Lời cảm ơn
Trước hết, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy
giáo - Thạc sĩ kinh tế học Nguyễn Tiên Phong, Học viện Ngoại giao người đã
chỉ bảo tận tình, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm và hoàn thành luận
văn này. Sự quan tâm chu đáo, ân cần của thầy từ những buổi hướng dẫn em
tìm tài liệu, phân loại tài liệu, cách làm một nghiên cứu khoa học hay những
buổi chữa bài… em sẽ luôn ghi nhớ! Em chúc thầy luôn mạnh khoẻ và công
tác tốt!
Em xin gửi lời cảm ơn thầy Nguyễn Văn Lịch cùng toàn thể các thầy cô
giáo trong khoa kinh tế, những người đã nhiệt tình dạy dỗ chúng em trong
suốt 4 năm đại học. Những kiến thức quý báu mà thầy cô đã truyền đạt sẽ trở
thành những hành trang tri thức để chúng em bước tiếp con đường sự nghiệp
của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn học, những
người thân đã luôn bên cạnh ủng hộ, tạo điều kiện và giúp đỡ em để hoàn
thành Khoá luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2009
SINH VIÊN
Nguyễn Thị Thuỳ DungMỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI 9
I. Cán cân thương mại 9
1. Khái niệm về cán cân thương mại 9
1.3. Ảnh hưởng của tỷ giá đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất
khẩu 37
2. Mô hình lượng hoá tác động những biến đổi của một số yếu tố kinh tế
vĩ mô đến cán cân thương mại Vịêt Nam 38
2.1.Xây dựng mô hình 38
2.2.Chạy mô hình và kết quả hồi quy 39
2.3.Ý nghĩa 42
Tuy những tính toán định lượng trên phù hợp với thực tế và các phân
tích định tính ở bên trên nhưng do thời gian quan sát không đủ dài nên
kết quả vẫn chưa phản ánh toàn diện và đầy đủ tác động của các yếu tố
kinh tế vĩ mô đối với cán cân thương mại. Từ những kết quả thu được
ta đều có thể nhận thấy rõ ràng các tác động cùng chiều của các yếu tố
kinh tế vĩ mô, yếu tố GDP, FDI, lãi suất và tỷ giá đều ảnh hưởng tới
cán cân thương mại Việt Nam. Trên thực tế thì GDP không có ảnh
hưởng nhiều đến cán cân thương mại bằng các yếu tố kinh tế vĩ mô
khác của Việt Nam nhưng cũng có ảnh hưởng cùng chiều bởi một nền
kinh tế phát triển vừa thể hiện ở thu nhập quốc dân trên đầu người
tăng và cán cân thương mại thặng dư, nên hai yếu tố này có quan hệ
cùng chiều với nhau. Còn các yếu tố khác đều có ảnh hưởng tương đối
đến hoạt động xuất nhập khẩu: khi FDI tăng tức là Việt Nam đang có
tiềm năng thu hút được nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn
này càng tăng thì sự mở rộng sản xuất càng tăng dẫn đến hoạt động
xuất khẩu sẽ được tăng cường; lãi suất của ngân hàng Nhà nước đưa
ra cũng có tác động tương đối tới hoạt động xuất nhập khẩu, khi lãi
suất ngân hàng tăng đồng thời các doanh nghiệp nhất là những doanh
nghiệp cần nhiều vốn vay để duy trì hoạt động cũng sẽ thu hẹp sản
xuất, như vậy sản lượng sản xuất ra trong nền kinh tế sẽ sụt giảm và
lượng xuất khẩu cũng sẽ giảm dẫn đến xuất khẩu giảm và nhập khẩu
tăng và ngược lại; Còn tỷ giá hối đoái là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và
mạnh mẽ nhất đến tỷ trọng thương mại, ảnh hưởng này có tác dụng lớn
(Gross Domestic Products)
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
(International Monetary Fund)
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
TGHD Tỷ giá hối đoái
USD Đồng tiền Mỹ
VND Việt Nam đồng
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
(World Trade Organization)
XHCN Xã hội chủ nghĩa
FII Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
4
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Một số nguyên tắc lựa chọn cơ chế tỷ giá theo IMF 15
Bảng 2.1. Tình hình lạm phát, tỷ giá và cán cân thương mại của Việt
Nam 1989-1992 19
Bảng 2.2. Tương quan giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế 1992-1996
20
Bảng 2.3 . Cán cân thanh tóan quốc tế của Việt Nam từ năm 2004 đến
năm 2008 28
Bảng 2.4. Cán cân thương mại 1992-1997 35
Bảng 2.5. Kết quả kỳ vọng mô hình kinh tế lượng 39
Biểu đồ 2.6. Biểu đồ tổng hợp sự thay đổi của các biến qua các năm 40
từ 1990 đến 2008 40
40
Bảng 2.6. Kết quả chạy mô hình EVIEW tác động của một số yếu tố kinh
tế vĩ mô đến tỷ số thương mại 41
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
nước đã coi tỷ giá hối đoái như là một công cụ hết sức quan trọng để thực
hiện chính sách kinh tế vĩ mô.
