PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM ĐẢO
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TAM ĐẢO
CHUYÊN ĐỀ
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 9
PHẦN TRUYỆN, THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.
Họ và tên: TRẦN THỊ THANH HUYỀN
Chức vụ: Giáo viên.
. Đơn vị: Trường THCS Tam Đảo
Huyện Tam Đảo – Tỉnh Vĩnh Phúc.
NĂM HỌC 2013 - 2014
CHUYÊN ĐỀ
1
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 9
PHẦN TRUYỆN, THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.
***
A- MỤC ĐÍCH CHUYÊN ĐỀ:
1.Thông qua nội dung chuyên đề giúp đội tuyển HSG Ngữ văn 9 nắm được các kiến
thức cơ bản, kiến thức nâng cao cũng như các kiểu bài thường gặp có liên quan đến
phần truyện, thơ Việt Nam hiện đại thuộc chương trình Ngữ văn 9.
2. HS biết vận dụng kiến thức đã học vào việc làm các bài tập liên quan đến nội dung
chuyên đề.
3. Giáo dục cho HS có ý thức học tập tốt, tìm hiểu tài liệu để mở rộng, nâng cao kiến
thức, có những hiểu biết sâu sắc hơn về phần truyện, thơ Việt Nam hiện đại; vận dụng
tốt kiến thức đã học vào việc giải các bài tập .
B - ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN THỰC HIỆN.
1. Đối tượng bồi dưỡng: Đội tuyển HSG Ngữ Văn lớp 9.
2. Phạm vi kiến thức bồi dưỡng:
- Kiến thức cơ bản và nâng cao phần truyện, thơ Việt Nam hiện đại thuộc chương trình
Ngữ văn 9.
- Sáng tác trong hoàn cảnh nào?
- Đề tài và chủ đề của tác phẩm?
- Tóm tắt nội dung của tác phẩm đó (đối với tác phẩm văn xuôi)?
- Đối với tác phẩm thơ: nắm nội dung toàn tác phẩm, học thuộc lòng những phần nội
dung nằm trong chương trình học.
- Các thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong tác phẩm là gì?
Bước 2: Trước một bài Văn cần xem xét các dạng đề đối với tác phẩm đó - dạng đề
ở đây được hiểu là về thể loại và nội dung.(VD: Với tác phẩm Làng của Kim Lân, có
thể gắt gặp các dạng đề như phân tích các nhân vật trong tác phẩm, phân tích nghệ thuật
miêu tả tâm lý và khắc họa nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện ) Ở mỗi
dạng đề cần định hướng được những ý chính cần triển khai.
Bước 3: Lập dàn bài chi tiết cho từng dạng đề ở mỗi tác phẩm.
- Đối với mỗi dạng đề cần lập ra một dàn bài. Việc làm này sẽ giúp HS lường hết mọi
tình huống đề có thể bắt gặp và không phải lúng túng khi làm bài.
- Khi lập dàn ý HS tự đặt ra những câu hỏi và trả lời cho câu hỏi của chính mình. Điều
này sẽ giúp HS vạch được cho mình những ý chính thật đầy đủ. Sau khi có được những
ý chính mới triển khai các ý phụ. Thêm vào đó HS có thể tham khảo các bài văn hay để
bổ sung các ý cần thiết. Bằng cách sơ đồ hóa dàn bài bằng những gạch đầu dòng và mũi
tên sẽ giúp HS thấy rõ các ý mà mình định triển khai. Và như thế, việc thiếu ý là một
điều hiếm khi xảy ra khi làm bài.
Bước 4: Viết bài và sửa chữa.
Trong quá trình viết bài cần vận dụng đa dạng phong phú các phép lập luận. Việc sử
dụng ngôn từ không chỉ đúng mà cần phải hay, biểu cảm. Khi viết chú ý vận dụng các
phép liên kết để bài văn được lô gic chặt chẽ, tự nhiên, thuyết phục được người đọc
người nghe Đặc biệt khi nghị luận về một bài thơ hoặc đoạn thơ có khác với nghị luận
3
tác phẩm truyện ở chỗ: nếu như những nhận xét đánh giá về nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân
vật, cách tạo dựng tình huống truyện, cách xây dựng nhân vật thì những đánh giá về
nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ lại được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh,
Dàn ý:
- Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
+ Trích dẫn nhận định.
- Thân bài:
4
+ Giải thích và chứng minh từng khía cạnh của nhận định.
+ Giải thích quan hệ giữa các khía cạnh.
- Kết bài: Ý nghĩa giá trị của lời nhận định.
* Dạng bài phân tích tác phẩm thơ:
Yêu cầu khi làm dạng bài này:
+ Tìm ra được niềm xúc động của nhà thơ, phát hiện cách thức nhà thơ diễn đạt niềm
xúc động ấy.
+ Tìm ra những giá trị đóng góp cho cuộc sống của tác phẩm thơ ấy.
Các bước tiến hành:
Lần lượt trả lời các câu hỏi:
+ Bài thơ là cảm xúc của tác giả về con người hay sự việc, hiện tượng nào?
+ Có mấy ý thơ? (có thể tìm ý bằng cách cắt ngang hay bổ dọc).
