BỒI DƯỠNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH BÀI TOÁN HOÁ HỌC CHO HỌC SINH GIỎI - Pdf 26

SKKN – Nguyễn Đình Hành

MỤC LỤC
Nội dung đề tài Trang
LỜI CẢM ƠN 2
A- PHẦN MỞ ĐẦU 3
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 3
II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 3
III-ĐỐI TƯNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: 3
1- Đối tượng nghiên cứu : 3
2- Khách thể nghiên cứu : 3
IV-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 4
V- PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 4
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4
1- Phương pháp chủ yếu: 4
2-Các phương pháp hỗ trợ: 4
B- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 6
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH MỘT SỐ BÀI TOÁN HOÁ HỌC 6
II- THỰC TIỄN VỀ TRÌNH ĐỘ VÀ VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 7
1-Thực trạng chung: 7
2- Chuẩn bò thực hiện đề tài: 7
III- KINH NGHIỆM VẬN DỤNG ĐỀ TÀI VÀO THỰC TIỄN 8
CHỦ ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP TỰ DO CHỌN LƯNG CHẤT 8
CHỦ ĐỀ 2: PHƯƠNG PHÁP KHỐI LƯNG MOL TRUNG BÌNH 10
CHỦ ĐỀ 3 : PHƯƠNG PHÁP TĂNG GIẢM KHỐI LƯNG 12
CHỦ ĐỀ 4: PHƯƠNG PHÁP TÍNH THEO LƯNG CỦA NGUYÊN TỬ HOẶC NHÓM NGUYÊN TỬ
15
CHỦ ĐỀ 5: PHƯƠNG PHÁP HP THỨC 17

Trang 2
SKKN – Nguyễn Đình Hành

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Dạy và học hóa học ở các trường hiện nay đã và đang được đổi mới tích cực nhằm
góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của trường THCS. Mục tiêu của đổi mới
phương pháp dạy học nhằm đào tạo và bồi dưỡng con người mới phát triển toàn diện, có
đủ kiến thức khoa học, có năng lực thực hành và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Để thực hiện mục tiêu đó, các nhà trường luôn chú trọng đến việc bồi dưỡng học sinh,
tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, có ý thức
vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Ngoài nhiệm
vụ nâng cao chất lượng bồi dưỡng đại trà nhà trường còn phải chú trọng đến công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi, coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh.
Đây là một nhiệm vụ không phải đòa phương nào cũng có thể làm tốt vì nhiều lý do khác
nhau. Có thể nêu ra một số lý do như: do môn học mới mẻ nên kiến thức kỹ năng của học
sinh còn nhiều chỗ khuyết; còn nhiều giáo viên chưa có đủ các tư liệu hoặc thiếu kinh
nghiệm để đảm nhiệm công việc dạy học sinh giỏi …
Là một giáo viên thường xuyên tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã có
dòp trao đổi kinh nghiệm với nhiều đồng nghiệp ( ở An Khê và ĐakPơ ), tiếp xúc với
nhiều thế hệ học trò tôi nhận thấy kinh nghiệm giải toán hoá học của các em khi vào đội
tuyển còn nhiều hạn chế, trình bày lời giải còn nhiều lúng túng, dài dòng gây mất nhiều
thời gian. Điều đó làm cho các em khó đạt kết quả cao trong các kỳ thi học sinh giỏi. Từ
những khó khăn vướng mắc, vì mong muốn đạt kết quả cao, tôi đã sưu tầm các tài liệu
;tìm tòi; nghiên cứu và đã tích luỹ được một số kinh nghiệm giúp học sinh giải các bài
toán hoá học một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Với những lý do trên tôi đã chọn và áp dụng đề tài “ BỒI DƯỢNG CÁC PHƯƠNG