Thực tế cho thấy một chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý có thể là nhân tố
quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế một nước tăng trưởng. Không ít
nước đã thành công khi sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để phát triển, cũng
có nhiều nước đã vấp phải những thất bại về chính sách tỷ giá. Sự biến động
1
mạnh của một số các đồng tiền mạnh trong thời gian gần đây (đồng đô la Mỹ,
đồng Yên Nhật, đồng Euro…) có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của
nhiều nước và thế giới. Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường và từng bước hội nhập quốc tế không thể không quan tâm đến tỷ
giá hối đoái và chính sách tỷ giá. Những thành công và cả những thất bại của
các nước sẽ là kinh nghiệm quý giá để Việt Nam lựa chọn cho mình một
chính sách tỷ giá hối đoái thực sự có hiệu quả. VND hiện nay vẫn neo đậu
chủ yếu vào đồng USD, việc điều chỉnh tỷ giá hiện nay lên hay xuống để hỗ
trợ cho hoạt động xuất khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại là một vấn đề
mà các nhà kinh tế Việt Nam luôn luôn phải tính toán.
Xuất phát từ tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá
trong nền kinh tế mở, đặc biệt là một nền kinh tế đang hội nhập mạnh mẽ như
Việt Nam. Đồng thời chúng ta cũng chưa có một chính sách tỷ giá hối đoái
linh hoạt để giúp điều chỉnh và làm cải thiện cán cân thương mại. Do vậy tác
giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu:
“Ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến cán cân thương mại Việt
Nam”
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, bài
nghiên cứu được chia làm bốn chương:
Chương I: Tổng quan về cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái
Chương II: Thực trạng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam và tác
động của nó đến cán cân thương mại
Chương III. Tăng cường hiệu quả của chính sách tỷ giá nhằm cải thiện
2
. Định nghĩa thứ nhất đã chỉ rõ được vị trí của cán cân thương mại là
một bộ phận của cán cân thanh toán, điều này rất quan trọng bởi vì từ đây,
chúng ta có thể tìm được mối quan hệ giữa các bộ phận trong cán cân thanh
toán để từ đó có những khoản có thể bù đắp cho cán cân thương mại khi bị
1
Vũ Thế Hùng, Nguyễn Văn Hà, Minh Long (dịch). Thuật ngữ thương mại, NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội
2001. tr 29
2
Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1. Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Hà Nội, 1995. tr
141, 350
9
thâm hụt hoặc những thặng dư trong cán cân thương mại đi về đâu, tuy nhiên,
nếu chỉ coi cán cân thương mại là “số thặng dư hay thâm hụt” thì đó sẽ là một
thiếu sót. Còn định nghĩa thứ hai trong từ điển Bách khoa Việt Nam đã nói rõ
thực chất cán cân thương mại là một bảng cân đối, phản ánh những số liệu về
xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia chứ không chỉ phản ánh riêng mỗi
“số thặng dư hay thâm hụt”, đồng thời phần nào đó định nghĩa này cũng nói
được ý nghĩa của cán cân thương mại khi nêu ra mối liên hệ giữa khả năng
sản xuất của cán cân thương mại và nhu cầu tiêu dùng.
Tổng hợp từ những định nghĩa ở trên và quan điểm của Chính phủ Việt
Nam, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về cán cân
thương mại như sau: Cán cân thương mại là một bộ phận của cán cân thanh
toán, cán cân thương mại là bảng cân đối tổng hợp xuất nhập khẩu hàng hoá
của một quốc gia trong thời kì nhất định (thường là một năm). Cán cân
thương mại có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế quốc dân, góp phần chủ yếu cho
phép đánh giá và phân tích mối liên hệ giữa khả năng sản xuất với nhu cầu
tiêu dùng của xã hội; giữa tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế quốc dân. Khi
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá lớn hơn kim ngạch nhập khẩu hàng hoá, cán
cân thương mại được gọi là thặng dư, trong trường hợp ngược lại, cán cân sẽ
đồng tiền khác, điều này sẽ làm giảm xuất khẩu và tăng cường nhập khẩu, sẽ
tác động không tốt đến cán cân thương mại.
2.2. Biện pháp điều chỉnh thu nhập
Thu nhập có mối quan hệ trực tiếp tới cầu nhập khẩu của một quốc gia.
Thu nhập tăng sẽ làm cho nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ của người dân đối với
cả hàng trong nước và hàng nhập khẩu tăng lên, vì vậy sẽ làm tăng nhập khẩu.
Trong một chế độ tỷ giá cố định, khi một quốc gia có cán cân thương mại thâm
hụt thường xuyên sẽ dẫn đến việc giảm thu nhập và sau đó là giảm nhập khẩu.
Ngược lại, khi một quốc gia có cán cân thương mại thặng dư sẽ làm tăng thu nhập
và kéo theo đó là tăng nhập khẩu. Như thế những tác động của thu nhập tới nhập
khẩu sẽ điều chỉnh cán cân thương mại, kéo về vị trí cân bằng.
3
Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus. Macro Economics. McGraw – Hill Inc. 1995. tr 145
11
Tóm lại, thông qua cái nhìn tổng quan về cán cân thương mại ở trên có
thể cho ta thấy, cán cân thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
nền kinh tế, nó phản sức cạnh tranh và trình độ phát triển kinh tế của một
quốc gia cũng như chính sách kinh tế vĩ mô của nền kinh tế đó. Khi một quốc
gia có cán cân thương mại thặng dư là khi quốc gia đó có tiềm lực, khả năng
đạt mức tăng trưởng cao, chính sách kinh tế ổn định, nếu một quốc gia bị
thâm hụt thương mại thì quốc gia đó luôn phải điều chỉnh chính sách kinh tế
của mình sao cho có thể cải thiện cán cân thương mại về mức cân bằng. Tuy
nhiên, đối với nhiều quốc gia thâm hụt thương mại chưa chắc đã là dấu hiệu
xấu của nền kinh tế, nhưng nếu thâm hụt liên tục trong dài hạn thì quốc gia đó
cần phải điều chỉnh chính sách kinh tế của mình. Có nhiều yếu tố có thể tác
động tới cán cân thương mại như tác động của tiêu dùng, của đầu tư, của tiết
kiệm, tác động trực tiếp từ xuất khẩu, nhập khẩu và đặc biệt là tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái có mối quan hệ mật thiết tới cán cân thương mại vì thực thế
cán cân thương mại là thể hiện tình hình ngoại thương với các quốc gia và tỷ
giá hối đoái là sự định giá đồng tiền nội tệ so với đồng ngoại tệ, điều này rất
Tỷ giá trở thành mối quan tâm đặc biệt trong nền kinh tế mở xuất phát
từ việc nó được sử dụng để phục vụ chiến lược thương mại quốc tế, làm tăng
vị thế cạnh tranh của quốc gia đó. Sở dĩ như vậy là do sự biến động của tỷ giá
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu. Chẳng hạn, khi
TGHĐ tăng, đồng nội tệ mất giá, sự biến động này có lợi cho hoạt động xuất
khẩu (vì giá xuất khẩu của hàng hoá và dịch vụ nước đó sẽ rẻ đi tương đối
trên thị trường nước ngoài còn hàng hoá nhập khẩu lại trở lên đắt hơn), với
điều kiện giá cả hàng hoá và dịch vụ nước đó vẫn giữ ổn định trên thị trường
nội địa. Sự mất giá của đồng nội tệ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh
của hàng hoá, dịch vụ nước đó. Và một số nước khi thâm hụt cán cân thương
mại thường sử dụng chính sách phá giá đồng nội tệ để hạn chế nhập khẩu,
tăng cường xuất khẩu. Ngược lại khi giá trị đồng tiền một nước tăng so với
13
đồng tiền khác: sự gia tăng của đồng nội tệ có tác dụng làm tăng giá tương đối
hàng hoá dịch vụ của một nước so với nước ngoài, hàng hoá xuất khẩu của
nước đó sẽ trở nên đắt hơn còn hàng nhập khẩu lại trở nên rẻ hơn một cách
tương đối. Điều này sẽ làm cho cán cân thương mại dịch chuyển về phía thâm
hụt
5
.
Từ tác động tới xuất nhập khẩu, tỷ giá đương nhiên có tác động tới cán
cân thanh toán quốc tế của một quốc gia. Tác động trực tiếp tới cán cân vãng
lai trong đó xuất nhập khẩu đống vai trò chủ yếu. Tỷ giá tác động tới cán cân
vốn thông qua việc tạo môi trường cho các nhà đầu tư. Một sự thay đổi trong
tỷ giá hối đoái theo hướng tăng giá đồng nội tệ có tác động thúc đẩy và tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Ví
dụ về trường hợp của Nhật Bản, là một nước có nguồn tài nguyên khan hiếm,
chính vì thế Nhật Bản đã đầu tư nguồn vốn của mình ra các nước Châu Á
khác, nơi có những nguồn tài nguyên dồi dào hơn. Việc duy trì đồng Yên
được định giá cao từ sau những năm 1970 đã có tác động tích cực thúc đẩy
tới GDP thông qua mức lạm phát của nền kinh tế. Tỷ giá không chỉ tác động tới
mức giá thông qua giá các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường trong nước mà
còn tác động vào tất cả các mặt hàng, chính vì vậy trong nhiều trường hợp tỷ giá
là một công cụ kiềm chế lạm phát hữu hiệu và được sử dụng phổ biến hơn nhiều
so với một số công cụ liên quan đến chính sách tiền tệ.
2. Cơ sở của việc lựa chọn tỷ giá
Việc lựa chọn cơ chế tỷ giá phù hợp phụ thuộc vào đặc thù mỗi nước
và có thể thay đổi theo thời gian. Có sự khác biệt rất rõ giữa các nước áp dụng
cơ chế tỷ giá thả nổi và các nước áp dụng cơ chế tỷ giá cố định. Một trong
những đặc điểm nổi bật nhất của nền kinh tế lớn thường có tính độc lập cao
hơn và thường muốn có sự linh hoạt trong việc thực hiện các chính sách kinh
tế của mình hơn là phụ thuộc vào một nước khác. Nhìn vào bảng sau ta có thể
thấy một số nguyên tắc lựa chọn cơ chế tỷ giá mà các chuyên gia kinh tế của
IMF đưa ra.
Bảng 1.1. Một số nguyên tắc lựa chọn cơ chế tỷ giá theo IMF
Đặc thù của nền kinh tế Gợi ý mức độ linh hoạt của tỷ giá
15
Quy mô của nền kinh tế Quy mô càng lớn, tỷ giá linh hoạt càng phù hợp
Mức độ mở cửa Càng mở cửa, tỷ giá linh hoạt càng phù hợp
Đa dạng hoá cơ cấu sản
xuất/ xuất khẩu
Nền kinh tế càng đa dạng hoá, tỷ giá linh hoạt càng
phù hợp
Cơ cấu thương mại theo
địa lý
Tỷ trọng ngoại thương với một nước càng lớn càng
nên gắn đồng bản tệ với đồng tiền nước đó
Chênh lệch lạm phát
trong nước so với bên
ngoài
phụ thuộc vào hoạt động thương mại quốc tế. Tỷ trọng các hàng hoá
có thể tham gia thương mại quốc tế trong GDP càng lớn thì độ mở
của nền kinh tế càng lớn. Khi một nền kinh tế không tham gia hoặc
7
Báo cáo của IMF, trích từ website imf.org
16
tham gia rất ít vào thương mại quốc tế thì người ta gọi đó là nền
kinh tế đóng. Độ mở của nền kinh tế cũng phụ thuộc vào quy mô
của nền kinh tế đó. Khi độ mở của nền kinh tế càng lớn thì tỷ trọng
hàng hoá có thể tham gia thương mại quốc tế trong các hàng hoá
được sử dụng tính toán mức giá cả càng lớn và tác động của tỷ giá
đến mức giá cả cũng càng lớn. Để giảm thiểu tác động của những cú
sốc từ bên ngoài đến mức giá trong nước, các nền kinh tế có độ mở
lớn thường lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định.
• Những nước có mức lạm phát cao hơn các đối tác thương mại
thường gặp khó khăn khi duy trì cơ chế tỷ giá cố định. Trên thực tế,
người ta nhận thấy rằng các nước có mức chênh lệch lạm phát cao
so với mức lạm phát trung bình thường áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi
hoặc các cơ chế kiểu tỷ giá trượt để tỷ giá có thể tự điều chỉnh theo
chênh lệch lạm phát.
• Những nước có quan hệ buôn bán chủ yếu với một bạn hàng thường
cố định đồng tiền của mình vào đồng tiền của nước đối tác. Các
nước có nhiều đối tác thương mại sẽ cảm thấy việc cố định tỷ giá
đồng tiền của mình vào một đồng tiền khác thì không mấy hiệu quả.
Tóm lại, cần phải lưu ý rằng tác động của tỷ giá hối đoái khác nhau
trong những nền kinh tế khác nhau. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
tỷ giá không phải là một phạm trù quan trọng, vì bản thân tỷ giá giống như
các loại giá cả khác không tồn tại đúng với nội dung và bản chất của nó.
Trong nền kinh tế này, tỷ giá thường được ấn định một cách chủ quan nhằm
tạo ra một phương tiện đơn giản là để thực hiện việc tính toán và thanh toán
8
Lê Văn Tư và Nguyễn Quốc Khanh (1999), Một số vấn đề về chính sách tỷ giá hối đoái cho mục tiêu phát
triển kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê, tr. 69
18
I. Thực trạng lựa chọn chế độ tỷ giá của Việt Nam
1. Thực trạng chế độ tỷ giá của Việt Nam qua các giai đoạn
Giai đoạn trước năm 1989, Việt Nam áp dụng chế độ tỷ giá cố định và
cấu trúc đa tỷ giá để xác định tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng tiền
các nước trong hệ thống XHCN. Nhìn chung, chế độ tỷ giá này bộc lộ nhiều
bất cập, Nhà nước thực hiện chính sách độc quyền ngoại hối và độc quyền
trong ban hành và ấn định tỷ giá dẫn đến những hậu quả không tốt: Đồng Viêt
Nam luôn bị định giá cao so với các đồng tiền khác; Tỷ giá chính thức luôn
thấp hơn tỷ giá thị trường tự do. Có thể nói thời kỳ này tỷ giá chưa thật sự có
ảnh hưởng quyết định đến hoạt động ngoại thương, mà chỉ ảnh hưởng đến
ngân sách Nhà nước
9
. Đồng Việt Nam thường xuyên bị định giá cao nhưng
không thể ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Kết quả là các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu càng nhiều thì Nhà nước phải bù lỗ càng nhiều, tức là
các doanh nghiệp thì thu lợi lớn, trong khi ngân sách thì không thu được
nhiều từ việc chênh lệch giá.