+ Từng ý thơ đã được diễn đạt bằng những từ ngữ đặc sắc, những hình ảnh đẹp đẽ,
những âm thanh nhịp điệu ra sao?
+ Giá trị đóng góp cho cuộc sống?
Dàn ý:
- Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giá của mình.
( Nếu là phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác phẩm và khái
quát nội dung cảm xúc của nó).
- Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của
đoạn thơ, bài thơ.
- Kết bài: Khái quát giá trị ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
* Dạng bài phân tích tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
Yêu cầu khi làm dạng bài này:
+ Trên cơ sở sắp xếp, phân loại các chi tiết tiêu biểu mà phân tích nhận xét từ nhiều
phía để làm sáng tỏ tính cách nhân vật.
+ Phân tích bình xét về tính cách nhân vật, tổng hợp các mặt đã phân tích thành một
nhận định khái quát, nêu bật ý nghĩa và tác dụng nhận thức, giáo dục của nhân vật.
Các bước tiến hành:
Lần lượt trả lời các câu hỏi:
+ Đề bài yêu cầu phân tích một hay một nhóm nhân vật của một hay một vài tác phẩm
nào?
+ Chọn trình tự nào để sắp xếp cho hợp lí? Những chi tiết nào biểu hiện tính cách nhân
vật?
+ Nhân vật đã góp phần thể hiện chủ đề như thế nào? Đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề
gì đặt ra trong tác phẩm?
Lưu ý: Khi lập dàn ý ở dạng bài này phải vạch hai ý chính nhất: ngoại hình và tính cách
của nhân vật. Bên cạnh đó một số yếu tố như: ngôn ngữ, hành động, cử chỉ, nội tâm mối
quan hệ với xã hội với các nhân vật khác. Tất cả các yếu tố này tựu trung lại cũng bổ trợ
và làm nổi bật tính cách của nhân vật. Song song với phân tích nội dung cần lưu ý và
nhấn mạnh đến các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Hầu hết các nhân vật trong tác phẩm Văn học thường mang tính hình tượng, đại
diện cho một tầng lớp, một thế hệ nên sau quá trình phân tích đặc điểm nhân vật cần rút
ra được thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm, qua nhân vật đó (Khái quát
bình diện Văn học).
6
Trong mỗi một ý lớn sẽ có thêm nhiều ý nhỏ hơn, cần dùng một mũi tên cho một
ý để sơ đồ hóa dàn bài của mình. Và ở mỗi ý nhỏ, cần tìm ra những dẫn chứng phù hợp
minh chứng cho những đặc điểm đó. Dẫn chứng chính là những đoạn trích trong tác
phẩm, cần học thuộc một số câu văn tiêu biểu để minh chứng cho những ý kiến đánh giá
của mình trong bài viết. Qua phân tích những dẫn chứng đó nhân vật sẽ hiện lên với đầy
đủ tính cách, chân thực và sống động.
c3. Kiểu bài so sánh Văn học.
Yêu cầu khi làm dạng bài này:
nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)
7
+ Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã
hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của
thời kì Văn học…( bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập
luận phân tích)
- Kết bài:
+ Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
+ Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
c4. Kiểu bài nghị luận tổng hợp về một vấn đề Văn học
(VD: Tình yêu quê hương, đất nước qua các văn bản biểu cảm hiện đại đã được học
trong chương trình Ngữ văn lớp 9), HS cần đi từ vấn đề bao quát nhất: Thế nào là tình
yêu Tổ quốc? Sau đó đi vào chứng minh những biểu hiện cụ thể của tình yêu Tổ quốc
trong các tác phẩm thơ hiện đại trong Ngữ văn 9: Tình yêu Tổ quốc của con người Việt
Nam trong chiến đấu; Tình yêu Tổ quốc của con người Việt Nam trong lao động; Tình
yêu Tổ quốc là tình yêu mến lãnh tụ, thành kính với lãnh tụ; Tình yêu Tổ quốc cũng là
tình yêu thiên nhiên quê hương tươi đẹp.
Dàn ý: căn cứ vào từng đề bài để có cách triển khai cụ thể.
2. Kiến thức nâng cao, mở rộng.
- Trăng trong thơ hiện đại Việt Nam qua một số văn bản đã học trong SGK Ngữ Văn 9
–tập I.
- Phân tích, so sánh hình ảnh trăng (vầng trăng, mảnh trăng, ánh trăng) trong ba bài thơ:
“Đồng chí”, “Đoàn thuyền đánh cá”, “Ánh trăng”.
- Nét đẹp của thế hệ trẻ qua hình ảnh người lính trong văn bản Bài thơ Tiểu đội xe
không kính và anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa.
- Hình ảnh con người Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ qua các tác phẩm
truyện ngắn được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở.
- Hình ảnh con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong công cuộc
xây dựng cuộc sống mới qua hai tác phẩm “Làng” của Kim Lân và “Lặng lẽ Sa Pa” của
Nguyễn Thành Long.
