Lời mở đầu
Dệt may là một ngành sản xuất và xuất khẩu lâu đời trên thế giới. Ngay
từ thời xa xưa con người đã chú ý đến vấn đề ăn mặc trong sinh hoạt hàng
ngày và cả trong giao tiếp. Họ đã có không ngừng cải tiến về kiểu dáng, màu
sắc, mẫu mã để cho ra đời những bộ trang phục ngày càng gọn nhẹ, sang
trọng và hợp thời.
Dệt may Việt Nam cũng là ngành lâu đời của Việt Nam. Việc sản xuất
phục vụ nhu cầu cho người tiêu dùng trong nước đã tồn tại từ lâu nhưng việc
xuất khẩu sang thị trường nước ngoài thì mới thực sự phát triển trong mấy
năm gần đây. Cùng với sự phát triển của ngành Dệt may thế giới, Việt Nam
cũng không ngừng đổi mới và hoàn thiện mình. Nếu như trước đây dệt may
Việt Nam chỉ xuất hiện tại các nước Đông Âu thì hiện nay đã xuất hiện ở
khắp nơi trên thế giới đặc biệt là các thị trường Mỹ và EU và trở thành nhà
cung cấp có uy tín trên thế giới hiện nay.
Sau khi hiệp định dệt may giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, EU được ký kết
mở đường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu dệt may vào hai thị trường này,
dệt may Việt Nam không ngừng phát triển và ngày càng tăng doanh thu cho
đất nước. Tuy nhiên đến năm 2005, khi hiệp định dệt may trong khuôn khổ
WTO chấm dứt thì tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam đã có nhiều biến
động và gặp rất nhiều khó khăn. Kim ngạch trong những tháng đầu năm 2005
liên tục giảm do chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà xuất khẩu lớn: Trung
Quốc, Ấn Độ…
Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu dệt may, mới
được thành lập (2002), công ty TNHH Thương mại quốc tế Việt Phượng cũng
không tránh khỏi những khó khăn trong thời kỳ “hậu hạn ngạch’.
Nhằm nghiên cứu những khó khăn của Việt Nam và công trong thời kì
hậu hạn ngạch và những thách thức mới của dệt may Việt Nam và công ty
trong thời gian tới, Tôi đã nghiên cứu và hoàn thành đề tài: “Tác động của
việc chấm dứt của hiệp định dệt may trong khuôn khổ WTO đối với hoạt
động xuất nhập khẩu của công ty TNHH Thương mại quốc tế Việt
Phượng".
lượng nhập khẩu. Từ những năm 1950 trở đi, các hàng rào mậu dịch dần dần
2
được cắt giảm để tiến đến tự do hóa thương mại qua các vòng thương thuyết
trong khuôn khổ tổ chức GATT. Song song với xu hướng này và sự phục hồi
của cán cân thanh toán trong các nước phát triển, Nhật Bản cũng tham gia trở
lại vào thương mại dệt may thế giới. Cùng lúc, một số nước nghèo bắt đầu
xuất khẩu hàng dệt và trong chừng mực ít hơn, các hàng may mặc. Nhờ nhân
công và nguyên liệu rẻ, các nước này nhanh chóng xuất ngày càng nhiều các
hàng dệt may bằng bông sợi sang các nước phát triển, cạnh tranh ồ ạt với
ngành sản xuất nội địa của họ. Trước nguy cơ lỗ lãi, phá sản đe dọa việc làm
của cả một ngành sản xuất, gây ra căng thẳng trong xã hội, một số nước phát
triển thương thuyết song phương với 4 nước xuất khẩu chính lúc ấy - Nhật,
Hồng Kông, Ấn Độ và Pakistan - để ép họ phải tự giới hạn lại. Những thỏa
thuận "hạn chế xuất khẩu tự nguyện" (voluntary export restraint) này trở
thành biện pháp phổ biến để ngăn chặn nhập khẩu, không chỉ cho hàng dệt
may mà còn trong nhiều ngành khác.