Giai đoạn từ 1989 đến năm 1992. Năm 1989 đánh một dấu mốc quan
trọng trong lịch sử điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam: tỷ giá kết toán nội
bộ không còn hiệu lực, các loại tỷ giá được thống nhất thành một loại tỷ giá
chính thức do NHNN công bố. Tỷ giá chính thức gần sát với tỷ giá thị trường
tự do và được điều chỉnh thường xuyên theo sát thị trường với biên độ khá
rộng (5%)
10
.
Bảng 2.1. Tình hình lạm phát, tỷ giá và cán cân thương mại của
có sự bất cập; Sử dụng biện pháp hành chính bắt buộc các tổ chức kinh tế có
ngoại tệ phải bán ngoại tệ cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định; Bãi bỏ hoàn
toàn các hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương
giữa ngân sách nhà nước với các tổ chức kinh tế có tham gia vào hoạt động
ngoại thương, thực hiện áp dụng tỷ giá chính thức do NHNN công bố.
Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 1998: cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu
Á khiến đồng tiền của hầu hết các nước giảm giá rất mạnh so với đồng đô la
Mỹ gây tác động bất lợi đối với Việt Nam, khiến đồng Việt Nam tăng giá so
với đồng tiền các nước khác trong khu vực, điều này làm suy giảm năng lực
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam xét trên phương diện giá cả, từ đó tác động
11
Lê Văn Tư và Nguyễn Quốc Khanh (1999), Một số vấn đề về chính sách tỷ giá hối đoái
cho mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê, tr. 42
20
xấu đến cán cân thương mại của nước ta. Giai đoạn này các hoạt động đầu cơ,
găm giữ ngoại tệ diễn biến khá phức tạp, gia tăng những căng thẳng về ngoại
tệ trên thị trường, dẫn tới sức ép giảm giá đồng Việt Nam. Để giảm áp lực
căng thẳng về ngoại tệ, NHNN đã mở rộng biên độ giao dịch ngoại tệ lên 5%
(Quyết định số 45/QĐ-NH ngày 27-2-1997) sau đó tiếp tục mở rộng biên độ
tới 10% (Theo Quyết định số 342/QĐ-NH ngày 13-10-1997)
12
. Mặc dù vậy,
sức ép giảm giá VND vẫn rất lớn nhưng NHNN không thể mở rộng thêm biên
độ nữa vì rất có thể sẽ gây ra sự rối loạn trên thị trường ngoại hối. Ngày 14-2-
1988, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/1988/QĐ-TTg điều
chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức tăng thêm 5,6% (từ 1USD = 11.175 VND lên
1 USD = 11.800 VND). Việc điều chỉnh này khiến tỷ giá giao dịch trên thị
trường chính thức tăng lên mức 1 USD = 12.981 VND, làm cho sự chênh lệch
về tỷ giá giao dịch giữa thị trường chính thức và thị trường tự do giảm xuống
chỉ còn khoảng 0,2%. Tuy vậy so với tốc độ giảm giá của đồng tiền một số
1/2009 so với tháng 12/2008, trong khi gía tiêu dùng trong nước tăng tới
85,1% thì giá USD chỉ tăng 19,5%)
14
2. Dự báo xu hướng điều chỉnh tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới
Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt có kiểm soát đồng
VND. Trên thực tế chính sách điều hành tỷ giá của NHNN trong những năm
qua cho thấy đậm nét của một chính sách tỷ giá cố định gắn với đồng USD.