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa là kết quả trong chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè
năm 1970, sau này in trong tập Giữa trong xanh (1972) của Nguyễn Thành Long. Đây
là một truyện ngắn tiêu biểu ở đề tài viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đến với truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa pa”, ta không chỉ thán phục
những con người làm việc quên mình vì người khác, vì tổ quốc mà còn say sưa, ngây
ngất trong chất men say trữ tình lãng mạn của một thiên nhiên nên thơ qua những trang
viết rất mực tài hoa. Phải nói rằng một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và góp
phần thành công cho truyện ngắn này là chất trữ tình.Vì thế đã có ý kiến cho rằng đây
là một truyện ngắn đầy chất thơ, chất chữ tình.
Truyện ngắn có cốt truyện khá đơn giản, chỉ tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ
giữa ông hoạ sĩ, cô kĩ sư trẻ và anh thanh niên- nhân vật chính của tác phẩm trên đỉnh
Yên Sơn cao 2600mét. Giữa khung cảnh thiên nhiên Sa pa đẹp như một bức tranh.
Chất thơ bàng bạc toát lên từ khung cảnh thiên nhiên nên thơ ấy. Sa Pa được
miêu tả dưới một góc nhìn của một nhà hội hoạ. Nói đến Sa Pa, người ta sẽ nghĩ ngay
đến một nơi nghỉ ngơi, yên tĩnh và tuyệt đẹp. Nghĩ ngay đến những rừng hoa ban trắng
muốt, những cánh rừng bạt ngàn dưới ánh nắng ban mai, những đồi núi trập trùng dưới
sương mờ bao phủ, những thửa ruộng bậc thang, những phiên chợ tình lãng mạn
Thiên nhiên Sa Pa dưới ngòi bút của Nguyễn Thành Long hiện lên cũng không kém
phần sinh động. Thật vậy, Nguyễn Thành Long đã nhập vai, đã hóa thân vào người hoạ
9
sĩ, mượn cái nhìn của nghệ thuật hội họa, mượn lăng kính đầy màu sắc để tô vẽ nên một
thiên nhiên không kém phần thơ mộng, lung linh, kì ảo, trữ tình.
Sa Pa xuất hiện đầu tiên với hình ảnh “những rặng đào” và “những đàn bò lang cổ
có đeo chuông ở các đồng cỏ trong thung lũng hai bên đường”. Đúng là Sa Pa rồi! Bạn
đã nhận ra chưa? Còn người hoạ sĩ thì đã nhận ra cảnh quan ấy để rồi tơ tưởng đến một
ngày được về ở hẳn nơi ấy. Chỉ một ước muốn ấy thôi cũng cho thấy bức tranh thiên
nhiên có sức hấp dẫn lòng người. Đẹp nhất vẫn là lúc nắng lên. Dưới ánh nắng, dường
như mọi vật đều trở nên sinh động. Ánh nắng làm cho bức tranh trở nên đầy màu sắc,
khiến con người họa sĩ và cô kĩ sư cũng nín bặt vì vẻ đẹp lạ kì của cảnh. Đến đây ta lại
như thấy cái nhìn của một nhà làm phim đang quay rất chậm và cận cảnh một bức tranh
của một con người, của một chàng trai trẻ.
Qua cái nhìn của người họa sĩ, anh thanh niên hiện lên là một “chàng trai nhỏ bé
với khuôn mặt rạng rỡ”. Anh sống trong một căn nhà ba gian, sạch sẽ với bàn ghế, sổ
sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại ở
một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách. Một cuộc
10
sống gọn gàng, ngăn nắp của một người yêu đời, say mê công việc và không lấy gì là
buồn chán cô đơn. Ngoài những giờ ốp, anh nuôi gà, trồng hoa và đọc sách. Với anh,
sách là người bạn. Cuộc sống giản dị ấy tưởng chừng giản đơn nhưng để có nó thật
không đơn giản chút nào. Bác họa sĩ già khi thấy anh thanh niên vội vội vàng vàng chạy
trước lên nhà khi mời khách lên chơi đã thoáng có ý nghĩ như vậy. “Khách tới nhà bất
ngờ, Chắc cu cậu chưa kịp quét tước, dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn”. Nhưng
người họa sĩ lấy lại được dịp ngạc nhiên khi bước lên khỏi bậc thang, thấy người con
trai đang hái hoa. “Còn cô kĩ sư chỉ kịp “ồ” lên một tiếng!”.“Sau gần hai ngày, qua
ngót bốn trăm cây số đường dài cách xa Hà Nội, đứng trong mây mù ngang tầm với
chiếc cầu vồng kia, bổng nhiên lại gặp hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng
phấn, tổ ong ngay lúc dưới kia là mùa hè” làm cô gái quên cả e thẹn. Cuộc gặp gỡ
tình cờ mà rất đỗi tự nhiên khiến chàng trai cũng nhẹ nhàng, tự nhiên trao tặng cô gái bó
hoa và cô gái cũng nhẹ nhàng đón nhận. Đọc đến đây em bất giác suy nghĩ: phải chăng
chính khung cảnh thiên nhiên thơ mộng trữ tình ấy đã tạo nền cho cuộc gặp gỡ thơ
mộng trữ tình kia, phải chăng chính cái luống hoa đầy màu sắc như tình cảm muôn màu
của anh thanh niên đã kia “cám dỗ” tâm hồn cô kĩ sư đang có nhiều tâm sự? Để rồi cô
mở lòng ra đón nhận tình cảm chân thành từ anh, một chàng trai xa lạ một cách tự nhiên
cởi mở như một người bạn thân quen đã xa cách lâu ngày nhẹ nhàng và quyến rũ. Cái
chất men ấy cứ bàng bạc lòng người, bàng bạc đến cuối cuộc chia tay. Để rồi cô gái ấy
đã để lại lòng mình cùng với chiếc khăn tay, để rồi chàng trai không hiểu ý, vô tình đem
trả lại Tất cả không qua khỏi con mắt của người nghệ sĩ. Hay tất cả đều được nhìn qua
lăng kính của một người nghệ sĩ nên thật lãng mạn, thật nên thơ, một cái gì đó thoáng
qua, một cái gì đó sương khói mà sao vẫn để lại dư âm vang mãi trong lòng người. Có
khi những điều tưởng chừng nhỏ nhoi ấy lại có sức khơi gợi làm thay đổi một cách
cho cuộc đời.
