Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, tính cạnh tranh của một điểm đến du lịch đã trở thành một chủ đề
ngày càng được quan tâm từ phía các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và hoạch định
chính sách và tầm quan trọng của nó trên nhiều phương diện Theo báo cáo của Hội
đồng Du lịch & Lữ hành Thế giới trong năm 2009, lĩnh vực du lịch đã tạo ra 9,4%
GDP của thế giới (trị giá 5.474 tỷ USD) dự tính đạt 10.478 tỷ USD vào năm 2019, và
tạo 219,81 triệu việc làm trong năm 2009, chiếm 7,6% trong tổng số. Con số này
được dự báo lên đến 275,6 triệu việc làm trong ngành du lịch lữ hành, chiếm 8,4%
trong tổng số vào năm 2019.
Ngành du lịch Huế tuy được đánh giá là còn non trẻ so với ngành du lịch của
các thành phố lớn trong nước nhưng đã có những tiến bộ và đóng góp đáng kể vào
công cuộc phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của thành phố trong những năm qua.
Năm 2010, Việt Nam đón hơn 5 triệu lượt khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội
địa cũng tăng lên nhanh chóng với khoảng 28 triệu lượt khách, thu nhập du lịch đạt
được 96 ngàn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP cả nước và đứng thứ 5
trong các ngành tạo ra thu nhập ngoại tệ cho đất nước. Trong chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, du lịch Việt Nam ước tính đón
khoảng 7 - 7.5 triệu lượt khách quốc tế, 36 - 37 lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ
khách du lịch đạt 10 - 11 tỷ USD, đóng góp 5.5 - 6% vào GDP cả nước.
Với các thế mạnh về du lịch và đạt được những thành tựu đáng khích lệ về tốc
độ tăng trưởng du lịch trong một thời gian ngắn (chủ yếu từ năm 2010 trở lại đây)
nhưng sự hội nhập quốc tế bên cạnh việc mở ra những cơ hội phát triển mới cũng đặt
ra không ít khó khăn, thách thức với ngành du lịch Huế. Để tồn tại trong môi trường
cạnh tranh quốc tế khắc nghiệt, cạnh tranh thành công với các điểm du lịch khác trong
nước và khu vực, vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch Huế là phải xác lập được cho
mình những thế mạnh nhất định trên cơ sở xây dựng những lợi thế cạnh tranh bền
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
vững song song với việc không ngừng tư duy, định vị những lợi thế cạnh tranh mới và
4.1.1. Thu thập số liệu sơ cấp
Tiến hành thu thập, đọc, tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa các
nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
4.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Tiến hành phát bảng hỏi đối với khách du lịch
Quy trình điều tra gồm 2 bước:
Bước 1: Thiết kế bảng hỏi dựa vào việc áp dụng các mô hình của những nghiên
cứu về đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế.
Bước 2: Hoàn chỉnh bảng hỏi và tiến hành phát bảng hỏi.
4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 với thang đo Likert 5 điểm từ 1
tương ứng với rất không quan trọng/rất không đồng ý/rất không ảnh hưởng đến 5
tương ứng với rất quan trọng/rất đồng ý/rất ảnh hưởng.
Thống kê mô tả
- Tần suất
- Phần trăm
- Giá trị trung bình
Phân tích phương sai một yếu tố (Oneway ANOVA) và kiểm định
KruskalWallis: Phân tích sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm du khách theo
các yếu tố: quốc tịch, độ tuổi, nghề nghiệp.
Kiểm định Independent-Sample T-Test: Phân tích sự khác biệt trong đánh giá
giữa các nhóm du khách hàng theo yếu tố giới tính.
5. cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm có các phần sau:
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
• Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của điểm đến
• Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
vớimột điểm đến du lịch. Điểm du lịch là yếu tố đầu tiên thúc đẩy khách du lịch đi
đếnđiểm đến đó.
