TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--o0o--
Bộ môn:
KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài:
NHỮNG KIẾM KHUYẾT CỦA THỊ
TRƯỜNG CẠNH TRANH
VÀ GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ
Giáo viên hướng dẫn: Trần Thừa
Sinh viên: Nguyễn Thị Diễm Kiều
MSSV: 108209213
Lớp: 92K34
STT: 13
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
Năm học 2009 - 2010
MỤC LỤC
Lời Mở Đầu.....................................................................................................3
A. Các khiếm khuyết của thị trường cạnh tranh............................................4
I. Các tác động ngoại vi...................................................................................4
1. Khái niệm.................................................................................................4
2. Nguyên nhân cơ bản gây ra tác động ngoại vi tiêu cực...........................4
3. Biểu hiện..................................................................................................4
4. Tác động..................................................................................................6
II. Sự phân hóa giàu – nghèo............................................................................8
1. Nguyên nhân phát sinh.............................................................................8
2. Biểu hiện..................................................................................................8
3. Tác động................................................................................................10
III. Thiếu hàng hóa công cộng..........................................................................11
1. Khái niệm...............................................................................................11
2. Nguyên nhân phát sinh...........................................................................11
3. Biểu hiện................................................................................................12
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, kinh tế
thị trường vẫn là mô hình kinh tế ưu việt nhất vơi các ưu điểm như
− Có sự phối hợp tự động, linh hoạt, mềm dẻo, nhanh nhạy…giữa các
khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình.
− Khuyến khích cải tiến, đổi mới và phát triển.
− Tự điều chỉnh những trạng thái mất cân bằng cung cầu và xác lập lại
những trạng thái cân bằng mới.
− Phân bổ các nguồn lực hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu diểm đó vẫn tồn tại những khuyết điểm
không nhỏ như
− Các tác dđộng ngoại vi.
− Sự phân hóa giàu – nghèo.
− Thiếu hàng hóa công cộng.
− Sự gia tăng quyền lực độc quyền.
− Chu kì kinh doanh.
− Thông tin thị trường lệch lạc.
Những khiếm khuyết này đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế, xã hôi,
tự nhiên môi trường…Bài nghiêm cứu này sẽ đi sâu phân tích tìm hiểu các
khiếm khuyết của thi trường cạnh tranh, các tác động của nó cùng biện pháp
khắc phục của chính phủ. Đồng thời thử xác định khiếm khuyết có ảnh hưởng
lớn dến nền kinh tế thị trường Việt Nam, các giải pháp của chính phủ Việt Nam
trước khiếm khuyết này.
Với kiếm thức và kinh nhiệm còn nhiều hạn chế, bài tiểu luận này chắc
chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự nhận xét, đóng
góp ý kiến của thầy. Em xin chân thành cảm ơn.
3
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
A. CÁC KIẾM KHUYẾT CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
I. Tác Động Ngoại Vi (Externalities )
4
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
Một trong những biểu hiện nổi bật nhất hiện nay của các tác
động ngoại vi tiêu cực ở nước ta là ô nhiễm môi trường. Đặc biệt là ô
nhiễm nguồn nước và ô nhiễm do chất thải rắn.
Về ô nhiễm nguồn nước:
Theo ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ môi
trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong tổng số 183 Khu
công nghiệp trong cả nước, có trên 60% Khu công nghiệp chưa có
hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tại các khu công nghiệp đã có
thì cơ sở hạ cũng hầu như chưa đạt tiêu chuẩn.
Ở Tp. Hồ Chí Minh, trong số 12 khu Công nghiệp chỉ có 2
khu là có hệ thống xử lý nước thải. Chỉ tính riêng tại cụm công
nghiệp Tham Lương, Tp. HCM, mỗi ngày ước tính có khoảng
500.000 m
3
nước thải độc hại từ các nhà máy xả vào môi trường.
Ở thành phố Thái Nguyên, về mùa cạn, tổng lượng nước thải
công nghiệp chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu. Nước thải từ
sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH
4
là 4mg/1, hàm
lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Ở Hà Nội, tổng lượng nước thải của thủ đô lên tới 300.000 -
400.000 m
3
/ngày. Hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện và 36/400 cơ sở
sản xuất có hệ thống xử lý nước thải. Chỉ số BOD, oxy hoà tan,
các chất NH
4
thêm nhiều loại ô nhiễm môi trường mới như ô nhiễm tiếng ồn, ô
nhiễm ánh sáng, ô nhiễm do các nhà máy nguyên tử, các lần
phóng vệ tinh nhân tạo…
4.Tác động
Nền kinh tế thị thường càng phát triển, ảnh hưởng do các tác
động ngoại vi của nó gây ra cho tự nhiên, môi trường và xã hội ngày
nghiêm trọng và cái giá mà chúng ta phải trả ngày càng lớn.