Có thể nói, truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa có dáng dấp của một bài thơ, chất thơ bàng
bạc trong toàn truyện, từ phong cảnh vùng núi cao đến hình ảnh những con người sống
và làm việc trong cái lặng lẽ mà không hề cô độc, bởi sự gắn bó của họ với đất nước,
với mọi người. Nếu như đến với “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam người đọc cảm
nhận được chất trữ tình toát lên từ tình người đầm ấm của cậu bé Sơn, của vú già, của
mẹ Sơn qua những cử chỉ yêu thương, ấm áp tình người trong mùa gió lạnh thì đến với
Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long ta lại cảm nhận cũng cái tình người ấm áp ấy
qua cuộc gặp gỡ đầy tình cờ và bất ngờ giữa những con người ở cái nơi heo hút tưởng
chừng chỉ có núi đồi, và yên lặng. Ta bắt gặp hình ảnh những con người chỉ mới thoáng
qua thôi, không để lại tên tuổi, quê quán, chỉ biết họ là anh thanh niên, ông kĩ sư chuyên
nghiên cứu vườn rau để thụ phấn cho cây su hào, nhà nghiên cứu bản đồ sét Họ sống
và làm việc một cách âm thầm, lặng lẽ mà không hề tẻ nhạt. Niềm say mê lao động, sự
hăng hái nhiệt tình trong cách sống, tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên của họ đã
để lại trong lòng người đọc bao suy nghĩ, trăn trở về cuộc đời. Lối sống của họ khiến ta
nghĩ đến lời ca đầy tính triết lí và quen thuộc trong bài hát “Một đời người, một rừng
cây” của tác giả Trần Long Ẩn: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng. Gian khổ sẽ giành
phần ai ? Ai cũng một thời trẻ trai, cũng thường nghĩ về đời mình.”.
Truyện đã thành công trong cách xây dựng tình huống hợp lí, tự nhiên mà hết sức
bất ngờ, trong cách kể chuyện giản dị, trong cách miêu tả con người, cảnh vật dưới
nhiều điểm nhìn. Ở đây ta thấy có hai nhân vật thường xuyên suy ngẫm, thường nhìn
nhân vật chính - hai nhân vật đại diện cho hai thế hệ, hai cách suy nghĩ khác nhau. Để
rồi chân dung nhân vật dần dần được khắc họa. Ngôn ngữ đậm chất hội họa, trữ tình
cũng là một trong những thành công của thiên truyện.
Sa Pa lặng lẽ mà trữ tình, lãng mạn. Sa Pa lặng lẽ mà không cô quạnh, đìu hiu. Bởi
nơi đây, vẫn còn có rất nhiều những con người ngày đêm âm thầm lặng lẽ dâng hiến
tuổi trẻ, trí tuệ và niềm say mê lao động của mình cho đất nước, cho cuộc đời. Hãy làm
những việc bình thường bằng một niềm tin phi thường bạn nhé! Chính tình yêu cuộc
sống, sự say mê lao động sẽ đem đến cho bạn những giây phút thăng hoa. Chính niềm
say mê sáng tạo mà Nguyễn Thành Long đã mang đến cho ta một áng văn thấm đẫm
+ Cá đi trên biển là cá dệt biển:
“ Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng”
+ Cá vào lưới là cá dệt lưới:
“ Đến dệt lưới ta, đàn cá ơi”
* Biển hùng vĩ, công việc lao động đánh cá thật hùng tráng:
- Biển hùng vĩ với gió, trăng, mây, với chiều cao, chiều rộng, chiều sâu:
“ Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển”.
- Công việc lao động đánh cá trên biển thật hùng tráng:
13
+ Thuyền đánh cá có gió làm lái, trăng làm buồm và lướt giữa cái mênh mông bao la
của trời, biển giữa mây cao và biển bằng.
+ Công việc đánh cá là thăm dò tài nguyên của biển (dò bụng biển), là:
“Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.
Con người làm chủ thiên nhiên làm chủ công việc lao động
* Biển đẹp và ân tình; công việc lao động đánh cá đầy thi vị lãng mạn và hết sức
hào hùng:
- Biển đẹp và ân tình:
+ Biển đẹp. Đó là cái đẹp “lấp lánh” của những con cá biển:
“ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”.
Con cá song đã đẹp, lại càng đẹp trong một cảnh biển đẹp:
“ Cá đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: sao lùa, nước Hạ Long”.
+ Biển ân tình như lòng mẹ:
“ Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tựa buổi nào”.
- Công việc lao động đánh cá trên biển thật đầy thi vị lãng mạng và hết sức hào hùng:
+ Cảnh lao động đánh cá đầy thi vi lãng mạn:
“ Ta hát bài cá gọi cá vào
VD 2: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiệu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
Từ đó, em hãy phát biểu suy nghĩ của mình về sự kế thừa của tuổi trẻ hôm nay với
tuổi trẻ cha anh.
Dàn ý
a) Mở bài:
- Trong những năm tháng gay go, quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, từ tuyến đường Trường Sơn đầy bom rơi đạn nổ, nhà thơ Phạm Tuyến Duật đồng
thời cũng là anh bộ đội đã viết những bài thơ ca ngợi người lính trên chiến trường với
một phong cách thơ riêng biệt, độc đáo. Thơ của anh đã được đánh giá cao.
- Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Trích trong tập Vầng trăng-Quầng lửa)
là một trong những bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong lòng người đọc về hình ảnh
những người lính và sự kế thừa của biết bao thế hệ.
b)Thân bài
b1) Hình tượng thơ gắn liền với cái đẹp, vẻ chau chuốt sự kì vĩ đi cùng năm tháng
đó chính là hình ảnh những chiếc xe không kính.
- Bình thường, những chiếc xe không kính không thể gọi là cái đẹp, ấy thế mà tác giả đã
lấy hình tượng đó làm cảm hứng xuyên suốt của bài thơ. Hình tượng độc đáo nhưng hợp
lý này đã có tác dụng gây ấn tượng mạnh, là cơ sở để làm nổi bật phẩm chất dũng cảm,
sự lạc quan và quyết tâm dành chiến thắng của anh lính lái xe thời chống Mĩ.
- Hình tượng những chiếc “xe không kính” đã gợi lên những nguy hiểm cận kề. Những
“ bom giật, bom rung” làm vỡ kính xe. Sự hi sinh, cái chết đã ở đâu đó, rất gần những
người lính.
Lời thơ bình dị:
“ Không kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…”
15
- Hình tượng những chiếc xe không kính cũng đã góp phần cụ thể hóa những khó khăn
gian khổ mà anh bộ đội lái xe phải chịu đựng:
“Không có kính, ừ thì có bụi,
………………………………….
“Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”;
“Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
16
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”
- Ngôn ngữ bình dị, âm điệu vui thể hiện niềm lạc quan yêu đời của tuổi trẻ sống có lý
tưởng.
- Tư thế hiên ngang, lòng dũng cảm đã làm nên sức mạnh của anh bộ đội. Sức mạnh ấy
còn được nhân lên gấp bội vì cạnh anh còn có cả tập thể anh hùng. Từ trong bom đạn
hiểm nguy, “tiểu đội xe không kính” được hình thành, bao gồm những con người từ bốn
phương chung lý tưởng, gặp nhau thành bạn bè:
“ Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.
Các anh đã cùng chung niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ, của tình đồng đội, tình đồng
chí. - Hình ảnh sinh hoạt ấm tình đồng đội:
“ Chung bát đũa nghĩa là gia đình
Võng mắc chông chênh đường xe chạy”.
Những câu thơ này như tái hiện được những âm điệu vui tươi của bài hát “ Năm
anh em trên một chiếc xe tăng”. Tuy mỗi người một tính nhưng ta chung một lòng.
- Đọc những câu thơ tiếp theo, ta thấy rõ khó khăn gian khổ càng nhiều hơn chiến tranh
càng ác liệt hơn:
“ Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước”.
- Nhưng dù khó khăn ác liệt đến mấy, ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột thịt của anh bộ
đội vẫn không hề lay chuyển: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”. Hình ảnh “Chỉ
cần trong xe có một trái tim” của bài thơ đã nêu bật được lòng yêu nước và ý chí quyết
tâm dành chiến thắng của các anh.
* Đánh giá chung về sự suy ngẫm liên tưởng đến thế hệ trẻ hôm nay và thế hệ cha
ông đi trước.
- Bài thơ thành công trong việc khắc họa hình ảnh những anh bộ đội lái xe trên tuyến
cách vô tư hồn nhiên, âm và thầm lặng lẽ. Anh thanh niên - nhân vật chính của truyện -
chỉ hiện ra trong chốc lát nhưng để lại cho các nhân vật khác trong truyện và bạn đọc
những tình cảm tốt đẹp.
b1) Nhân vật anh thanh niên.