Theo khoản 8, điều 4, chương 1, Luật Du Lịch (2005): “Điểm du lịch là nơi có
tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
Có hai loại điểm du lịch:
• Điểm du lịch quốc gia: Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham
quan của khách du lịch; có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng
bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm.
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
• Điểm du lịch địa phương: Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan
của khách du lịch; có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo
đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.
Các tiện nghi công cộng: Bao gồm hệ thống cơ sở lưu trú; cơ sở kinh doanh
ăn uống; cơ sở tham quan, vui chơi giải trí; trung tâm khám chữa bệnh, chăm sóc sắc
đẹp; quầy lưu niệm…
Khả năng tiếp cận: Bao gồm hệ thống giao thông vận tải, điều kiện xuất nhập
cảnh…
Nguồn nhân lực: Du lịch là ngành sử dụng nhiều lao động. Bên cạnh đó, sự
tương tác với cộng đồng địa phương là một trong những yếu tố mà du khách muốn
trải nghiệm tại điểm đến. Vì vậy việc đào tạo một lực lượng lao động có tay nghề cao
cũng như nâng cao ý thức của người dân đại phương về lợi ích mà du lịch mang lại và
trách nhiệm của họ đối với hoạt động du lịch là một yếu tố không thể thiếu của một
điểm đến.
Giá cả: Đây là yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của một điểm đến. Yếu
tố giá cả liên quan đến giá vé máy bay; giá dịch vụ lưu trú, ăn uống; giá vé tham quan
và dịch vụ tour nếu có. Quyết định của khách du lịch còn dựa trên các yếu tố kinh tế
khác như tỉ giá hối đoái.
Hình ảnh: Hình ảnh độc đáo là rất quan trọng trong việc thu hút khách du lịch
đến với điểm đến. Hình ảnh của một điểm đến du lịch bao gồm: phong cảnh thiên
1.1.5. Sức chứa
Với những điều kiện vật chất, nhân lực, tài nguyên thì mỗi điểm đến du lịch sẽ
đón nhận một lượng khách du lịch nhất định. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì các
hoạt động du lịch sẽ phá vỡ môi trường của điểm đến, làm ảnh hưởng đến cuộc sống
của cư dân địa phương. Hệ quả này sẽ gắn việc phát triển bền vững khu du lịch với
sức chứa là rất cần thiết.
Vậy, chúng ta có thể hiểu Sức chứa của điểm đến như sau:
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO): “Sức chứa (hay còn gọi là khả năng
chấp nhận) của một nơi đến là mức độ sử dụng hoặc phát triển du lịch tối đa nơi đến
nhưng phải ở mức có thể chấp nhận và không tạo ra sự phá huỷ môi trường tự
nhiên cũng như các vấn đề tồn tại về kinh tế - xã hội, đồng thời không làm giảm chất
lượng thu nhận của du khách”.
Khách du lịch sẽ cùng tham gia vào các hoạt động của cư dân địa phương. Mặt
khác, vì là người đi du lịch nên họ thường có xu hướng đem theo lối sống từ nơi khác
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
đến đây. Xét trong một chừng mực nào đó, cơ sở dịch vụ địa phương đáp ứng được
nhu cầu của khách nhưng nếu quá đông khách đến vào cùng một thời điểm sẽ tạo nên
sự quá tải cho nơi đến. Điều này dẫn đến những giá trị du lịch của nơi đến bị phá vỡ,
từ đó làm giảm chất lượng thu nhận của du khách.
1.2. Cạnh tranh trong ngành du lịch
Việc cạnh tranh của ngành du lịch có thể được minh họa trên hai phương diện, trong
nước và quốc tế.
1.2.1. Về phương diện cạnh tranh trong nước
Ngành du lịch, làm lợi cho vận chuyển nội địa, chỗ ở, ăn uống, vui chơi giải trí, và
lĩnh vực bán lẻ, có ý nghĩa xã hội, văn hóa và chính trị, và có những đóng góp đáng
kể sau đây cho nền kinh tế (APEC Hiến chương Du lịch, 2000):
(1)Đây là một nguồn chủ yếu của cầu của kinh tế và sự tăng trưởng về cầu.
