1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Lê Thị Hạnh
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
ĐẾN ĐỘNG LỰC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN
NĂM THỨ NHẤT-KHỐI NGÀNH KINH TẾ ĐẠI HỌC VĂN LANG Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
3
LỜI CẢM ƠN
Từ một ý tưởng mơ hồ, nghiên cứu đã được ấp ủ và gọt dũa trong gần
một năm để được thành quả như hôm nay. Chắn chắn, tôi hoàn thành nhiệm
vụ khó khăn này không phải một mình.
Người đầu tiên tôi muốn cảm ơn đó là TS. Hoàng Thị Xuân Hoa. Cô
đã lắng nghe, khích lệ và có những góp ý bổ ích, giúp tôi hoàng thành những
phần quan trọng nhất của luận văn . Tuy không hướng dẫn trực tiếp, nhưng
các bài giảng của PGS. TS Nguyễn Quý Thanh đã cho tôi nguồn cảm hứng
thực hiện quá trình nghiên cứu. Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến GS.
Frances L. Hoffmann, người luôn phản hồi nhiệt tình, nhanh chóng, góp
nhiều thời gian và cho tôi động lực làm một nghiên cứu nghiêm túc.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn: TS. Nguyễn Dũng-Hiệu trưởng, các thầy cô
trong tổ bộ môn Anh văn, các đồng nghiệp và các sinh viên khoa Du lịch,
Thương Mại, Tài chính-Ngân hàng, Kế toán-Kiểm toán, Quản trị kinh doanh
trường đại học Văn Lang đã chấp thuận ngay lời đề nghị giúp đỡ và tạo môi
trường hết sức thuận lợi để tôi tiếp xúc, phỏng vấn, phát bảng hỏi; bài nghiên
cứu của anh Bùi Công Thành giúp tôi hoàn thành bảng hỏi cũng như nhắc
nhở tôi luôn cẩn thận với các khái niệm mà SV được khảo sát có thể hiểu rất
khác người nghiên cứu. Tôi đã nghiêm túc thực hiện khảo sát sơ khởi (khảo
sát GV và phỏng vấn nhóm nhỏ SV) làm tiền đề cho nghiên cứu này cũng vì
mục đích trên; các tài liệu trên website của GS Nguyễn Văn Tuấn vô cùng quý
3.1.2. Kích thước mẫu và các thức chọn mẫu 41
3.1.3. Mô tả mẫu 47
3.1.4. Phân tích dữ liệu 48
3.1.5. Công cụ thu thập dữ diệu 48
3.2. Quy trình nghiên cứu 52
5
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.1. Kết quả nghiên cứu 56
4.1.1 Phương pháp giảng dạy và hành vi học tiếng Anh tại lớp 56
4.1.2. Phương pháp giảng dạy và hành vi học tiếng Anh ngoài lớp học 59
4.1.3. Phương pháp giảng dạy và thái độ học tiếng Anh 62
4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu 67
KẾT LUẬN 71
1. Kết luận 71
2. Hạn chế của nghiên cứu 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
A. Tài liệu tiếng Việt 73
B. Tài liệu tiếng Anh 75
PHỤ LỤC 77
Phụ lục 1: Báo cáo khảo sát sơ khởi-khảo sát giáo viên và phỏng vấn nhóm sinh viên 77
Phụ lục 2: Bảng hỏi khảo sát giáo viên bộ môn tiếng Anh-khối ngành kinh tế về phương pháp
giảng dạy cho khảo sát sơ khởi 87
Phụ lục 3: Bảng hỏi phỏng vấn nhóm nhỏ sinh viên-khối ngành kinh tế cho khảo sát sơ khởi 94
Phụ lục 4: Bảng hỏi khảo sát ý kiến sinh viên về ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy đến
động lực học tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất-khối ngành kinh tế đại học Văn Lang 96
Phụ lục 5: Bảng các ý kiến của sinh viên về ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy đến động lực
học tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất-khối ngành kinh tế đại học Văn Lang 101
8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm 25
Biểu đồ 1.2: Quy trình của mô hình Nghiên cứu hành động 26
Biểu đồ 2.1: Mô hình ARCS về thiết kế động lực 36
Biểu đồ 4.1: So sánh hành vi học TA tại lớp giữa 2 nhóm SV 58
Biểu đồ 4.2: So sánh hành vi học TA ngoài lớp học giữa 2 nhóm SV 61
Bảng 4.4: Tóm tắt kết quả nghiên cứu 65
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, Kiều Văn Thịnh (2000) cho rằng
“mọi phương pháp giảng dạy cho dù tân kỳ như thế nào mà cung cách người
học ù lì, tất cả sẽ không thay đổi. Người học không tự buộc mình phải học thì
các phương pháp giảng dạy có liên tục cải tiến cũng chỉ là món đồ chơi cầu
kỳ, đắc tiền, vô tác dụng.” Điều này cũng tương tự như cải tiến phương pháp
mà không dựa trên những quy luật về tâm lý học tập của người học thì chắc
chắn thất bại. Slavin (2008) khẳng định “một trong những thành phần có tính
then chốt nhất trong việc học là động lực học tập…mọi sinh viên đều có động
lực học tập”. Các quốc gia có nền giáo dục phát triển rất quan tâm đến động
lực học tập người học. Vấn đề này đã được nghiên cứu rất nhiều, hình thành
nên một hệ thống lý thuyết vững chắc và ứng dụng vào giảng dạy từ lâu trên
thế giới như các thuyết Học tập hành vi (Behavioral Learning Theory), thuyết
nhu cầu của Maslow, thuyết Quy kết (Attribution Theory), thuyết Kỳ vọng
(Expectancy Theory)… Các thuyết này cung cấp những thông tin: giáo viên
có thể tạo nên sự khác biệt rất lớn ở động lực học tập người học và động lực
học tập đóng vai trò quyết định chất lượng học tập. Động lực học tập tạo nên
một nguồn sức mạnh, một nguồn năng lượng mạnh mẽ khiến chủ thể hành
động và duy trì hành động để đạt được kết quả. Nhiều nhà khoa học nhận định
rằng học sinh chịu học hay không liên quan rất nhiều đến động lực học tập.