- Anh thanh niên là nhân vật chính chỉ hiện ra trong chốc lát, đủ để các nhân vật khác
kịp ghi nhận một ấn tượng, một kí hoạ chân dung về anh rồi dường như anh lại khuất
lấp vào trong mây mù bạt ngàn và cái lặng lẽ muôn thủa của núi cao Sa Pa. “ Trong cái
lặng im của Sa Pa…, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”.
Nhân vật anh thanh niên được hiện ra qua sự nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá của của các
nhân vật khác: bác lái xe, ông họa sĩ, cô kĩ sư. Qua cách nhìn và cảm xúc của mỗi
người, hình ảnh anh thanh niên thêm rõ nét và đáng mến hơn.
* Hoàn cảnh sống và làm việc: một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa
cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo
chấn động mặt đất, tham dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất,
phục vụ chiến đấu”. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách
nhiệm cao (nửa đêm đúng giờ ốp thì dù mưa tuyết, giá lạnh thế nào cũng phải trở dậy ra
ngoài trời làm công việc đã qui định). Nhưng cái gian khổ nhất là phải vượt qua được sự
cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng
người – một hoàn cảnh thật đặc biệt.
* Vẻ đẹp trong tính cách của người thanh niên:
- Trước hết đó là ý thức về công việc và lòng yêu nghề, thấy được ý nghĩa cao quí trong
công việc thầm lặng của mình. Anh không tô đậm cái gian khổ của công việc, nhưng
anh nhấn mạnh niềm hạnh phúc khi biết được mình góp phần phát hiện kịp thời một
đám mây khô mà nhờ đó “không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm
Rồng”.
18
- Anh đã có những suy nghĩ thật đúng, thật giản dị mà sâu sắc về công việc, về cuộc
sống. Có lẽ đây là những tâm sự chân thành và sâu sắc nhất của anh: “Hồi chưa vào
nghề, những đêm bầu trời đen kịt…mình vì ai mà làm việc”. Dù một mình nhưng anh tự
hiểu mình đang cùng với bao nhiêu người khác làm việc, làm việc vì con người, vì cuộc
- Bác lái xe: Qua lời kể của nhân vật này, cô gái và ông hoạ sĩ trong truyện cũng như
người đọc được kích thích sự chú ý, đón chờ sự xuất hiện của anh thanh niên. Cũng qua
lời kể của bác mà ta biết được những nét sơ lược về nhân vật chính và nỗi thèm người
của anh khi mới lên sống một mình trên đỉnh núi cao quanh năm suốt tháng lạnh lẽo chỉ
có cỏ cây và mây mù
- Nhân vật ông hoạ sĩ:
19
+ Ngay từ phút đầu gặp anh thanh niên, bằng sự từng trải nghề nghiệp và niềm khao
khát của người nghệ sĩ đi tìm đối tượng của nghệ thuật, ông đã xúc động và bối rối: “Vì
họa sĩ đã bắt gặp một điều thật ra ông vẫn ao ước được biết, ôi một nét thôi đủ khẳng
định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác”
+ Ông hoạ sĩ muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng một nét bút kí hoạ và “Người
con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho người
ta suy nghĩ về anh và về những điều anh suy nghĩ”.
Những cảm xúc suy tư của nhân vật hoạ sĩ về người thanh niên và về những điều
khác nữa được gợi lên từ câu chuyện của anh thanh niên đã làm cho chân dung nhân vật
chính thêm sáng đẹp và chứa đựng chiều sâu tư tưởng.
- Nhân vật cô kĩ sư :
+ Cuộc gặp gỡ bất ngờ với anh thanh niên, những điều anh nói, cả chuyện anh kể về
những người khác đa khiến cô bàng hoàng, “cô hiểu thêm cuộc sống một mình dũng
cảm tuyệt đẹp của người thanh niên, về cái thế giới những con người như anh” và quan
trọng hơn nữa về con đường mà cô đã lựa chọn, cô đang đi tới (việc lên công tác ở miền
núi). Đây là cái bàng hoàng đáng lẽ cô phải biết khi yêu, nhưng bây giờ cô mới biết, nó
còn giúp cô đánh giá đúng hơn mối tình nhạt nhẽo mà cô đã từ bỏ và yên tâm hơn về
quyết định của mình. Đó là sự bừng dậy của những tình cảm lớn lao cao đẹp khi người
ta gặp được những ánh sáng đẹp đẽ tỏa ra từ cuộc sống tâm hồn người khác.
+ Cùng với sự bàng hoàng ấy là một tình cảm hàm ơn với người thanh niên, không phải
chỉ vì bó hoa to mà anh tặng cô một cách hết sức vô tư, mà còn vì “một bó hoa nào
khác nữa, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên anh cho thêm cô”.
Tóm lại, thông qua những cảm xúc và suy nghĩ cùng thái độ cảm mến của những
VD: Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của
Lê Minh Khuê.
Lê Minh Khuê là một cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn. Trưởng thành trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, ngòi bút của bà trong chiến tranh luôn hướng
về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ trên tuyến đường Trường Sơn. Truyện ngắn “Những
ngôi sao xa xôi” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà viết về đề tài này. Tác
phẩm được bà sáng tác vào năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc diễn
ra hết sức ác liệt. Truyện ngắn là một bức tranh sinh động về cuộc kháng chiến với
những ngôi sao mà ánh sáng của nó chiếu rọi trong lòng ta – ánh sáng của chủ nghĩa
anh hùng cách mạng. Đó là những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường
Trường Sơn với những vẻ đẹp kì diệu của tâm hồn, lòng dũng cảm và tình đồng đội thân
thương, tiêu biểu là nhân vật Phương Định- nhân vật chính của truyện.