cứu giới hạn trong phạm vi huyện ĐakPơ. Về mặt kiến thức kỹ năng, đề tài chỉ nghiên
cứu 5 chủ đề về các phương pháp giải bài toán hoá học.Các ví dụ nêu trong mỗi chủ đề
chỉ đề cập đến phần bài tập vô cơ có nội dung rất ngắn gọn.
VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Phương pháp chủ yếu:
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là
tổng kết kinh nghiệm, được thực hiện theo các bước:
• Xác đònh đối tượng: xuất phát từ những khó khăn vướng mắc trong khi làm nhiệm
vụ bồi dưỡng HS giỏi, tôi xác đònh cần phải nghiên cứu tích luỹ kinh nghiệm về phương
pháp giải nhanh các bài tập hoá học để bồi dưỡng cho học sinh giỏi. Qua việc áp dụng đề
tài để đúc rút, tổng kết kinh nghiệm.
• Phát triển đề tài và đúc kết kinh nghiệm : Một số năm học trước đây, trong các đề
thi học sinh giỏi huyện cũng như tỉnh đều có các bài tập thuộc nội dung của đề tài tôi
đang nghiên cứu. Lúc đó đã có nhiều em bế tắc vì không tìm ra hướng giải, hoặc thực
hiện bài giải quá dài dòng dẫn đến việc không còn đủ thời gian để giải các phần khác
trong đề thi. Trước thực trạng đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài này.
Trong quá trình vận dụng đề tài, tôi đã suy nghó tìm tòi, học hỏi và áp dụng nhiều
biện pháp. Ví dụ như : tổ chức trao đổi trong tổ bồi dưỡng, trò chuyện cùng HS, thể
nghiệm đề tài, kiểm tra và đánh giá kết quả dạy và học những nội dung trong đề tài. Đến
nay, trình độ kỹ năng giải các bài tập hoá học của các lớp học sinh giỏi được nâng cao
đáng kể.
2-Các phương pháp hỗ trợ:
Ngoài các phương pháp chủ yếu, tôi còn dùng một số phương pháp hỗ trợ khác như
phương pháp nghiên cứu tài liệu và điều tra nghiên cứu:
Đối tượng điều tra: Các HS giỏi đã được phòng giáo dục gọi vào đội tuyển, đội ngũ
giáo viên tham gia bồi dưỡng HS giỏi, và một số giáo viên có kinh nghiệm khác.

Trang 4
Tôi nghó, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ không đạt được mục
đích nếu không biết chọn lọc những phương pháp giải toán thông minh, nêu ra đặc điểm
của phương pháp và nguyên tắc áp dụng. Các phương pháp này là cẩm nang giúp học
sinh biết tìm hướng giải dễ dàng, hạn chế tối đa những sai lầm trong quá trình giải bài
tập, đồng thời phát triển tìm lực trí tuệ cho học sinh ( thông qua các bài tập tương tự mẫu
và các bài tập vượt mẫu ).
Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin được mạn phép trình bày kinh nghiệm bồi
dưỡng một số phương pháp giải nhanh các bài tập hoá học cho học sinh giỏi. Nội dung đề
tài được sắp xếp theo 5 chủ đề, mỗi chủ đề có nêu nguyên tắc áp dụng và các ví dụ minh
hoạ. Sau đây là tên một số phương pháp giải bài tập hoá học được thể hiện trong đề tài:
1) Phương pháp tự do chọn lượng chất.
2) Phương pháp khối lượng mol trung bình.
3) Phương pháp tăng giảm khối lượng.
4) Phương pháp tính theo lượng của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử.
5) Phương pháp hợp thức.

Trang 6
SKKN – Nguyễn Đình Hành

II- THỰC TIỄN VỀ TRÌNH ĐỘ VÀ VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.

1-Thực trạng chung:
Khi chuẩn bò thực hiện đề tài, năng lực giải các bài toán hoá học của học sinh nói
chung là rất yếu. Đa số học sinh thường tỏ ra rất mệt mỏi khi phải gặp các bài tập phức
tạp như : các dạng có dữ kiện không cơ bản (tổng quát), hoặc các bài tập quá nhiều phản
ứng, hoặc các bài tập dữ kiện đề cho không rõ… Vì thế họ rất thụ động trong các buổi học
bồi dưỡng và không có hứng thú học tập. Học sinh không có sách tham khảo viết về các