Nếu người học có động lực, chất lượng học tập sẽ vượt trội. Theo Slavin
11
(2008), một trong những yếu tố làm tăng động lực của người học là phương
pháp giảng dạy của giáo viên.
Acsimet có câu “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên!”
Acsimet cho thấy phương pháp tốt có thể làm nên những chuyện phi thường.
Trong khi giáo dục có thể tạo nên điều kỳ diệu đối với kết quả đào tạo nguồn
nhân lực thì phương pháp giảng dạy lại có thể tạo nên đòn bẩy nâng cao chất
như nhút nhát, thụ động, không thích cộng tác với bạn bè, tính tự giác học tập
và năng động chưa cao… (Nguyễn Thị Thuý Hồng, 2009). Nguyễn Thị Thuý
Hồng (2009) đề xuất phương pháp giảng dạy tiếng Anh phải thay đổi theo
hướng cho sinh viên thực hành theo nhóm, theo cặp, xen kẽ các trò chơi trong
các giờ giảng, thiết kế các bài tập theo hướng tạo tính chủ động sáng
tạo…nhằm khắc phục những trở ngại trên. Như vậy, phương pháp giảng dạy
nói chung, phương pháp dạy tiếng Anh nói riêng, đóng vai trò lớn trong việc
thúc đẩy động lực học tập, từ đó làm thay đổi hiệu quả học tập tiếng Anh của
người học. Cần phải chú trọng và quan tâm đến phương pháp giảng dạy, thay
đổi phương pháp giảng dạy dựa trên những quy luật động lực học tập của
người học là yếu tố then chốt.
Trường đại học Văn Lang là một trong những trường đại học lớn, có
trên 10.000 sinh viên, đào tạo nhiều ngành nghề quan trọng, góp phần nâng
cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn lao động đa dạng và cần thiết cho đất
nước. Nguồn nhân lực do Văn Lang đào tạo là một trong những nguồn lao
động tri thức trẻ quan trọng của đất nước. Trong bối cảnh chung, việc giảng
dạy tiếng Anh tại trường cũng còn nhiều vấn đề chủ quan cũng như khách
13
quan như từ cơ sở vật chất, phương pháp giảng dạy của giáo viên, đặc điểm
của sinh viên…Chất lượng giảng dạy tiếng Anh chưa đồng đều, có giáo viên
dạy hay nhiệt tình nhưng cũng có giáo viên dạy chưa tốt và thụ động. Nhiều
sinh viên rụt rè, nhút nhát không tích cực tham gia vào việc học. Chất lượng
tiếng Anh đầu vào chưa đồng đều, có sinh viên học theo hệ ba năm, có sinh
viên học theo hệ bảy năm được xếp vào học cùng lớp. Một số sinh viên ý thức
được tiếng Anh quan trọng như thế nào cho công việc tương lai nhưng một số
khác lại học cho có, học cho qua. Một số sinh viên chán học tiếng Anh trên
lớp do giảng viên chưa khơi gợi được sự hứng thú học tập. Các vấn đề này đã
khiến cho Văn Lang không ngừng nổ lực cải thiện chất lượng giảng dạy và
tiếng Anh của giáo viên đến động lực học tiếng Anh của sinh viên năm nhất-
khối ngành kinh tế tại trường đại học Văn Lang.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu cung cấp thông tin về hoạt động giảng dạy và học tập
tiếng Anh của sinh viên năm nhất tại đại học Văn Lang, góp phần cải tiến chất
lượng giảng dạy và học tập tiếng Anh nói chung và tại trường Văn Lang nói
riêng.