Đến sức khỏe con người:
Suy thoái của chất lượng nước, không khí và những nguy hiểm
khác về môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sức
khỏe con người, dẫn đến sự suy giảm sức khỏe và các bệnh tật liên
quan, bao gồm cả các căn bệnh gây ra bởi vi trùng và côn trùng do sự
thay đổi của khí hậu như sốt rét, vàng da…Theo tổ chức thế giới đã có
khoảng 2 triệu người chết vì các bệnh liên quan đến môi trường.
Không chỉ có tác động trực tiếp, ô nhiễm môi trường còn để lại
những hậu quả lâu dài có khi đến vài thế hệ. Điển hình là sự bùng nổ
các làng ung thư ở Việt Nam. Sau làng ung thư đầu tiên ở Thạch Sơn
– Phú Thọ, liên tiếp một loạt các làng ung thư khác được nhắc tới ở
Hà Nam, Hà Tây, Nghệ An, Quảng Nam và mới đây nhất là làng ung
thư ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng. Có nơi số người chết lên tới hơn 1/3
dân số của làng, bao gồm cà người già và trẻ em – tất cả đểu liên quan
đến tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Đến nền kinh tế:
Ô nhiễm môi trường làm suy yếu sức khoẻ con người, từ đó dẫn
đến giảm năng suất lao động, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Mặt
khác, sự suy thoái của chất lượng môi trường sẽ làm giảm hiệu năng
các nguồn tài nguyên cho sản xuất như sự tổn thất trong nghề cá (do ô
nhiễm nước), giảm sự phát triển của rừng do đất bị xói mòn…
Mặt khác, chi phí dành cho y tế cũng như chi phí để khắc phục
hậu quả của ô nhiễm môi trường không ngừng tăng lên. Ở Nhật Bản,
Những người sở hữu nhiều tư liệu sản xuất trước hết có nhiều
khả năng tạo ra nhiều của cải vật chất hơn. Đồng thời họ có
điều kiện tích tụ, tập trung…mở rộng quy mô sản xuất, làm
cho bản thân ngày càng giàu thêm.
Những người sở hữu ít hoặc không sở hữu tư liệu sản xuất,
trước hết thiếu hẳn “phương tiện” để làm ra cái ăn, nuôi sống
bản thân, buộc phải bán sức lao động cho các nhà tư bản, chịu
sự bóc lột của giai cấp này, càng trở nên nghèo khó.
− Khả năng sử dụng công nghệ: Mối cá nhân
trong xã hội có năng lực khác nhau, hưởng sự giáo dục khác
nhau…nên khả năng sử dụng công nghệ cũng khác nhau. Những
người nắm được công nghệ cao sẽ đạt được năng suất lao động cao
hơn, thu nhập nhiều hơn.
− Sự chênh lệch điều kiện sống: Những người
sống và làm việc ở các vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội tốt hơn
thường có thu nhập cao hơn (đồng bằng – miền núi, nông thôn –
thành thị…)
− Quyền lực và uy tín: Những người có quyền lực
và uy tín cao trong xã hội thường có thu nhập cao hơn.
8
H. Cá chết do
ô nhiễm môi
trường nước
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
2. Biểu hiện
Phân hóa giàu nghèo trước hết thể hiện ở mức chênh lệch thu
nhập. Chúng ta cùng xem xét bảng bảng so sánh nhóm thu nhập cao
nhất và thấp nhất ở nước ta giai đoạn 1994-1999 của Tổng cục thống
kê (mối nhóm điều tra 20%, đơn vị tính: lần)
Năm 1994 1995 1996 1999
phương tiện vệ sinh, vật liệu xây nhà, số phòng ngủ và hàng tiêu
dùng lâu bền của hộ. Có tới 65% số dân thành thị được sử dụng
nước máy trong khi chỉ có 11% số dân nông thôn dùng nước máy,
92% số dân thành thị có nhà xây bằng vật liệu kiên cố thì con số
này ở nông thôn là 67%.
3. Tác động
Tích cực:
− Góp phần khơi dậy tính năng động trong mỗi con người, mỗi
nhóm xã hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác các cơ may,
vận hội để phát triển vượt lên.
− Tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, qua đó
sàng lọc và tuyển chọn ra những người có đủ năng lực và phẩm
chất cần thiết trở thành thành viên của nhóm vượt trội, động lực
cho sự phát triển của một ngành nghề, một lĩnh vực hay một địa
phương.
Tiêu cực:
− Kinh tế: Sự phân hóa giàu – nghèo giữa các vùng gây khó khăn
cho nhà nước trong việc quy hoạch ổn định, cân đối các ngành
tại các vùng khác nhau. Không phát huy được toàn bộ nội lực
của nền kinh tế và mọi khả năng trong tầng lớp dân cư.