(2)Đây là người chủ chính ở các cấp độ kinh tế, tạo ra các cơ hội việc làm bền vững.
(3)Đó là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng.
nghiệp trên thị trường thông qua thị phần mà nó chiếm giữ. Theo Fafchampe, năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản
phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường; Randall lại
cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng dành được và duy trì thị
phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Đối với khái niệm này, cho đến
nay các tác giả, nhà nghiên cứu cũng chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất. Các khái
niệm mà tác giả đưa ra dựa trên khái niệm về sức cạnh tranh của quốc gia, của doanh
nghiệp. Mặc dù chưa có khái niệm thống nhất, song có thể hiểu rằng, năng lực cạnh
tranh của sản phẩm cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố chính như: khả
năng sử dụng thay thế cho một sản phẩm khác biệt tương tự với loại sản phẩm đó, yếu
tố về chất lượng sản phẩm, yếu tố về giá cả của sản phẩm.
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
1.3.2. Các quan điểm về năng lực cạnh tranh
Các khái niệm và cách tiếp cận phân tích về năng lực cạnh tranh cho thấy có
hai khuynh hướng phát triển chủ yếu, đó là lý thuyết Lợi thế So sánh của Ricardo
(RCA) và mô hình Lợi thế Cạnh tranh của Porter (PCA).
Bảng I.1: Quan điểm về năng lực cạnh tranh của RCA & PCA
Lý thuyết Lợi thế So sánh của
RCA
Mô hình Lợi thế Cạnh tranh của
PCA
Quan
niệm
PCA xác định xu hướng phát
triển công nghiệp ở một đất
nước trên cơ sở tài nguyên thiên
nhiên
PCA khám phá những nhân tố
qua các kênh thay đổi công nghệ.
Từ năm 1994, các nhà kinh tế bắt đầu cho rằng các lý thuyết thương mại truyền
thống nên đề cập đến các khía cạnh khác của năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ quan
tâm đến năng suất. Họ bắt đầu chấp nhận lập luận của Porter rằng bất kỳ công ty nào
cũng sẽ thất bại, trừ khi nó đảm bảo phân bổ tốt các nguồn lực trong nền kinh tế toàn
cầu. Tuy nhiên, cho dù có nhiều mô hình khác nhau được đưa ra dựa trên lập luận của
Porter, PCA vẫn còn là một phương pháp luận cổ điển để lập kế hoạch chiến lược
phát triển ở cấp công ty, cấp ngành, và quản lý hoạt động chính quyền.
1.4. Nghiên cứu Năng lực Cạnh tranh Du lịch
1.4.1. Tổng quan về nghiên cứu Năng lực Cạnh tranh Du lịch
Poon (1993), học giả tiên phong trong nghiên cứu cạnh tranh du lịch, chỉ ra
bốn nguyên tắc cơ bản mà bất kỳ Điểm đến phải theo để bảo đảm tính cạnh tranh:
(1)Đặt môi trường lên ưu tiên cao nhất
(2)Đưa du lịch thành lĩnh vực kinh tế dẫn đầu;
(3)Tăng cường các kênh phân phối trên thị trường;
(4)Xây dựng một khu vực tư nhân năng động.
Dwyer et al. (2000, tr. 9, 2002, tr. 328), trong nghiên cứu chi tiết nhất về cạnh
tranh giá cả du lịch từ trước đến nay, cho rằng "năng lực cạnh tranh là một khái niệm
tổng quát bao gồm sự chênh lệch giá cùng với thay đổi tỷ giá, mức năng suất của các
bộ phận cấu thành của ngành du lịch và các nhân tố chất lượng ảnh hưởng đến tính
hấp dẫn hay không hấp dẫn của một Điểm đến." Các nghiên cứu tiếp theo sử dụng các
khái niệm về PCA trong việc đánh giá lại vấn đề năng lực cạnh tranh du lịch. Nghiên
cứu gần đây cạnh tranh du lịch đã sử dụng hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất kết hợp lý
thuyết và khái niệm của PCA để xem xét lại vấn đề năng lực cạnh tranh du lịch. Cách
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
thứ hai, kết hợp một đo lường chính xác hơn để nghiên cứu vấn đề cạnh tranh Điểm
đến thay vì đánh giá các thuộc tính chức năng/vật lý của sự hấp dẫn điểm đến.
