùng với các viện nghiên cứu y sinh, trung tâm y tế dự
phòng, cơ sở sản xuất dược phẩm, các cơ sở này thải ra lượng rác thải y tế
khổng lồ, riêng chất thải rắn là hơn 400 tấn mỗi năm (Bộ Y tế, 2007). Tuy
nhiên với lượng rác thải khổng lồ mới chỉ có 1/3 được đốt bằng lò hiện đại, số
còn lại được thiêu ngoài trời, đốt bằng lò thủ công, chôn trong khuôn viên
bệnh viện hoặc thải ra bãi rác chung dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường, lây
lan mầm bệnh rất cao.
Trước thực trạng ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây ra ngày càng
bức xúc thì việc trang bị cho các bệnh viện, trạm y tế các kiến thức cũng như
trang thiết bị để xử lý rác thải y tế là nhu cầu cấp bách hiện nay. Hà Nam là
một trong những tỉnh thể hiện rõ nhất thực trạng này. Chỉ có một số ít bệnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
viện được cung cấp những trang thiết bị cần thiết cho công tác môi trường, cụ
thể như Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam. Còn lại là các bệnh viện tuyến
huyện như bệnh viện Bình Lục, Thanh Liêm, Kim Bảng… thì việc trang bị

2.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp Các nghiên cứu đã
quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản
lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất
thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT
đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với
sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng
đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những
vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y
tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài
bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi
nhiễm với HIV ở nhân viên y tế. [52], [53], [55], [56].
Bảng 2.1: Lượng chất thải hàng ngày tại bệnh viện một số nước trên thế
giới
(kg/giường/ngày)
Loại bệnh viện
Na uy
Tây Ban
Nha
Anh
Pháp
Mỹ
Hà Lan
Bệnh viện tổng hợp
3.9
4,4
3,3
3,35
5,24

-
-
1,7
Như vậy có thể thấy rằng lượng rác thải y tế tại các bệnh viện rất lớn,
đặc biệt là bệnh viện đa khoa tổng hợp và sản khoa. Tại bệnh viện tổng hợp ở
lượng rác thải trung bình từ 3.3 đến 6.5 kg/giường/ngày. Tại bệnh viện Lão
khoa hầu hết các nước đều có lượng rác thải khoảng trên 1 kg/giường/ngày,
riêng ở Anh có tỷ lệ rác khá cao 9.25 kg/giường/ngày. Với lượng rác thải
như trên nếu không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ là nguyên nhân gây ra ô
nhiễm môi trường lớn.
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại,
quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc
khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các
khoa phòng [33].
Bảng 2.2: Chất thải y tế theo
giường
bệnh trên thế giới (kg/GB/ngày)
Tuyến bệnh viện
Tổng
lượng
CTYT
CTYT nguy hại
Bệnh viện trung ương
4,1 -
8,7

0,4 -
1,6


điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác
động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất
thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [58].
2.1.3. Quản lý chất thải y tế
Quản lí chất thải đang trở thành vấn đề lớn ở hầu hết các nước, đặc biệt
là quản lí rác thải y tế. Vài năm gần đây, vấn đề thải bỏ rác thải y tế ngày càng
được quan tâm hơn do tình trạng bán rác thải y tế, rò rỉ và nhiều vấn đề tương
tự như vậy.
Pakistan đang phải đương đầu với vấn đề như vậy. Khoảng 250.000 tấn
rác được thải ra mỗi năm từ các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Các chất thải y tế
này có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do có thể phát tán trong nguồn
nước, không khí, đất. Tại thành phố Karachi có khoảng 250 bệnh viện với
41000 giường bệnh, mỗi ngày thải ra khoảng 1,8 kg rác thải/giường bệnh.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện
pháp xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý
chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT. Tổn
thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất,
chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có
khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu
vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [59].
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi
trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các
loại chất thải. Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo,
Australia, Newzealand đã đi đầu trong công tác xử lí CTYT, Malaixia có
phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải

7
những ưu điêm trên, Công nghệ lò hấp được lựa chọn phổ biến sử dụng trong
các bệnh viện để thay thế dần cho công nghệ lò đốt.
* Tiệt trùng bằng hóa chất
Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ sự
độc hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường. Hóa chất
được kết hợp với nước nóng để khử trùng. Các loại hóa chất hay sự dụng là
Chlorine, khí Ozone, Formaldehyde, Ethylene, khí oxit, khí propylene oxide
và axít periacetic. Công nghệ này cho phép xử lý triệt để một số loại rác thải,
tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứng phụ đối với phần rác thải sau xử lý.
Vì vậy việc sử dụng cách thức tiệt trùng bằng hóa chất ít được sử dụng trong
các bệnh viện do các loại rác thải y tế rất đa dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải
sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng.
* Xử lý bằng công nghệ vi sóng
Công nghệ xử lý bằng vi sóng được sử dụng khá phổ biến tại các cơ sở y
tế. Quy trình xử lý đó là rác thải trước hết được nghiền và trộn với nước, sau đó
dùng vi sóng xử lý. Khi kết hợp việc nghiền rác thải khi xử lý khiến cho tổng
khối lượng rác thải giảm tới 80% trong quá trình tiêu diệt các chất độc hại và
tiệt trùng. Tuy nhiên xử lý vi sóng được đánh giá không phù hợp với một số
loại rác thải chứa hóa chất do tạo ra những tác động phụ có thể ảnh hưởng tới
sức khỏe của người tham gia vào quy trình xử lý rác thải. Mặt khác công nghệ
vi sóng chỉ thích hợp cho những trung tâm y tế có quy mô xử lý rác thải nhỏ.
* Xử lý bằng công nghệ sinh học
Hình thức xử lý này đang dần phát triển. Quy trình xử lý có việc sử
dụng chất vi sinh để tiêu diệt vi trùng. Về cơ bản quy trình xử lý này khá
giống với việc xử lý bằng hóa chất vì tận dụng các tính năng của vi sinh (hóa
chất) để tiêu diệt vi trùng.
* Xử lý bằng chất phóng xạ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng
CTYT
CTYT nguy hại
Bệnh viện trung ương
(kg/GB/ngày)
0,97

0,16

Bệnh viện tỉnh
(kg/GB/ngày)
0,88

0,14

Bệnh viện huyện
(kg/GB/ngày)
0,73

0,11

Trung Bình
(kg/GB)
0,86

0,14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chỉ còn một bệnh viện (Bệnh viện Tâm thần TƯ 1) hiện nay chưa có cơ sở xử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
lý chất thải rắn, áp dụng phương pháp thiêu đốt ngoài trời và chôn lấp. Tuy
nhiên, lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh rất thấp (chỉ khoảng 30
kg/ngày) do tính đặc thù của bệnh viện, ít thực hiện phẫu thuật, thủ thuật
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ một số tỉnh trong khu vực, hầu hết
các trung tâm y tế cấp huyện và bệnh viện đa khoa của tỉnh đã thực hiện thu
gom CTR y tế. Nhiều bệnh viện và trung tâm y tế đã tổ chức thu gom phân
loại CTR y tế nguy hại tại nguồn như ở tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, An
Giang, Bạc Liêu Tại đồng bằng sông Cửu Long, khối lượng CTR y tế từ
bệnh viện có quy mô cấp huyện và bệnh viện đa khoa thải ra môi trường là
41,7 tấn/ngày, trong đó có 8,3 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại. Ví dụ: tỉnh
Đồng Tháp có 3,7 tấn/ngày CTR y tế, 0,7 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh
An Giang có 5,3 tấn/ngày CTR y tế, 1 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh Cà
Mau có 3,8 tấn/ngày CTR y tế, 0,8 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh Trà Vinh
có 2,1 tấn /ngày CTR y tế, 0,4 tấn/ngày CTR y tế nguy hại [49]
Sau khi phân loại CTR y tế tại bệnh viện, loại rác thải sinh hoạt thông
thường sẽ được xử lý chung với rác thải sinh hoạt đô thị, riêng rác thải y tế
nguy hại trong các bệnh viện từ cấp huyện trở lên đem đi đốt. Cho đến nay
mới có khoảng 7% bệnh viện có lò đốt rác đạt tiêu chuẩn môi trường. Các
tỉnh đã trang bị 1 lò đốt rác đạt tiêu chuẩn và đã đưa vào khai thác như: Đồng
Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà
Vinh, Sóc Trăng và Cà Mau (loại lò Hoval MZ, RET, DHBK-HCM, với công
suất từ 50 -300kg/giờ). Còn lại 93% bệnh viện có lò đốt rác thủ công hoặc xử
lý thô sơ chưa đạt tiêu chuẩn môi trường. Một điều đáng lưu ý nữa, ở một số
bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, được trang bị lò đốt rác đạt tiêu chuẩn nhưng chỉ
khai thác sử dụng hết khoảng 1/3 - 1/4 công suất lò đốt, trong khi các trung

để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường.
Như vậy lượng chất thải y tế nguy hại tăng nhanh do việc áp dụng nhiều
kỹ thuật y tế mới, sử dụng nhiều các thiết bị y tế dùng một lần như bơm tiêm
nhựa và việc tăng số lượng xét nghiệm, liệu pháp và số ca mổ tính theo từng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
bệnh nhân. Số lượng các bệnh viện, trạm y tế ngày càng gia tăng, số lượng
bệnh nhân cũng gia tăng theo. Do vậy khối lượng rác y tế thải vào môi trường
cũng gia tăng gây áp lực rất lớn đối với các bệnh viện trong việc xử lí rác. Với
khối lượng rác thải như vậy nếu không được xử lí đúng cách sẽ ảnh hưởng
đến sức khỏe cũng như cũng như cuộc sống của những cán bộ công nhân
viên, người bệnh đang trực tiếp có mặt tại bệnh viện và những người sống
xung quanh bệnh viện.
2.2.2. Phân loại chất thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại,
chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [21]:
* Chất thải lâm sàng
- Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu thấm
máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng gạc, bông, găng
tay, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng
dịch dẫn lưu
- Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm kim tiêm, lưỡi và cán dao
mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt và
chọc thủng cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn.
- Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các
phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau
khi xét nghiệm, túi đựng máu…
- Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm: Dược phẩm quá hạn,

- Các dung môi:
Các thuốc mê bốc hơi: Halothane (Fluothane), Enflurane (Ethrane),
Isoflurane (Forane),
Các hợp chất không có Halogen: Xylene, Acetone, Isopropanol, Toluene,
Ethyl acetate, Acetonitrile, Benzene.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
- Oxyte ethylene: được sử dụng để tiệt khuẩn các thiêt bị y tế, phòng
phấu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn. Loại khó
này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người.
- Các chất hóa học hốn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như: phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol, methanol, acide.
* Bình chứa áp suất
Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng
O
2
, CO
2
, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ
gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng.* Chất thải sinh hoạt
Chất thải sinh hoạt là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy

rác này được thu gom cùng chất thải thông thường khác. Các cơ sở thường
hợp đồng với công ty môi trường đô thị để thu rác. Nhiều trường hợp chất thải
nguy hại đã được phân loại và để riêng, nhưng sau đó lại bị đổ lẫn với các
chất thải thông thường trước khi công ty môi trường đến thu gom.
Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước
cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8%
bệnh viện chưa thực hiện. Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh
viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện
tuyến huyện và bệnh viện ngành. Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật
sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền
đã dùng để đựng kim tiêm. Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT
ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất
thải. 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận
chuyển chất thải.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung
(2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát
sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y
tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện.
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh
viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải
chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể
chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh
viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn
CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện.
Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt
hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô

Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều
có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh
viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không
được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam,
Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp)
nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung [30].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ thống
xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30%
và bệnh viện tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước
thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép. Hiện cả
nước còn có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số
bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải khoảng 220 bệnh viện [23].
* Về xử lý khí thải bệnh viện: Khí thải chủ yếu là khí thải từ lò đốt rác
thủ công khi xử lý rác thải, không có các máy móc thải khí độc hại. Chỉ có
một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí thải hoặc có hotte hút hơi khí độc
tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa phần các bệnh viện chưa có
hệ thống xử lý khí thải. Khí thải từ lò đốt vẫn chưa được kiểm tra đánh giá,
kiểm tra chất lượng khí thải ra môi trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Ở một số bệnh viện còn để xảy ra hiện tượng chưa phân loại rác tại
nguồn. Việc vận hành lò đốt, xử lý đôi khi để lẫn rác sinh hoạt với rác y tế
nên gây tốn kém, lãng phí nhiên liệu. Thêm vào đó, hệ thống lò đốt ở các
bệnh viện tuyến huyện phần lớn là lò đốt công nghệ Bách khoa, chưa thực sự
đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Việc quản lý chất thải y tế không đúng cách không chỉ nguy hại đối với
những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với chất thải y tế nguy
hại như bác sĩ, y tá, hộ lý, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, những người trực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status