Truyện xoay quanh nhân vật chính là Phương Định – một cô gái Hà Nội gốc,
lãng mạn và mơ mộng xung phong vào chiến trường. Cô sống cùng đồng đội, Thao,
Nho, trên cao điểm, giữa một vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn. Công việc
của họ tuy vất vả và nguy hiểm nhưng các cô vẫn có những giây phút hồn nhiên, thơ
mộng của tuổi trẻ. Trong một lần phá bom, Nho bị thương, Phương Định và Thao đã
chăm sóc rất tận tình. Cũng là lúc có một trận mưa đá ào xuống, Phương Định được
sống lại với niềm vui trẻ thơ và cô lại nhớ về thành phố và gia đình. Các cô có hoàn
cảnh sống và chiến đấu rất khó khăn, gian khổ. Họ sống trên một cao điểm, trọng điểm
ở tuyến đường Trường Sơn giữa mênh mông khói bụi và bom đạn hủy diệt của kẻ thù.
Công việc của họ là “đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần
thì phá bom”. Các cô phải đối diện với thần chết từng phút, từng giờ, “thần kinh căng
như chão, tim đập bất chấp cả nhip điệu chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh
có nhiều quả bom chưa nổ”. Trong lúc “đơn vị thường ra đường vào lúc mặt trời lặn và
làm việc có khi suốt đêm” thì các cô, tổ trinh sát mặt đường, phải chạy trên cao điểm cả
ban ngày, dưới cái nóng trên 30 độ. Từ cao điểm trở về, mặt các cô ai cũng “hai con
mắt lấp lánh”,“cười thì hàm răng lóa lên khuôn mặt nhem nhuốc”. Nhiệm vụ của họ
thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ, hi sinh, thể hiện phần nào hiện thực cuộc
chiến đầy khắc nghiệt. Và cũng từ đó, ta thấy sáng ngời lên tinh thần yêu nước, đầy quả
bầu không khí ngột ngạt ở bên ngoài hang và cũng làm dịu mát tâm hồn Phương Định
và đồng đội sau những căng thẳng của một trận chiến đấu. Nó đánh thức dậy sự hồn
nhiên, vô tư của tuổi trẻ và gợi về những kỷ niệm tuổi thơ và những trận mưa thành phố
nơi quê hương. Tất cả mọi kỉ niệm đẹp nhất ở thành phố Hà Nội, về mẹ, về tuổi thiếu nữ
trong sáng, vô tư như ùa về, xoáy mạnh trong lòng cô gái. Chính những kỉ niệm đó đã
làm dịu mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh.
Cũng như bao cô gái thanh niên xung phong khác, ở Phương Định nổi bật lên
tinh thần dũng cảm gan dạ, thái độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy. Điều đó được
thể hiện cụ thể qua một lần phá bom trên cao điểm ở Trường Sơn. Sau những đợt thả
bom của giặc, Định cùng đồng đội chạy lên cao điểm để làm nhiệm vụ, nơi vẫn còn có
những quả bom chưa nổ. Không gian lúc đó vắng lặng đến phát sợ. Nhưng cô không hề
sợ hãi. Cô có cảm giác như các chiến sĩ đang dõi theo mình, vì vậy mà cô cảm thấy an
tâm hơn. Cô quyết định không đi khom, bởi một lý do rất đơn giản “Các anh ấy không
thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới.” Cảm giác ấy vừa thể
hiện lòng tự trọng, vừa là ý chí mạnh mẽ giúp cô dũng cảm vượt qua mọi hiểm nguy.
Phương Định “dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom”. Quả bom nằm lạnh lùng. Lưỡi
xẻng thỉnh thoảng lại chạm vào quả bom, một tiếng động sắc đến gai người vang lên,
cứa vào da thịt cô. “Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên
một tí. Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Cách miêu tả của tác giả thật tài
tình, khiến cho người đọc cũng có thể cảm nhận được âm thanh của hai vật bằng sắt
chạm vào nhau rồi lại cảm thấy rùng mình như Định, càng thấy rõ hơn sự bình tĩnh, gan
22
dạ của cô. Những lúc đối mặt với quả bom sắt lạnh lùng, cô cũng có nghĩ đến cái chết.