Như vậy, năng lực cạnh tranh du lịch là khả năng của một Điểm đến trong việc
tạo ra, tích hợp và cung cấp trải nghiệm du lịch, bao gồm cả sản phẩm và dịch vụ giá
dịch vụ du lịch,
Bảng I.2: Định nghĩa năng lực cạnh tranh Điểm đến của các nhà nghiên
cứu
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN HUẾ
A. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Tổng quan về tình hình du lịch Huế
2.1.1. Tiềm năng du lịch Huế
2.1.2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế qua 4 năm 2009 –
2012
2.1.3. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch Huế
B. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu định tính
2.2. Các nghiên cứu liên quan
2.2.1. Các nghiên cứu năng lực khả năng điểm đến du lịch
2.2.1.1. Mô hình Crouch-Ritchie
Trong cuối những năm 1990, Crouch và Ritchie (1999) xuất bản công trình
quan trọng nhất (cho đến bây giờ) trong phân tích năng lực cạnh tranh du lịch với mô
hình nhận thức của họ về năng lực cạnh tranh điểm đến. Mô hình của họ có cấu trúc
hai lớp. Lớp bên ngoài đại diện cho lợi thế so sánh (nguồn lực tài nguyên) và lợi thế
cạnh tranh. Lớp nội bộ đại diện cho một số yếu tố chính:
- Môi trường toàn cầu (vĩ mô);
- Môi trường cạnh tranh (vi mô);
- Các nguồn tài nguyên chính và những yếu tố thu hút;
- Các nguồn tài nguyên phụ và những yếu tố hỗ trợ;
- Chính sách, qui hoạch và phát triển Điểm đến;
- Quản lý điểm đến;
- Các yếu tố hạn chế và mở rộng.
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
- Khả năng tiếp cận
- Các nguồn lực nâng đỡ
- Tinh thần hiếu khách
- Doanh nghiệp
- Quyết tâm chính trị
5 Môi trường cạnh tranh vi mô
6 Môi trường cạnh tranh toàn
cầu
7 Các yếu tố hạn chế và mở
rộng
- Địa điểm
- Phụ thuộc lẫn nhau
- An toàn/an ninh
- Nhận thức/hình ảnh/
thương hiệu
- Chi phí/giá trị
- Công suất thực hiện
3 Quản trị điểm đến
- Tiếp thị
- Tài chính và vốn mạo hiểm
- Tổ chức
- Phát triển nguồn nhân lực
- Thông tin/nghiên cứu
- Chất lượng của dịch vụ
2.2.1.2. Mô hình Tích hợp của Năng lực Cạnh tranh điểm đến
Mô hình tích hợp được đề xuất ở đây có chứa rất nhiều biến và các yếu tố của
năng lực cạnh tranh điểm đến tập trung vào một số nhân tố chính:
- Các nguồn lực kế thừa;
- Các nguồn lực được tạo ra;
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Quản lý môi trường
5 Điều kiện hoàn cảnh
Định vị điểm đến
Môi trường cạnh tranh (vi mô)
- Các khả năng của công
ty
- Chiến lược của công ty
- Cơ cấu công nghiệp và
công ty kình địch
Môi trường toàn cầu (vĩ mô)
- Chính trị/pháp lý/quản lý
- Kinh tế
- Văn hoá xã hội
- Công nghệ
An ninh/an toàn
Cạnh tranh giá
3 Điều kiện về cầu
- Ưu đãi du lịch
- Nhận thức về điểm đến
- Hình ảnh điểm đến
2.2.2. Các nghiên cứu liên quan đến việc xác định thuộc tính năng lực cạnh
tranh (attribute of compete abilititive) của điểm đến Huế
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
2.2.2.1. Nghiên cứu của hai tác giả Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên (2012)
Các tác giả trong nghiên cứu Đánh giá về khả năng thu hút du khách của điểm