− Chính trị: Chênh lệch lợi ích tất yếu sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn
giữa các tầng lớp trong xã hội. Khi tới đỉnh điểm sẽ dẫn tới xung
đột, gây bất ổn về mặt chính trị. Một đất nước bất ổn chính trị sẽ
khó có cơ hội để phát triển kinh tế. Gây nên sự hoang mang, dao
động tinh thần của đông đảo tầng lớp người lao động đối với
chính quyền sở tại.
− Văn hóa: Khi điều kiện sống khác nhau, sự tiếp thu, giữ gìn,
phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc trong các tầng lớp dân cư cũng
khác nhau, gây cản trở phát triển văn hóa.
10
những người khác đồng thời cũng sử dụng nó. Ví dụ pháo hoa
khi bắn lên thì tất cả mọi người đều có thể được hưởng giá trị sử
dụng của nó.
Trong thực tế, vẫn tồn tại những hàng hóa công cộng không đáp ứng
một cách chặt chẽ hai tính chất đó. Ví dụ đường giao thông, nếu có
quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những
người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của
những người tiêu dùng sau. Đó là những hàng hóa công cộng có thể
tắc nghẽn. Một hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó có thể định giá
thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá. Ví dụ đường
11
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
cao tốc, cầu...có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng
người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn
2. Nguyên nhân phát sinh: Sự thiếu hụt hàng hóa công cộng xuất phát
từ chính các tính chất của hàng hóa này, kết hợp với mục tiêu tối đa
hóa lợi nhuận của nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường luôn hướng các doanh nghiệp, cá nhân đến
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuân. Trong khi đó, với 2 tính chất của mình,
hàng hóa công cộng khiến cho cả các cá nhân lẫn các doanh nghiệp đều
không có động lực để chi trả cho việc sản xuất nó.
− Với các cá nhân: với hai tính chất của mình, hàng hóa công cộng
khiến cho mọi thành viên trong xã hội đều có khả năng sử dụng
hàng hóa công cộng như nhau dù có trả tiền hay không. Dẫn tới
tình trạng mọi cá nhân trong xã hội đều không có động lực để chi
trả cho hang hóa công cộng.
− Với các doanh nghiệp: Hệ quả tất yếu của việc các cá nhân trong xã
hội đều không muốn chi trả cho hang hóa công cộng, là doanh
nghiệp – những người sản xuất ra nó sẽ phải chịu tổn thất. Điều
này khiến các doanh nghiệp không co động lực để sản xuất hàng
bộ cần thiết. Có thể khẳng định, tại các đô thị của Việt Nam, hệ thống
thoát nước chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Phần
lớn hệ thống là chung cho thoát nước mưa và cả nước thải, được xây
dựng trên địa hình tự nhiên, nước tự chảy và độ dốc thủy lực thấp. Cho
đến nay, chưa đô thị nào có được trạm xử lý nước thải sinh hoạt. Cũng
như hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước của các thành phố lớn mới
chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu, trong khi các đô thị khác phạm vi phục
vụ chỉ đạt 20 - 25%. Theo đánh giá của các công ty thoát nước, môi
trường đô thị tại các địa phương hiện nay, 50% tuyến cống đã bị hư
hỏng, 30% tuyến cống cũ bị xuống cấp, chỉ khoảng 20% tuyến cống
mới xây dựng là còn tốt.
4. Tác động
Hàng hào công công là đòi hỏi thiết yếu của xã hội loài người, sự
thiếu hụt hàng hóa công cộng mang đến nhiều tác động tiêu cực đối với
nền kinh tế, xã hội, con người…
− Đối với nền kinh tế: sự thiếu hụt hàng hóa công cộng đặc biệt
trong lĩnh vực giao thông làm cho lưu thông hàng hóa bị ngưng trệ
13
Kiếm khuyết của thị trường cạnh tranh và giải pháp của chính phủ
gây ra những tổn thất to lớn cho nền khinh tế. Theo báo cáo của
Viện Giao thông vận tải Mỹ, khi nghiên cứu 85 khu vực trong
nước năm 2003 thì tổng tổn thất do tắc nghẽn giao thông gây ra đã
lên đến khoảng 63 tỷ USD với hơn 3,7 tỉ giờ chậm trễ và 2,3 tỉ ga-
lông nhiên liệu hao phí do tắc nghẽn. Ngoài ra, ảnh hưởng của việc
giao hàng không đúng hạn, lỡ các cuộc họp và các tác động khác
còn chưa được tính đến.
− Đối với xã hội, con người:
Sự thiếu hụt hàng hóa và các dịch vụ công cộng kiến chất lượng
cuộc sống con người bị giảm sút: Thiếu trường học, nhiều học
sinh miền núi không được đến trường, trình độ học vấn thấp.