Năm 1959, theo yêu cầu của Bộ trưởng tài chính Mỹ Douglas Dillon, tổ
chức GATT bắt đầu họp bàn về vấn đề "nhập khẩu tăng vọt trong thời gian
ngắn cho vài mặt hàng và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế,
chính trị và xã hội trong nước nhập khẩu". Năm 1960, các thành viên GATT
công nhận hiện tượng "xáo trộn thị trường" (market disruption), định nghĩa
gồm một số điều kiện cụ thể, cho phép nước nhập dùng biện pháp phòng
chống (safeguard) để bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Hai vấn đề chú ý trong
các điều kiện này là "nhập khẩu xuất phát từ một số nguồn cụ thể" và "sự
khác biệt về giá cả giữa hàng nhập và hàng nội không do nước xuất khẩu bán
phá giá" (dumping). Nói cách khác, một là các nước nhập có thể áp dụng
biện pháp phòng chống đối với một hoặc vài nước, một cách chọn lọc, trong
khi theo điều XIX của Hiệp ước GATT, các biện pháp này phải nhắm tất cả
mọi nguồn, không phân biệt. Hai là họ có thể phòng chống ngay cả khi nước
xuất khẩu không vi phạm qui tắc về bán phá giá.
với điều kiện phải gia tăng 6% một năm. Ngoài ra, trước khi có thể viện lý do
là thị trường bị xáo trộn, các nước nhập khẩu phải hội ý với nước xuất khẩu
4
và tuân theo một số điều kiện và chuẩn ghi trong MFA. Một Cơ quan Kiểm
soát Hàng dệt (Textiles Surveillance Body - TSB) được thành lập để quản lý
hiệp định và giám sát sự thi hành. Các nước áp đặt hạn ngạch phải thông báo
mỗi biện pháp mới lên TSB và hàng năm báo cáo tình hình. Cơ quan TSB
cũng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp, và hàng năm phải báo cáo hoạt
động của mình lên Ủy ban Hàng dệt (Textiles Committee) của GATT.
Vì MFA đi ngược lại hai qui tắc căn bản của GATT là trong suốt và
không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được
quản lý bởi GATT, nhưng chỉ áp dụng cho các nước liên can chứ không cho
toàn thể các nước thành viên. Cũng vì yếu tố biệt lệ này mà Trung Quốc, tuy
không là thành viên, cũng tham gia, từ đầu thập niên 1980. MFA được gia
hạn 4 lần: năm 1977, 1981, 1986 và 1991, sau khi được thương thuyết lại và
mỗi lần đều kèm theo nhiều điều lệ mới. Trong những năm cuối, tham gia
MFA có 8 nước phát triển ("nước nhập khẩu") - Áo, Canada, Cộng đồng kinh
tế châu Âu EEC, Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thụy Sĩ và Na Uy, và 36 nước đang
phát triển, với tư cách nước xuất khẩu. Trên 8 nước nhập khẩu này, chỉ có
Nhật và Thụy Sĩ là không hề áp dụng hạn ngạch. Trong 21 năm thi hành, từ
1974 đến 1994, MFA thật ra là công cụ của các nước giàu ngăn chặn nhập
khẩu từ các nước nghèo hơn là "mở rộng thương mại, giảm các hàng rào mậu
dịch và dần dần tự do hóa mậu dịch quốc tế về hàng dệt, cùng lúc điều tiết sự
phát triển của luồng thương mại này và tránh các hậu quả gây xáo trộn thị
trường và ngành sản xuất trong các nước nhập khẩu cũng như xuất khẩu",
như mục tiêu chính thức đề ra. Các hạn ngạch được thương lượng trên cơ sở
song phương, thường xuyên xem xét lại, và tỷ lệ gia tăng thường thấp hơn con
số 6% qui định trong MFA.
Do đó các nước xuất khẩu không ngừng đòi hỏi phải bãi bỏ chế độ hạn
ngạch này và cơ sở pháp lý của nó. Vấn đề dệt may là một trong những đề tài
thẩm quyền của TMB mà phải đưa lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp
(Dispute Settlement Body - DSB).
6
Tuy WTO đã có một hiệp ước riêng cho các biện pháp phòng chống
(Agreement on Safeguards - SG) nhưng Hiệp ước ATC vẫn dành một điều
khoản (điều lệ 6) cho phép các nước nhập khẩu dùng đến biện pháp này theo
điều kiện khác, ngoại lệ so với Hiệp ước SG: trong khi SG qui định là các
biện pháp phòng chống phải áp dụng cho tất cả mọi nguồn, theo nguyên tắc
không phân biệt đối xử, ATC cho phép nước nhập khẩu áp dụng một biện
pháp "đặc định", tức là chỉ nhắm một đối tượng, nếu xác định được là đối
tượng ấy đã gây ra tổn hại cho mình tuy rằng sự gia tăng nhập khẩu là từ mọi
nguồn. Lý do là vì ATC không cho phép áp đặt hạn ngạch mới, nên các nước
ngày trước không tham gia MFA (phi hạn ngạch) vẫn phải có cách tự vệ. Cơ
cấu phòng chống ATC vận hành như sau: nước nhập khẩu, khi thấy cần bảo
vệ thị trường của mình, yêu cầu nước xuất khẩu hội ý với mình. Hai bên có
thể thỏa thuận một biện pháp giới hạn nhập khẩu. Thỏa thuận này cũng như
yêu cầu hội ý đều phải được thông báo lên TMB. Nếu không đi đến thỏa
thuận, nước nhập khẩu có thể trình lên TMB một đề nghị giới hạn đơn
phương. TMB có 30 ngày để điều tra và đưa ra khuyến cáo. Nếu hai bên vẫn
không đồng ý thì có thể kiện nhau trước DSB. Vì mọi giai đoạn đều đặt dưới
sự giám sát của TMB - một cơ quan đa phương - nên cơ cấu này, tuy hãy còn
vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử nhưng ít ra cũng trong suốt hơn
các hạn ngạch song phương, chỉ có hai nước liên can là biết với nhau. Mặt
khác, để tránh việc nước nhập khẩu lạm dụng và biến phòng chống thành một
thứ hạn ngạch "chui", các biện pháp này cũng "tạm thời" tức là chỉ có thể áp
dụng trong 3 năm, không gia hạn. ATC dùng chữ "transitional" thay vì
"temporary" cũng để nhắc lại yếu tố quá độ của cả Hiệp ước.
Từ 1995 đến 2001, có 53 biện pháp phòng chống thông báo lên TMB,
trong đó một nửa (26) là do Mỹ, phần còn lại do các nước châu Mỹ La Tinh.
Điều đáng nói là trong năm đầu (1995) đã có 23 biện pháp, toàn bộ là của Mỹ,
nghiêm chỉnh, cũng vẫn còn gần một nửa công cuộc tự do hóa sẽ xảy ra cùng
một lúc vào ngày 1.1.2005. Không khác gì một "big bang". Hơn nữa, vì các
nước nhập khẩu có toàn quyền chọn các mặt hàng cho 3 giai đoạn sát nhập
8
đầu tiên, đại đa số 49% (hoặc hơn) này là những hàng "mẫn cảm" nhất về mặt
chính trị.