đến Huế đã chỉ ra rằng : “Các thuộc tính của điểm đến được chia thành 5 nhóm sau:
(1) Các yếu tố tự nhiên, (2) Các yếu tố lịch sử, (3) Các yếu tố xã hội, (4) Các điều
kiện giải trí và mua sắm, (5) Cơ sở hạ tầng, ẩm thực và lưu trú. Theo đó, nghiên cứu
tìm hiểu được những thuộc tính nào mà du khách xem là quan trọng và tìm kiếm ở
Nguồn: Bùi Thị Tám & Mai Lệ Quyên (2012)
Nghiên cứu cho thấy du khách đánh giá cao hơn đối với các thuộc tính: an
ninh, an toàn điểm đến phong cảnh thiên nhiên, hấp dẫn văn hóa, mức giá ở địa
phương điểm đến, thái độ với du khách, và tiếp theo là ẩm thực, điều kiện đi lại, hấp
dẫn lịch sử. Những thông tin này khẳng định một định đề rằng khả năng thu hút của
một điểm đến được cấu thành bởi tổ hợp các yếu tố, mà trong đó không có hoặc có rất
ít yếu tố có vai trò quyết định.
2.2.2.2. Nghiên cứu tính cạnh tranh trong du lịch của thành phố Huế của Thái Thanh
Hà
Nghiên cứu này chỉ ra có 5 nhân tố ảnh hưởng đến tính cạnh tranh trong du
lịch của Thành phố Huế đó là Sự năng động của chính quyền; Thể chế và Cơ sở hạ
tầng; Nguồn lực văn hóa di sản; Chất lượng lao động; Giá cả và điều kiện sống. Kết
quả của nghiên cứu này cho thấy các yếu tố như thể chế và cơ sở hạ tầng, nguồn lực
văn hoá di sản có ảnh hưởng tích cực đến tính cạnh tranh trong du lịch của thành phố
Huế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố thuộc về nguồn lực di sản văn hoá;
chất lượng lao động; môi trường sống (giá cả và điều kiện sống) là những nhân tố có
thứ hạng quan trọng, làm tăng tính cạnh tranh trong phát triển du lịch của thành phố
Huế.
Áp dụng những yếu tố về nguồn lực di sản văn hoá; chất lượng lao động; môi
trường sống (giá cả và điều kiện sống). Vì vậy khi thiết bảng hỏi cần đưa các nhân tố
này vào thang đo đánh giá khả năng cạnh tranh của điểm đến Huế nhằm để có thể đưa
ra đánh giá toàn diện hơn.
Huỳnh Thị Hà Trang – K45TC&QLSK
Bài tập cá nhân GVHD. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung
2.2.2.3. Đề tài nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Tính-Khoa QTKD trường ĐH Duy
Tân.
Đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch việt nam trong
bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đề tài đã nêu rõ các số liệu thu được từ bảng
theo dõi khả năng cạnh tranh do Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) thực
chuyên môn nghiệp vụ
7 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lich
8 Điều kiện đi lại
9 Sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa VN
10 Thương hiệu điểm đến
11 An ninh, an toàn
12 Nguồn lực về tự nhiên
13 Nguồn lực về văn hóa
14 Y tế và vệ sinh
15 Thái độ của người dân đối với du khách
Nguồn Đỗ Văn Tính (2011)
2.2.2.4. Đề tài nghiên cứu của tác giả Dương Xuân Thắng: “Các giải pháp
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh củangành du lịch tỉnh Khánh
Hòa đến năm 2015”
Tác giả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và
các thuộc tính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa.
Bảng II.5: Các thuộc yếu tố thành năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa
STT Các yếu tố
1. Nguồn nhân lực
2. Tài nguyên du lịch
3. Cơ sợ hạ tầng phục vụ du lịch
4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
5. Các dịch vụ bổ trợ
6. Hoạt động marketing của ngành du lịch
7. Hoạt định đầu tư vào ngành du lịch
(Nguồn: Dương Xuân Thắng (2006))
Bảng II.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa
STT Các yếu tố
1. Kinh tế
2. Chính trị và pháp luật
Nguồn:
Giáo trình Marketing Du lịch (Bùi Thị Tám, 2009) chỉ ra rằng trong việc
đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến thường vận dụng phương pháp cấu trúc
bằng cách sử dụng thang đo Likert để đánh giá các thuộc tính cụ thể của điểm đến.
Vì vậy, điều này hoàn toàn hợp lý để thừa kế lại bộ thang đo các thuộc tính
mà hai tác giả Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên đã đề xuất để đánh giá năng lực
cạnh tranh của điểm đến Huế. Hơn nữa, các thuộc tính được đề xuất bởi hai tác giả
này đều có nhiều sự tương đồng với các thuộc tính được nêu ra trong các nghiên
cứu liên quan khác đã được trình bày trong phần này. Vì vậy, đây sẽ là thang đo
tốt, phù hợp với đề tài nghiên cứu.
Thông qua tìm hiểu các nghiên cứu trên tội thấy rằng các yếu tố chính để
đánh giá năng lực cạnh cạnh tranh điểm đến Huế gồm 7 nhân tố chính đó là: Điều
kiện tự nhiên; Cơ sở hạ tầng, vật chất – kỹ thuật; Nguồn lực được tạo ra và các
yếu tố hỗ trợ; Nguồn nhân lực; Điều kiện về cầu; Quản trị điểm đến; Điều kiện
hoàn cảnh (vệ sinh; y tế; an ninh và an toàn…).
2.3. Đề xuất bộ thang đo để đánh giá năng lực cạnh tranh điểm của đến
Huế
Thông qua việc kế thừa các tiêu chí để đánh giá hình ảnh điểm đến từ các
nghiên cứu liên quan, tác giả đề tài đã hiệu chỉnh, bổ sung thêm một số tiêu chí
khác cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Từ đó đề xuất một bộ thang đo để
đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến Huế được chỉ ra trong bảng II.6.
Bảng II.8 Các thuộc tính đánh giá năng lực cạnh trạnh Huế
STT Các thuộc tính
1. Phong cảnh thiên nhiên đẹp
2. Khí hậu
3. Hấp dẫn về văn hóa và lịch sử
4. Các sự kiện, lễ hội
5. Di sản văn hóa thế giới
6. Các trung tâm thương mại, vui chơi giải trí
7. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
4.1.1. Thu thập số liệu sơ cấp
4.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp
4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
5. Cấu trúc của đề tài
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Điểm đến du lịch
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Đặc điểm điểm đến du lịch
1.1.3. Các yếu tố cơ bản của điểm đến du lịch
1.1.4. Vòng đời điểm đến
1.1.5. Sức chứa
1.2. Cạnh tranh trong ngành du lịch
1.2.1. Về phương diện cạnh tranh trong nước
1.2.2. Về phương diện cạnh tranh quốc tế
1.3. Năng lực cạnh tranh
1.3.1. Khái niệm
1.3.2. Các quan điểm về năng lực cạnh tranh
1.3.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh
1.3.4. Sự tiến bộ trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
1.4. Nghiên cứu Năng lực Cạnh tranh Du lịch
1.4.1. Tổng quan về nghiên cứu Năng lực Cạnh tranh Du lịch
1.4.2. Năng lực Cạnh tranh Điểm đến
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN
HUẾ
A. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Tổng quan về tình hình du lịch Huế
2.2. Tiềm năng du lịch Huế
2.3. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế qua 4 năm 2010 –
2013
3. Hạn chế của đề tài và đề nghị về hướng nghiên cứu tiếp theo