bài toán hoá học ( sau khi đã nghiên cứu kỹ đề bài cho gì ? hỏi gì ? các kiến thức hoá học
có liên quan ? các mối quan hệ giữa điều kiện và yêu cầu ? xác đònh cách thức để thực
hiện các thao tác để hoàn thành yêu cầu của đề bài); gồm các bước như sau :
-Bước 1: Chuyển dữ kiện không cơ bản thành các dữ kiện cơ bản ( theo số mol )
(dữ kiện không cơ bản thường là : chất không tinh khiết, các đại lượng chưa
chuẩn về đơn vò, … )
-Bước 2: Đặt ẩn cho số mol, hoá trò, nguyên tử khối … ( Nếu cần )
-Bước 3: Viết đúng tất cả các phương trình hoá học xảy ra.
-Bước 4: Thực hiện các kỹ năng tính toán theo CTHH, theo PTHH, biện luận …
-Bước 5: Kiểm tra.
Tiếp theo, tôi tiến hành bồi dưỡng kỹ năng theo dạng. Mức độ rèn luyện từ minh
họa đến khó, nhằm bồi dưỡng học sinh phát triển kỹ năng từ biết làm đến đạt mềm dẻo,
linh hoạt và sáng tạo. Để bồi dưỡng mỗi dạng tôi thường thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Giới thiệu bài tập mẫu và hướng dẫn giải.
- Bước 2: Rút ra nguyên tắc và phương pháp áp dụng.
- Bước 3: HS tự luyện và nâng cao.
- Bước 4: Kiểm tra đánh giá theo chủ đề.
Tuỳ theo độ khó mỗi chủ đề tôi có thể hoán đổi thứ tự của bước 1 và 2.
Sau đây là một số phương pháp giải bài tập hoá học, cách nhận dạng, kinh nghiệm
giải quyết đã được tôi thực hiện và đúc kết từ thực tế. Trong giới hạn của đề tài, tôi chỉ
nêu 5 chủ đề giới thiệu 5 phương pháp thường gặp có tác dụng giúp học sinh giải được
nhiều bài toán với độ chính xác cao và tiết được nhiều thời gian.
CHỦ ĐỀ 1: PHƯƠNG PHÁP TỰ DO CHỌN LƯNG CHẤT
1) Nguyên tắc áp dụng:
GV cần cho HS nắm được một số nguyên tắc áp dụng của phương pháp này nhằm
tránh hiện tượng HS tuỳ tiện chọn lượng chất vì chưa hiểu rõ phạm vi sử dụng của nó:
- Khi gặp các bài toán có các lượng chất đề cho dưới dạng tổng quát ( dạng tỉ lệ mol,
tỉ lệ % theo thể tích, khối lượng , hoặc các lượng chất đề cho đều có chứa chung một
tham số : m (g), V(l), x(mol)…) thì các bài toán này sẽ có kết quả không phụ thuộc vào
lượng chất đã cho.

=
hoặc giả sử có 1 mol oxit
đã tham gia phản ứng.
* Giải :
Đặt công thức tổng quát của oxit là R
2
O
x
( x là hoá trò của R )
Giả sử hoà tan 1 mol R
2
O
x

R
2
O
x
+ xH
2
SO
4
→ R
2
(SO
4
)
x
+ xH
2

R
= 12x
Vì x là hoá trò của kim loại trong oxit bazơ nên : 1 ≤ x ≤ 4
Biện luận:
x 1 2 3 4
M
R
12 24 36 48
Vậy kim loại là Mg ; oxit kim loại là : MgO
Ví dụ 2:
Cho a gam dung dòch H
2
SO
4
loãng nồng độ C% tác dụng hoàn toàn với hỗn hợp 2
kim loại K và Fe ( Lấy dư so với lượng phản ứng ). Sau phản ứng, khối lượng khí sinh ra
là 0,04694 a (g). Tìm giá trò C%
* Gợi ý HS :
- GV : gợi ý cho HS phát hiện ra vì kim loại lấy dư nên toàn bộ lượng axit và nước
trong dung dòch đều phản ứng. Các lượng chất đều cho dưới dạng tổng quát ( chứa chung
tham số a ), vì vậy bài toán sẽ không phụ thuộc vào lượng a (gam ).

Trang 9
SKKN – Nguyễn Đình Hành

- HS : Nêu cách chọn lượng chất : chọn a = 100 gam.
* Giải :

K
2
SO
4
+ H
2
↑ (1)
Fe + H
2
SO
4

→
FeSO
4
+ H
2
↑ (2)
2K
(dư)
+ 2H
2
O
→
2KOH + H
2
↑ (3)
Theo các ptpư (1),(2),(3) ta có :
2 2 4 2
1 100 4,694

= =
+ +


1 1 2 2
1 2

+) Đối với hỗn hợp khí thì có thể thay các số mol n
1
,n
2
… bằng thể tích hoặc % thể
tích.
+) Nếu hỗn hợp chỉ có 2 chất khí , với x% là % thể tích của khí thứ nhất thì :
x%.M ( x%).M
M
%
+ −
=
1 2
100
100
+) Giá trò của
M
nằm trong khoảng :M
1
<
M
< M
2

hh
; n
hh
;
M
hh
).
2) Các ví dụ:
Ví dụ 1:
Hỗn hợp X gồm hai kim loại kiềm A và B thuộc hai chu kỳ liên tiếp nhau trong
bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Chia m ( gam ) hỗn hợp X làm 2 phần bằng nhau:
- Phần 1 : Hoà tan vào dung dòch HCl dư thu được một dung dòch Y. Cô cạn Y được
23,675 gam muối khan.
- Phần 2: Đốt cháy hoàn toàn thì phải dùng hết 1,96 lít khí O
2
( đktc).
a) Xác đònh hai kim loại A,B
b) Xác đònh % khối lượng của các kim loại trong hỗn hợp X.
* Gợi ý HS:
Hai kim loại có hoá trò và tính chất tương tự nên để đơn giản có thể đặt một ký hiệu
đại diện cho hỗn hợp 2 kim loại. Viết PTHH, Từ số mol O
2
và khối lượng muối khan ta tính
toán để tìm giá trò
M
hh
.
* Giải:
a) Xác đònh kim loại A,B
Đặt

32,14
4 22,4
a=0,35

M a
a
M

+ × =

 

 
= =
=




Hai kim loại kiềm liên tiếp có
M
= 32,14 thoã mãn là Na (23) và K(39)
b) Xác đònh % khối lượng của hỗn hợp X
gọi x là số mol của K

số mol Na là ( 0,35 – x ) mol
Áp dụng công thức tính khối lượng mol trung bình ta có:

Trang 11


, H
2
, NH
3
có tỉ khối hơi đối với O
2
bằng 0,425. Biết số
mol H
2
trong hỗn hợp gấp 3 lần số mol N
2
trong hỗn hợp.
Tính thành phần % theo thể tích và theo khối lượng cuả hỗn hợp khí A.
* Gợi ý HS:
- Đối với một hỗn hợp khí thì % thể tích bằng % số mol
- GV tạo cơ hội cho HS phát hiện ra ý nghóa của các mối quan hệ trong đề bài : Từ tỉ
khối hơi của hỗn hợp ta có thể tính được gì ? Từ quan hệ số mol H
2
và số mol N
2
có thể
giải quyết được điều gì ? Từ đó xác đònh các bước để giải bằng phương pháp đại số.
* Giải:
Giả sử có 1mol hỗn hợp khí A gồm : x mol N
2
, 3x mol H
2
và (1- 4x) mol NH
3
Theo đề bài ta có :

m
×
= × =
2
(3 0,1) 2
% 100 4,41%
13,6
H
m
× ×
= × =

3
% 100% (20,59 4,41) 75%
NH
m
= − + =
* Lưu ý : Có thể đặt x % là % thể tích của N
2
rồi dùng công thức (1) với tổng % là
100 %
CHỦ ĐỀ 3 : PHƯƠNG PHÁP TĂNG GIẢM KHỐI LƯNG
1) Nguyên tắc áp dụng:
-Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào sự tăng hoặc giảm khối lượng trong
quá trình làm biến đổi chất này thành chất khác. Về bản chất phương pháp này dựa trên
cơ sở của đònh luật bảo toàn khối lượng, vì vậy trong nhiều tài liệu dạy học hoá học nhiều
tác giả ví phương pháp này và phương pháp bảo toàn khối lượng như “anh em sinh đôi”.
-Phương pháp chung:

Trang 12

Ví dụ 1:
Hoà tan hoàn toàn 28,4 gam một hỗn hợp gồm 2 muối cacbonat của 2 kim loại thuộc
phân nhóm IIA ở 2 chu kỳ liên tiếp của bảng tuần hoàn trong dung dòch axit HCl, sau
phản ứng thu được một dung dòch X và 6,72 lít khí Y ( đktc).
a) Cô cạn dung dòch X thì thu được bao nhiêu gam muối khan.
b) Xác đònh 2 kim loại.
* Gợi ý HS :
- GV: Đây là bài toán rất quen thuộc mà HS có thể giải bằng phương pháp bảo toàn
khối lượng hoặc phương pháp ghép ẩn số. Tuy nhiên muốn giải nhanh chóng thì nên dùng
phương pháp tăng giảm.
- HS: Viết PTHH dạng tổng quát và tìm độ tăng khối lượng của muối theo PTHH.
* Giải:
a) Đặt công thức tổng quát cho hỗn hợp muối cacbonat là :
M
CO
3

(
M
là khối lượng mol trung bình của 2 kim loại nhóm IIA )
Phương trình phản ứng:
M
CO
3
+ 2HCl
→
M
Cl
2
+ H

Vậy khối lượng muối khan thu được là 31,7 gam
b)Khối lượng mol trung bình của 2 muối cacbonat là :
,
, M =94,67 - 60 = 34,67
,
= ⇒
28 4
94 67
0 3

Trang 13
SKKN – Nguyễn Đình Hành

Hai kim loại nhóm IIA thuộc 2 chu kỳ liên tiếp có
M
= 34,67 nên phải là Mg(24) và
Ca(40).