Tự do hóa có nghĩa là các hạn ngạch còn tồn tại sẽ phải được gia tăng
mỗi năm, như thời MFA. Tuy nhiên, thay vì cố định như tỷ lệ MFA, tỷ lệ
ATC cũng tăng dần với thời gian, cho đến kỳ hạn cuối cùng, theo lịch trình
sau đây:
Bảng 2 - Lịch trình tự do hóa hạn ngạch
Năm Tỷ lệ gia tăng Khối lượng (đơn vị)
1994 6% (như theo qui định
của MFA)
Thí dụ: 1000 đơn vị
1995
1996
1997
(6% x 1,16)
6,96%
6,96%
6,96%
1 070
1 144
1 224
1998
1999
2000
2001
(6,96% x 1,25)
hình sau mỗi giai đoạn của các lịch trình. Vì việc thực thi các hiệp ước của
vòng Uruguay, trong đó có Hiệp ước ATC, là một trong những mối bất đồng
giữa các thành viên, nên Hội nghị Bộ trưởng của WTO tại Doha năm 2001
cũng thông qua một quyết định về vấn đề này, trong đó đưa ra hai đề nghị cho
ngành dệt may để mở rộng thị trường bằng cách tính các tỷ lệ gia tăng hạn
ngạch theo phương pháp khác. Hội đồng CTG có nhiệm vụ bàn bạc và trình
kết luận lên Tổng Hội đồng (General Council) - Cơ quan tối cao của WTO -
trước cuối tháng 7 năm 2002. Tuy thế các nước thành viên vẫn không đi đến
đồng thuận trong năm 2003 và các cuộc họp vẫn tiếp tục trong năm 2004.
Tháng 6.2004, khoảng 90 công ty và hiệp hội dệt may của 49 nước, cả
nhập khẩu lẫn xuất khẩu, sau khi họp một hội nghị thượng đỉnh về công bằng
trong mậu dịch dệt may ("Summit on Fair Trade in Textiles and Clothing")
tại Bruxelles (Bỉ), viết thư cho ông Supachai Panitchakdi, Tổng Giám Đốc
WTO, yêu cầu gia hạn Hiệp ước ATC thêm 3 năm, cho đến 31.12.2007, vì họ
sẽ không thể cạnh tranh nổi với các nước như Ấn Độ và Trung Quốc khi thị
trường hoàn toàn mở cửa. Theo họ, có nguy cơ 30 triệu người sẽ mất việc trên
thế giới và thậm chí một số nước sẽ bị phá sản. Họ cũng yêu cầu WTO mở
một cuộc họp khẩn cấp, trễ nhất là ngày 1.7.2004, để xem xét các vấn đề họ
nêu lên trong một tài liệu gửi kèm, gọi là " Tuyên Ngôn Istanbul". Cùng lúc,
các lobbies Mỹ vận động được 117 đại biểu và thượng nghị sĩ Mỹ (trong đó
có John Kerry, ứng cử viên tổng thống) yêu cầu tổng thống Bush can thiệp
10
cho cùng mục đích. Các nhà sản xuất nội địa các nước nhập khẩu lo lắng đã
đành, điều đáng ngạc nhiên là liên minh với họ lại là một số nước xuất khẩu,
phản đối một điều mà chính phía bên họ đòi hỏi từ hơn 40 năm nay.
Tuy nhiên đến ngày 1/1/2005, Hiệp ước ATC cũng đã chấm dứt, cáo chung
một biệt lệ kéo dài từ năm 1960 và bắt đầu cho một thời kỳ mới - thời kỳ cạnh
tranh không hạn ngạch.
II. Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian qua.