Việt Nam đã tiến thêm một bước trong việc quản lý tỷ giá linh hoạt hơn,
NHTW đã mở rộng hơn chế độ quản lý tỷ giá của mình, nới rộng biên độ dao
động tỷ giá từ 0,25% lên 0,5% và có lúc lên tới 1%( khi Việt Nam rơi vào tình
trạng bị lạm phát tương đối cao năm đầu năm 2008). Tuy nhiên hầu hết thời
gian tỷ giá hối đoái luôn giữ ở biên độ dao động tương đối nhỏ và việc tham
gia can thiệp vào thị trường ngoại hối đối với đồng USD của NHNN, trong
thời gian tới có lẽ tỷ giá vẫn được giữ cố định so với đồng USD với biên độ
dao động hẹp.
Việc gắn đồng VND với USD tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam một
cảm giác an tâm với sự biến đổi của tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn và trung
hạn do hầu hết các hoạt động thương mại và đầu tư được thanh toán bằng
đồng USD. Tuy nhiên việc gắn tỷ giá vào duy nhất một ngoại tệ vẫn khiến
cho tỷ giá của đồng USD với các đồng tiền còn lại của các đối tác thương mại
14
Tổng cục Thống kê. Niêm giám thống kê 2008. NXB Thống kê
22
và đầu tư quan trọng như thị trường Châu Âu, Nhật Bản, các nước ASEAN,
Trung Quốc bị biến đổi thất thường khiến doanh nghiệp thụ động và đôi khi
chịu tổn thất lớn do chưa có kinh nghiệm đối với việc biến động tỷ giá ngoại
hối. Hơn nữa, sự biến động giá trị danh nghĩa của đồng VND hoàn toàn phụ
thuộc vào sự biến động của USD.
Do lạm phát của Mỹ thường thấp hơn nhiều so với lạm phát của Việt
Nam, chính sách gắn đồng VND với USD làm cho đồng VND bị mất giá song
2,1
1,14
1,48
Tèc ®é t¨ng gi¸ USD (%)
Nguồn: Thống kê của Bộ Tài chính
15
Trên thực tế, trong những năm gần đây do đồng USD mất giá mạnh so
với các ngoại tệ chủ chốt, mức độ điều chỉnh tỷ giá hối đoái đồng VND/USD
thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước và ở mức nhỏ hơn 1%. Tuy nhiên, trong
tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay chúng ta cần phải theo dõi sát
diễn biến của giá USD trên thị trường thế giới, vì đây là một trong những yếu
tố quan trọng tác động đến sự biến động của giá USD ở trong nước. Hơn nữa
Mỹ là tâm bão của cuộc khủng hoảng nhưng lạm phát tăng không đáng kể,
gần đây đã giảm trong 6 tháng liền trong khi đó lạm phát của Việt Nam luôn
ở mức cao hơn Mỹ, điều này cũng làm biến động tỷ giá. Ở trong nước hiện
cũng có nhiều yếu tố làm cho tỷ giá VND/USD tăng (tức là VND mất giá so
với USD). Việt Nam đã gia nhập WTO trong khi kinh tế có định hướng xuất
khẩu, tỷ lệ xuất khẩu so với GDP đã vượt quá 70% trong đó Mỹ là thị trường
xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Cuộc suy thoái toàn cầu đã làm cho tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 theo mục tiêu giảm mạnh
15
Thống kê của Bộ Tài chính trích từ website http://www.mof.vn
24
so với năm trước (13% so với 29,5%) và còn có thể thấp hơn, dưới 5%. Trong
khi đó, hàng nhập khẩu từ các nước trong khu vực nhất là Trung Quốc sẽ tăng
mạnh. Để khuyến khích xuất khẩu kiềm chế nhập siêu, ngoài các biện pháp
khác thì công cụ tỷ giá được sử dụng là công cụ hiệu quả và linh hoạt nhất
trong thời điểm này. Cũng do tác động của khủng hoảng mà lượng ngoại tệ
vào Việt Nam năm 2009 sẽ không còn tăng như các năm trước, thậm chí có