Trang 14
SKKN – Nguyễn Đình Hành

Ví dụ 2:
Thả một thanh kim loại Pb vào trong dung dòch muối nitrat của kim loại hoá trò II,
đến khi lượng Pb không đổi nữa thì lấy ra khỏi dung dòch, thấy khối lượng của nó giảm

→
Pb(NO
3
)
2
+ R (1)
Pb(NO
3
)
2
+ Fe
→
Fe(NO
3
)
2
+ Pb (2)
Từ đề bài nhận thấy : Lượng muối ở 2 phản ứng đều đã phản ứng hết
Theo (1): do khối lượng kim loại giảm 28,6 gam, nên :
3 2
( )
2,86
207
(mol)
Pb NO
n
R
=

Theo (2): do khối lượng kim loại tăng 130,2 -100 =30,2 gam, nên :

x
+ xH
y
G
→
R
y
G
x
+ xyH
2
O
Theo ptpư ta có :
( (
2
OH H O
của axit) = n của bazơ) = n
H
n
Vì vậy khi biết được số mol của nhóm - OH thì tìm được số mol H trong axit , số mol
H
2
O và ngược lại.

Trang 15
SKKN – Nguyễn Đình Hành



Suy ra :
2
( ) ( )
2. 2.0,76 0,57 2,09
KOH
+ n mol
OH Ba OH
n n

= = + =
Các phương trình phản ứng:
KOH + HCl
→
KCl + H
2
O
2KOH + H
2
SO
4

→
K
2
SO
4
+ H
2
O

n (của axit) = 2 n + n 2 1,1V+1,98V= 4,18V (mol)
× = ×
(2)
Từ (1),(2) ta có : 4,18 V = 2,09 ⇒ V = 0,5 lít
Ví dụ 2 :
Có 1 lít dung dòch hỗn hợp Na
2
CO
3
0,1M và (NH
4
)
2
CO
3
0,25M. Cho vào dung dòch
đó 43 gam hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
, sau khi kết thúc phản ứng thì thu được 39,7 gam kết
tủa A và dung dòch B.
a) Chứng minh hỗn hợp muối clorua đã phản ứng hết.
b) Tính % khối lượng của các chất có trong kết tủa A.
* Gợi ý HS:
Để chứng minh muối clorua phản ứng hết ta phải chứng minh hỗn hợp muối cacbonat
còn dư. Tức là số mol gốc CO
3
phản ứng < số mol gốc CO
3

3
( 0,1 0,25
gốc 2muối
ban đầu) = 0,35 mol
CO
n n
= = +

Đặt RCl
2
là công thức đại diện cho hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
. Ta có các PTPƯ :
Na
2
CO
3
+ RCl
2

→
2NaCl + RCO
3
↓ (1)

Trang 16
n n n= + = =

< 0,35
Vậy lượng (CO
3
) còn dư nên hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
đã phản ứng hết.
b) Gọi x, y là số mol của BaCO
3
và CaCO
3
trong kết tủa A, ta có:
197 100 39,7
0,3 0,2
x=0,1
A
x y
x y y
+ =
 

 
+ = =
 

Vậy :
3


vào trong V (lít) dung dòch Ca(OH)
2
0,015M đến khi
phản ứng hoàn toàn thì thu được 1 muối không tan và 1 muối tan có tỉ lệ mol 2 : 1.
Tìm V.
* Gợi ý HS:
- Có thể dùng phương pháp đại số ( đặt số mol muối tan và muối KT lần lượt là x mol,
2x mol )
- Ta có thể giải nhanh bài toán bằng cách nhập 2 phản ứng thành 1 phản ứng theo tỉ
lệ mol của muối là 2: 1
*Giải:
0,03
2
0,672
Số mol của CO = mol
22,4
=

Trang 17
SKKN – Nguyễn Đình Hành

Các phương trình phản ứng xảy ra: :
CO
2
+ Ca(OH)
2

→
2CaCO
3
↓ + Ca(HCO
3
)
2
+ 2H
2
O
4mol 3mol
0,03 mol → 0,0225 mol
Vậy thể tích của dung dòch Ca(OH)
2
0,015 M đã dùng là :

0,0225
1,5
0,015
M
n
V
C
= = =
lít
Lưu ý :
Nếu 0,672 lít khí là của hỗn hợp CO
2
và SO
2


2
/
19,2 2 38,4 = 19,2 M gam/mol
hh
Y H
d
⇒ = × =

Ta có sơ đồ đường chéo:
Khí 1(NO): n
1
30 5,6
38,4
Khí 2(N
2
O): n
2
44 8,4
Suy ra ta có :
1
2
5,6 2
8,4 3
n
n
= =
Các phương trình phản ứng :
Al + 4HNO
3

3
+ 2NO + 3N
2
O + 19H
2
O (3)
Theo phương trình (3) ta có :
1 1 10,8
0,08
5 5 27
mol
NO Al
n n
= × = × =

Trang 18
SKKN – Nguyễn Đình Hành

⇒ V
NO
= 0,08 × 22,4 = 1,792 lít ; suy ra :
2
3
1,792 2,688
2
lít
N O

mẫu; phát triển vượt mẫu và cuối cùng nêu ra các bài tập tổng hợp.
- Mỗi chủ đề tôi đều đưa ra nguyên tắc nhằm giúp các em dễ nhận dạng loại bài
tập, xác đònh phương pháp phù hợp và biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng một cách
chính xác; hạn chế được những nhầm lẫn có thể xảy ra trong cách nghó và cách làm của
học sinh.
- Sau mỗi chủ đề tôi luôn chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả, sửa chữa
rút kinh nghiệm và nhấn mạnh những sai lầm mà HS thường mắc phải.
II- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC:
Những kinh nghiệm nêu trong đề tài đã phát huy rất tốt năng lực tư duy, độc lập suy
nghó cho đối tượng HS giỏi. Các em đã tích cực hơn trong việc tham gia các hoạt động
xác đònh hướng giải và tìm kiếm lời giải cho các bài tập.Qua đề tài này, kiến thức, kỹ
năng của HS được củng cố một cách vững chắc, sâu sắc; kết quả học tập của HS luôn
được nâng cao. Từ chỗ rất lúng túng khi gặp các bài toán phức tạp, thì nay phần lớn các
em đã tự tin hơn , biết vận dụng những kỹ năng được bồi dưỡng để giải thành thạo các
bài tập một cách nhanh chóng và chính xác. Một số em đã biết giải bài tập hoá học một
cách sáng tạo, có nhiều bài giải hay, nhanh và thông minh.
Kết quả thực hiện đề tài : Đề tài này đã góp phần quan trọng vào kết quả bồi dưỡng
học sinh giỏi của trường THCS Chu Văn An nói riêng và huyện Đak Pơ nói chung. Nhìn
chung tỉ lệ học sinh đạt giải ngày càng cao.
Năm học
Tỉ lệ HS
đỗ cấp Huyện
Số HS của trường
đỗ cấp Tỉnh
2003 -2004 Đạt 9 / 12 em dự thi Đạt 5 em
2004 -2005 Đạt 11 / 12 em dự thi Đạt 5 em
2005 -2006 Đạt 8 / 10 em dự thi Đang bồi dưỡng

Trang 20



E- PHẦN PHỤ LỤC:
I- PHIẾU ĐIỀU TRA :
1) Điều tra tình cảm, thái độ của 20 HS giỏi về năng lực giải BTHH

Kết quả :
Thời gian
a b c d
Trước khi thực hiện đề tài 0 6 7 7
Sau khi thực hiện đề tài 15 5 0 0
2) Điều tra về công tác bồi dưỡng của GV ( qua 10 giáo viên có bồi dưỡng HS giỏi )
Kết quả:
Câu A B C D
Kết quả 0 7 0 3

Trang 22
Em hãy tự nhận xét khả năng của mình về giải các
bài tập phức tạp ( điền  vào ô tương ứng)
a) Giải tốt nhiều bài.

b) Giải được một số bài. c) Giải được nhưng chưa nắm được

phương pháp ( còn mò mẫn ).
d) Không biết giải.

•Xin vui lòng cho biết Anh (chò) đã gặp những khó khăn
nào trong việc bồi dưỡng HS giỏi các cấp ?


Trang 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status