1. Kim ngạch xuất khẩu.
nhà nhập khẩu lớn trên thế giới. Tuy nhiên đến năm 2005 tuy vẫn đạt tỷ lệ
tăng trưởng trên 10% nhưng đây vẫn là con số không mấy khả quan đối với
ngành dệt may Việt Nam. Nguyên nhân đó là từ 1/1/2005 các nước thành viên
của tổ chức thương mại thế giới (WTO) bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu dệt may
cho nhau, thì ngành dệt may Việt Nam lại vẫn chịu sức ép của hạn ngạch do
chưa phải là thành viên của WTO. Đặc biệt là trên thị trường Mỹ, thị trường
xuất khẩu chính của Việt Nam. Tuy vậy vẫn còn nhiều lí do dẫn đến tình
trạng sụt giảm kim ngạch xuất khẩu dệt may. Ví dụ như trên thị trường EU
mặc dù EU không áp dụng hạn ngạch đối với Việt Nam nhưng kim ngạch
xuất khẩu sang thị trường này vẫn không những không tăng mà còn có sự sụt
giảm. Giải thích cho lí do này nhiều chuyên gia cho rằng ngành dệt may Việt
12
Nam rất có ít lợi thế cho sự phát triển bền vững, đặc biệt là các ngành công
nghiệp phụ trợ chưa phát triển tương xứng. Điều đó góp phần lý giải tại sao
các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chấp nhận gia công xuất khẩu là chính
(chiếm tới 70-80% kim ngạch), hình thức thương mại bán sản phẩm chiếm tỷ
trọng rất khiêm tốn. Đồng thời sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia Trung
Quốc và Ấn Độ cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến việc sụt giảm kim
ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa thương mại cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ đang đặt ngành dệt may Việt Nam trước những
áp lực và thách thức to lớn. Dù Việt Nam trở thành thành viên tổ chức WTO,
trong những năm tới ngành dệt may vẫn chưa thể phát triển nhanh và cạnh
tranh được với nhiều nước xuất khẩu khác nếu như các doanh nghiệp chưa
thực sự đổi mới mạnh mẽ trong cung cách tổ chức sản xuất kinh doanh của
mình.
2. Thị trường xuất khẩu.
Cho đến đầu những thập niên 80, ngành dệt may của ta chủ yếu vẫn xuất
khẩu sang hai thị trường chính là Liên Xô và Đông Âu. Khi khối Xã hội Chủ
Nghĩa Đông Âu sụp đổ vào năm 1990 đã gây rất nhiều khó khăn cho tất cả các
14
Việt Nam). Theo số liệu thống kê của Hoa Kỳ, năm 2001 kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ mới chỉ đứng ở vị trí 70
trong tổng số gần 200 nước xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Mỹ, thì
đến năm 2002 đã vượt lên xếp thứ 23, năm 2003 bứt phá mạnh hơn, xếp thứ 8
và đến năm 2004, xếp ở vị trí thứ 6 vượt 64 bậc sau 3 năm. Theo sự đánh giá
của các chuyên gia người Mỹ chỉ có hàng Việt Nam mới có khả năng cạnh
tranh được với hàng của Trung Quốc tại thị trường này. Nhiều mặt hàng của
Việt Nam tại thị trường Mỹ còn thuộc loại giá cao nhất trong số các nước xuất
khẩu hàng dệt may vào thị trường này. Cụ thể năm 2001 đơn giá xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam bình quân là 1,51 USD/m2 sản phẩm. Đến năm
2004 tăng lên 3,14 USD/m2 sản phẩm. Trong khi hàng Trung Quốc từ 2,96
USD/m2, tụt xuống còn 1,25 USD/m2.
Tại thị trường EU, mặc dù chính phủ hai nước đã xúc tiến những cơ hội
nhằm tăng sản lượng xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này nhưng kim
ngạch xuất khẩu sang thị trường này vẫn còn rất kém. Tại thị trường EU, dệt
may Việt Nam đang đứng ở vị trí thứ 14. Việt Nam vẫn chưa chú trọng đến
thị trường đầy tiềm năng này do đó chưa có sự đầu tư thích đáng.
Tại thị trường Nhật, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng không cao
mặc dù Nhật Bản là thị trường đối xử bình đẳng đối với hàng hóa các nước,
từ lâu đã không áp dụng hạn ngạch với hàng dệt may.
Biểu đồ 3: Thị phần khách hàng của Việt Nam
Đơn vị: %
15
3. Những khó khăn và thuận lợi của Việt Nam trong hoạt động xuất
khẩu dệt may của Việt Nam
3.1. Thuận lợi
Dệt may là một trong những ngành chủ lực của Việt Nam hiện nay vì nó
có những lợi thế về lao động và được sự hỗ trợ của chính phủ và nhà nước.
thương hiệu của các công ty nước ngoài. Thậm chí với quy mô vừa và nhỏ
như vậy, nếu không liên kết với một số doanh nghiệp lớn thì những doanh
nghiệp này cũng khó có khả năng tồn tại trong điều kiện hội nhập.
Thứ ba: Đội ngũ lao động đông đảo nhưng hầu hết có tay nghề trung
bình, năng suất thấp, rất ít lao động có trình độ cao làm cho năng suất toàn
ngành cũng không cao. Ngành may Việt Nam hiện nay thiếu khoảng 30%
nhân công lành nghề. Nếu một nhà máy có sức thu hút 1 ngàn công nhân,
nhưng chỉ thu hút được 700 công nhân còn 300 máy còn lại bắt buộc phải để
không. Tệ hơn nữa có nhiều nhà máy chỉ thuê được từ 30 tới 50% nhân công
cần thiết, số máy cần thiết đành để trống do đó sẽ rất là lãng phí. Với xu thế
17
toàn cầu hóa như hiện nay, với trình độ lao động thấp như vậy, ngành dệt may
Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh được với đội ngũ lao động lành nghề ở các
nước lớn như Trung Quốc thậm chí ngay cả đối với các nước nhỏ như Thái
Lan, Indonesia thì việc cạnh tranh cũng là rất khó khăn.
Thứ tư: Thiết kế yếu kém làm cho hàng Việt Nam vừa thiếu mẫu mã lại
không đa dạng về chủng loại. Điều này cũng dễ hiểu, vì qui mô nhỏ nên các
doanh nghiệp không chú trọng đến việc đầu tư vào khâu thiết kế, chưa có đội
ngũ thiết kế riêng biệt cho nên các mẫu mã đưa ra thị trường thường là những
mẫu mã ăn theo hoặc rập khuôn. Nhìn chung ngoài những doanh nghiệp lớn
đã bắt đầu chú ý đến khâu thiết kế thì còn lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của khâu thiết kế nhằm nâng cao
sức cạnh trạnh của mình.
Thứ năm: Kỹ năng quản trị và kỹ năng tiếp cận thị trường còn yếu làm
cho khả năng xâm nhập các thị trường lớn như Mỹ và EU còn thấp. Chưa nắm
bắt được các cơ hội.
Thứ sáu: Việc phân bổ hạn ngạch còn nhiều bất cập, chưa thật sự rõ ràng
và minh bạch gây nhiều sự lúng túng cho các doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh
xuất khẩu. Dẫn đến việc nhiều nhà xuất khẩu không có hạn ngạch trong khi
nhiều doanh nghiệp còn hạn ngạch nhưng lại không đủ khả năng xuất khẩu. Đây
Các nước phải cạnh tranh với nhau về giá cả, số lượng, thời gian giao hàng,
kiểu dáng, màu sắc và chất lượng của sản phẩm. Vào sáng sớm ngày
11/4/2005, nhà máy Spectrum Sweater cao chin tầng ở Tây bắc Dhaka đổ sập,
làm ít nhất 64 người chết, 84 người bị thương là chứng cớ cho thấy sức ép
cạnh tranh đối với các nước kém phát triển nhằm đáp ứng nhanh những đơn
hàng số lượng lớn của các nhà nhập khẩu.
Trước sự cạnh tranh gay gắt, các nước nhỏ có xu hướng chuyển sang
những thị truờng có sức cạnh tranh nhỏ hơn. Ngoài hai thị trường trọng điểm
là Mỹ và EU, thị trường Nhật Bản, Châu Phi… cũng là những thị trường hấp
dẫn đối với các nhà xuất khẩu dệt may. Thị trường Nhật là một thị trường lớn
19
và khá hấp dẫn nhưng người tiêu dùng lại rất khó tính do đó việc xâm nhập
vào thị trường này là điều vô cùng khó khăn mặc dù đây là thị trường không
áp dụng hạn ngạch cho bất kì nước xuất khẩu dệt may nào. Tuy vậy việc các
nước xuất khẩu đẩy mạnh việc xuất khẩu dệt may vào thị trường Nhật là điều
vô cùng dễ hiểu vì sức ép cạnh tranh quá lớn tại Mỹ và EU.
Để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình các nước xuất khẩu cũng
nắm bắt được nhu cầu thị trường và xuất khẩu những sản phẩm không phải là
thế mạnh của các nước có sức cạnh tranh cao (Trung Quốc, Ấn Độ…). Họ bắt
đầu chú trọng đến các sản phẩm cao cấp và mang tính thời trang cao.
Ngược lại với các nước xuất khẩu, đối với các nước nhập khẩu dệt may
lại đứng trước những thử thách vô cùng to lớn. Việc gia tăng kim ngạch xuất
khẩu của các nước xuất khẩu dệt may đặc biệt là Trung Quốc đã đe dọa
nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất dệt may tại các nước nhập khẩu. Tại thị
trường Mỹ, các nhà sản xuất Mỹ đã gây sức ép lên chính phủ Mỹ yêu cầu cần
phải hạn chế làn sóng dệt may của Trung Quốc. Họ chỉ trích rằng, từ khi chế
độ quota dệt may được bãi bỏ vào đầu năm 2005, 19 nhà máy đã buộc phải
đóng cửa và 26.000 người bị mất việc làm. Tại Châu Âu, một số doanh
nghiệp tại các quốc gia như Đức, Thụy Điển, Đan Mạch và Netherland cũng
đang lên sức ép yêu cầu Ủy ban Châu Âu phải nới lỏng cơ chế quota đối với
kiện này có tác động rất khác nhau đến các quốc gia có liên quan, nó sẽ mở ra
cơ hội nhưng cũng nảy sinh những khó khăn, thách thức mới cho các nước
sản xuất, kinh doanh mặt hàng dệt may. Đặc biệt, đối với các nước đang phát
triển có nguồn thu ngoại tệ chủ yếu dựa vào mặt hàng xuất khẩu này (trong đó
có Việt Nam) thì 1 mặt sẽ phải đối phó với những hình thức bảo hộ mới mà
Mỹ và liên minh Châu Âu (EU) áp dụng, mặt khác phải chịu sức ép cạnh
tranh gay gắt với nhau dẫn đến những thiệt hại nặng nề do mất thị phần, suy
giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu và tăng tỷ lệ thất nghiệp.
21
Không nằm ngoài qui luật đó, Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều
khó khăn và thử thách trong năm 2005. Có thể nói năm 2005 năm bản lề cho
ngành dệt may Việt Nam và cũng là năm chứng kiến nhiều sự biến động nhất
của dệt may trong mấy năm qua. Theo thứ trưởng Công nghiệp Bùi Xuân
Khu, trong suốt những tháng đầu năm 2005, tình hình thế giới đã có những
biến động bất lợi cho hàng dệt may Việt Nam. Tất cả các nước tham gia WTO
đều được dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may, trong khi đó, hàng dệt may
Việt Nam vẫn phải chịu hạn ngạch, nhất là thị trường Mỹ. Các chi phí nguyên
vật liệu đầu vào tăng cao như bông xơ, hóa chất, thuốc nhuộm, trong khi giá
xuất khẩu và tiêu thụ nội địa không tăng, thậm chí các doanh nghiệp phải
giảm giá thành để cạnh tranh. Chính điều này đã làm cho kim ngạch xuất
khẩu dệt may trong 7 tháng đầu năm 2005 chỉ đạt 2,54 tỷ USD và đã thực sự
gây sốc cho giới doanh nghiệp và các nhà quản lý. Trên tất cả các thị trường
lớn kim ngạch xuất khẩu dệt may đều giảm.
Tại thị trường Mỹ, các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch sang thị trường
Mỹ chỉ đạt 783 triệu USD, giảm gần 10% so với năm 2004 nguyên nhân chủ
yếu là do xuất khẩu của các nước khác đã tăng mạnh ở một số mặt hàng chủ
lực của ta như áo thun và quần (cat. 338/339 và cat. 347/348- tỷ lệ thực hiện
chỉ đạt xấp xỉ 78% so với cùng kì năm 2004). Tuy nhiên điều gây sốc lớn lại
chính là sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU trong đó một số
thị trường chính giảm đáng kể như tại Đức giảm 20,6%; tại Pháp và Tây Ban
dệt may Việt Nam đã đạt được 4,82 tỷ USD – tuy không hoàn thành chỉ tiêu
đề ra nhưng thực sự cũng rất vui vì Việt Nam đã vượt qua được những khó
khăn thách thức một cách êm thấm, đặc biệt là trước sự cạnh tranh gay gắt
của Trung Quốc. Tuy nhiên những thách thức lớn vẫn còn ở phía trước và
chúng ta vẫn phải có những biện pháp thích hợp để vượt qua được những
thách thức đó.
2. Những biện pháp ứng phó của ngành dệt may trước những tác động
trên.
2.1. Cổ phần hóa các doanh nghiệp
Nhằm tạo thêm sự năng động , chủ động hơn cho doanh nghiệp trong sản
xuất kinh doanh, khắc phục những yếu kém và tìm kiếm thị trường mới.
Chính sách nhất quán của Việt Nam là tiến hành cổ phần hóa toàn bộ các
23
doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dệt may. Kết quả là, từ hơn
400 doanh nghiệp nhà nước, đến nay chỉ còn khoảng 51 doanh nghiệp. Dự
kiến toàn bộ các doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa vào năm 2007. Số doanh
nghiệp tư nhân sẽ tăng nhanh lên trên 1500 doanh nghiệp và số doanh nghiệp
FDI có khả năng tăng lên khoảng 500 doanh nghiệp vào năm 2006. Với chính
sách nhất quán này, sau một thời gian khó khăn thời hậu hạn ngạch, dệt may
Việt Nam đã nhanh chóng tìm ra được những hướng đi mới đưa kim ngạch
xuất khẩu dệt may tăng nhanh và dần lấy lại vị thế của mình trên thị trường
thế giới.
2.2. Phân bổ lại hạn ngạch
Như ta đã biết câu chuyện thời sự nhất của dệt may trong thời gian qua
vẫn là sự lúng túng của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc phân bổ lại
hạn ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ - thị trường chiếm 50% tổng giá
trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đây cũng là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến sự sụt giảm tốc độ tăng kim ngạch nói chung và trên thị
trường Hoa Kỳ nói riêng trong thời kỳ đầu hậu hạn ngạch (tức 7 tháng đầu
năm 2005). Nhằm khắc phục tình trạng này và giảm áp lực cho các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam, vào cuối quí 3 năm 2005 đã khởi công 2 dự án
trung tâm trung tâm thương mại nguyên phụ liệu dệt may tại Long An cách
Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 22 km và tại khu công nghiệp trọng điểm
thuộc huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Đây sẽ là nơi cung cấp đa dạng các loại
nguyên phụ liệu ngành may có giá bán rẻ hơn từ 5%-25% so với giá thị
trường bao gồm: bông, vải, sợi Trong đó, phụ liệu ngành may có 200 chủng
loại, 50 chủng loại hóa chất, thuốc nhuộm và 100 chủng loại phụ tùng thiết bị
dệt may. Mặt khác sự ra đời của các trung tâm nguyên phụ liệu về dệt may sẽ
đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước hiện nay. Doanh
nghiệp chủ động được trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu chế biến và làm
hàng bán thành phẩm FOB để nâng cao giá trị xuất khẩu, dần thay thế nguyên
phụ liệu nhập khẩu bằng nguyên phụ liệu trong nước. Đồng thời nó sẽ tạo
25