Giáo viên tiếng Anh có thể tham khảo kết quả nghiên cứu này phục vụ
cho công tác giảng dạy, chọn lựa các hoạt động phù hợp nhằm giúp sinh viên
học tập tốt hơn.
15
Các nhà quản lý giáo dục có thể tham khảo kết quả nghiên cứu này
nhằm đưa ra quyết định khuyến khích, hỗ trợ hoạt động giảng dạy nào của
giáo viên.
Nghiên cứu gợi mở những hướng nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực
này.
4. Định nghĩa phương pháp giảng dạy và động lực học tập
Trong nghiên cứu này, phương pháp giảng dạy được định nghĩa là
các hoạt động trong và ngoài lớp học mà giáo viên sử dụng nhằm truyền đạt
kiến thức cho sinh viên và đạt được mục tiêu môn học.
Các hoạt động được đề cập ở đây cũng là muốn nói đến bất cứ hành
vi, thủ thuật, kỹ năng, lời nói, phương tiện, chiến lược mà giáo viên sử dụng
thu bài tốt, tập trung cao vào học tiếng Anh, muốn tranh luận về bài học, phát
biểu ý kiến trong lớp, tham gia thảo luận nhóm/thuyết trình/trò chơi, thảo
luận thêm với giáo viên/bạn bè nếu có điều chưa hiểu, nghĩ về bài học/bài
giảng môn Anh văn ở ngoài lớp học, thái độ thích đến lớp, nuối tiếc nếu mất
giờ học, thích môn học tiếng Anh Mức độ sinh viên thực hiện các hành vi
và thái độ trên được xem xét để xác định động lực học tiếng Anh của họ như
thế nào.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này khảo sát thông tin từ giáo viên và sinh viên nhằm trả
lời câu hỏi nghiên cứu: Phương pháp giảng dạy ảnh hưởng như thế nào đến
17
động lực học tập tiếng Anh của sinh viên năm nhất-khối ngành kinh tế đại học
Văn Lang?
5.1. Phương pháp giảng dạy ảnh hưởng như thế nào đến hành vi học
tập tiếng Anh của sinh viên tại lớp?
5.2 Phương pháp giảng dạy ảnh hưởng như thế nào đến hành vi học
tập tiếng Anh của sinh viên ngoài lớp học?
5.3 Phương pháp giảng dạy ảnh hưởng như thế nào đến thái độ học tập
tiếng Anh của sinh viên?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu trên, giả thuyết định hướng cho nghiên
cứu này được đưa ra như sau: Phương pháp giảng dạy có ảnh hưởng đến động
lực học tập tiếng Anh của sinh viên năm nhất-khối ngành kinh tế, đại học Văn
Lang.
6 giáo viên nữ dạy môn tiếng Anh dành cho sinh viên năm nhất
khối ngành kinh tế ở cơ sở 2 tại trường đại học Văn Lang.
Và sinh viên năm nhất (khoá K15) học khối ngành kinh tế tại
trường đại học Văn Lang.
8.2. Đối tượng nghiên cứu
Mối liên hệ giữa phương pháp giảng dạy tiếng Anh của giáo viên
và động lực học tiếng Anh của sinh viên năm nhất-khối ngành
kinh tế-đại học Văn Lang.
19 9. Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại trường đại học Văn Lang ở thành phố
Hồ Chí Minh. Trường thành lập vào năm 1995, thuộc loại trường đại học đa
ngành và không thuộc sở hữu nhà nước. Trường “cung cấp…những dịch vụ
về đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ,
kinh tế, xã hội-nhân văn và mỹ thuật ứng dụng nhằm đáp ứng nguồn nhân
lực…và chuyển giao những thành quả nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội thành phố Hồ Chí Minh và cả nước”. Mục tiêu của trường là giảng dạy,
“đào tạo đội ngũ trí thức, chuyên viên kỹ thuật và quản lý kinh tế có trình độ
nghiệp vụ cao, phẩm chất tốt nhằm đáp ứng hữu hiệu công cuộc phát triển
kinh tế và khoa học, công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất
nước” (Website đại học Văn Lang).