“Nhưng một cái chết rất mờ nhạt, không cụ thể”. Đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Còn
điều mà cô quan tâm lúc này là “liệu mìn có nổ không, bom có nổ không? Không thì
làm cách nào để châm mìn lần thứ hai”. Trong suy nghĩ của Định, cô luôn cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ thật tốt dù có phải hi sinh. Cảm xúc, suy nghĩ chân thật ấy của cô đã
truyền sang người đọc nhiều đồng cảm, yêu mến, trân trọng và kính phục. Chính nhờ
sự gan góc, dũng cảm và tinh thần trách nhiệm cao đã giúp Định thực hiện tốt công
việc của mình. Một cô gái như muôn ngàn cô gái khác trên tuyến đường Trường
Như vậy, thành công nhất trong truyện là nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý
nhân vật. Truyện được miêu tả theo ngôi thứ nhất, cũng là nhân vật chính, tạo điều kiện
để tác giả tập trung miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật chính, làm cho câu chuyện
diễn tả một cách chân thật, tự nhiên cảm xúc, tâm trạng của những người chiến sĩ. Nhan
đề truyện xuất phát từ ánh nhìn của Phương Định, những ngôi sao xa xăm trên bầu trời
gợi nhiều cảm xúc. Bên cạnh đó, vẻ đẹp tâm hồn của ba cô gái thật lấp lánh, lãng mạn
giữa hiện thực khắc nghiệt như những ngôi sao xa xôi, lấp lánh trên bầu trời cao rộng.
23
Trường Sơn là nơi thử thách ý chí, khí phách con người Việt Nam. Chính những con
người như Phương Định, Thao, Nho đã xướng nên bài ca tuyệt đẹp của “những bông
hoa trên tuyến lửa” anh hùng. Truyện hấp dẫn người đọc ở cách tạo tình huống cam go
căng thẳng của cuộc kháng chiến. Cách tạo tình huống không chỉ làm nổi bật tính cách,
tâm hồn các nhân vật mà còn góp phần làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của truyện. Đặc
biệt Lê Minh Khuê đã sử dụng rất thành công các kiểu câu văn ngắn, câu rút gọn, câu
đặc biệt… để diễn tả không khí căng thẳng, ác liệt của chiến trường. Giữa sự ác liệt của
chiến tranh, vẻ đẹp của họ vẫn tỏa sáng. Sức trẻ, lòng yêu nước, khát vọng hòa bình
đã tạo nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Họ vốn chỉ là
những con người rất đỗi bình thường nhưng đã góp phần tạo nên những kì tích anh
hùng cho dân tộc.
Tóm lại, truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong
mọi người hình ảnh tuyệt đẹp của những cô gái thanh niên xung phong thời kháng chiến
chống Mỹ với tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu
đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan. Phương Định, tuy chỉ là một ngôi
sao bé nhỏ, nhưng sẽ luôn tỏa sáng, sáng lấp lánh trên bầu trời Việt Nam. Các cô mãi là
những hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Vẻ
đẹp của Phương Định như gợi nhắc ở người đọc về những hy sinh mất mát của cả dân
tộc trong chiến tranh.
3. Kiểu bài so sánh Văn học.
VD 1: Đánh giá về hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ, có ý kiến nhận xét như sau:
“Hai bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu) và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
chiến thắng (đôi tri kỉ, đồng chí, tay nắm lấy bàn tay, bắt tay qua cửa kính vỡ, chung bát
đũa…).
- Đặc biệt là họ còn rất trẻ. Họ mang sức mạnh vinh quang từ ngàn xưa của dân tộc, sức
mạnh tuổi xuân của họ vừa phi thường, vừa lãng mạn…
- Tiểu kết: Họ có bản chất tốt đẹp của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam với nhân
cách truyền thống cao đẹp nhất của chủ nghĩa anh hùng dân tộc.
* Tuy nhiên họ lại có những nét riêng có tính chất phân định về hình tượng anh bộ
đội Cụ Hồ trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Điều này được
thể hiện ở nội dung và nghệ thuật thơ của mỗi tác giả:
- Hai bài thơ có sự riêng biệt về chủ đề (Phân tích và nêu dẫn chứng).
- Hai bài thơ với hai hình ảnh người chiến sĩ cách mạng với hai hoàn cảnh xuất thân
khác nhau (phân tích và nêu dẫn chứng).
- Hai bài thơ hiện lên những tâm tư, tình cảm của những người lính, người chiến sĩ cách
mạng cũng có sự khác nhau rõ rệt (phân tích và nêu dẫn chứng).
- Họ có hoàn cảnh và thái độ chiến đấu khác nhau trong gian khổ (phân tích và nêu dẫn
chứng).
- Những người chiến sĩ có thái độ khác nhau đối với nhiệm vụ. (phân tích và nêu dẫn
chứng).
- Sự phân định khác nhau về nội dung chủ đề.
- Sự khác nhau về cảm hứng nghệ thuật.
- Sự khác nhau trong việc tạo ra các nét tương phản chủ yếu.
- Sự khác nhau trong việc tạo ra những hình ảnh thơ độc đáo.
- Sự khác nhau về cách nói ẩn dụ.
- Sự khác nhau về mức độ thành công của hai bài thơ và hai hình tượng anh bộ đội Cụ
Hồ.
* Lí giải sự khác biệt: Những nét khác nhau mang tính chất phân định chính là biểu
hiện sinh động từ cái chung, tạo nên sự đa dạng và sâu sắc trong hình tượng người chiến
sĩ. Nguyên nhân dẫn đến sự phân định rõ rệt này là do đặc điểm hoàn cảnh lịch sử chi
25