Tổng số giảng viên của trường (cơ hữu và thỉnh giảng) là 867. Trong
15 năm qua, trường liên tục phát triển và mở rộng về số lượng sinh viên (hơn
mười ngàn sinh viên hiện hay so với khoảng dưới hai ngàn sinh viên lúc thành
báo cáo nhà trường thông qua Phòng Đào tạo). Bên cạnh những thành quả
nhất định, việc tổ chức giảng dạy Anh văn như vậy cũng bộc lộ những thiếu
sót cần được quan tâm khắc phục. Vì vậy, nhà trường đã quyết định thành lập
Bộ môn Anh văn, thuộc Ban Khoa học cơ bản, chịu trách nhiệm giảng dạy
Anh văn cho các ngành không chuyên tiếng Anh trong toàn trường. Bộ môn
Anh văn hiện nay đã hoạt động được hơn 2 năm (thành lập vào tháng 3 năm
2008), ngày càng mở rộng và tuyển nhiều giáo viên trẻ, tốt nghiệp loại khá trở
lên, có phương pháp giảng dạy mới. Số lượng giáo viên cơ hữu có thể đảm
21
nhiệm 100% khối lượng giảng dạy tiếng Anh cho toàn trường. Điều này cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho sự thống nhất trong giảng dạy tiếng Anh tại
trường, áp dụng quy định mới hoặc thực hiện cải tổ về giảng dạy. Từ năm học
2008-2009, bộ môn Anh văn đã ứng dụng mạnh mẽ và có hiệu quả công nghệ
thông tin hỗ trợ cho việc dạy, học, kiểm tra, đánh giá ở tất cả các khoa.
10. Động lực học tập và động cơ học tập
Các nhà vật lý học định nghĩa động lực là một lực tác động lên vật
khiến vật từ trạng thái đứng yên sang chuyển động. Các nhà tâm lý học định
nghĩa động lực (motivation) như là một quá trình nội tại giúp thúc đẩy, hướng
và duy trì hành động liên tục (Murphy & Alexander, 2000; Pintrich, 2003;
Schunk, 2000; Stipek, 2002) (Educational Psychology-Theory an Practice-
Chapter 10 : Motivation). Nói một cách dễ hiểu thì động lực là thứ giúp người
ta đi, tiếp tục đi và quyết định nơi mà họ cố gắng để đến. Từ điển bách khoa
toàn thư Việt Nam đưa ra khái niệm động cơ như sau: “động cơ là nguyên
nhân bên trong thôi thúc con người hành động để thoả mãn một nhu cầu nào
đó. Hoạt động của con người có thể do một hoặc nhiều động cơ. Động cơ bao
gồm nhiều loại: lợi ích, sở thích, tình cảm, lí tưởng và nhiều hiện tượng tâm lí
khác”. Khi nghiên cứu về khái niệm động lực học tập trong tiếng Việt, tôi
23
Chương 1: TỔNG QUAN
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, tôi sẽ
trình bày tóm tắc một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan. Trước
tiên, tôi sẽ trình bày các tài liệu liên quan đến vấn đề phương pháp giảng dạy
nói chung và phương pháp giảng dạy tiếng Anh nói riêng, động lực học tập
nói chung và động lực học tiếng Anh nói riêng, tiếp theo là những nghiên cứu
về mối liên hệ giữa phương pháp giảng dạy và động lực học tập của người
học.
1.1. Phương giáp giảng dạy nói chung và phương pháp giảng dạy tiếng
Anh
Tác giả Đặng Thành Hưng (2001) trong tài liệu tổng thuật về “Quan
niệm và xu thế phát triển phương pháp dạy học trên thế giới” có đề cập đến
những đặc điểm nổi bật trong nghiên cứu và phát triển phương pháp giảng
dạy. Ông trình bày bốn hướng nghiên cứu đã tồn tại và đang phát triển từ
trước đến nay:
Nghiên cứu lý thuyết khái quát: các nghiên cứu thực nghiệm tìm kiếm
phương pháp tiếp cận tổng quát đối với quá trình giảng dạy, tạo ra
những giai đoạn sáng tạo các phương pháp giảng dạy cụ thể, hình thành
25
Biểu đồ 1.1: Mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm Riêng tại Việt Nam, nghiên cứu về lý luận phương pháp giảng dạy còn
nhiều hạn chế, chỉ dừng ở việc phân loại, định nghĩa, sắp xếp và giải thích
những dấu hiệu chung chung. Kỹ thuật giảng dạy sử dụng máy vi tính, công
nghệ thông tin gần như mới được tìm hiểu.
Cynthia Benzing (1997) đã khảo sát các giáo viên ngành kinh tế về
phương pháp giảng dạy họ sử dụng. Hai giáo sư này đã gửi bảng hỏi bằng thư
điện tử cho 500 giáo viên-thành viên của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ (mẫu được
chọn ngẫu nhiên, thực tế chỉ gửi được cho 456 người) vào tháng 10 năm
1994. Tỉ lệ trả lời là 45% (207/456). Bảng hỏi gồm các câu hỏi mở về phong
cách giảng dạy, những thay đổi trong phương pháp giảng dạy, làm thế nào
sinh viên học tốt nhất, có sự khác nhau giữa sinh viên được giảng dạy ban
ngày và ban đêm hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp