Khoa kinh tế- ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Khoa kinh tế đối ngoại
Môn : Kinh tế phát triển
Đề tài : CĂN BỆNH HÀ LAN
GVHD : Tiến sĩ Nguyễn Chí Hải
SVTH : Trần Thị Thanh Thủy
K074020248
Lớp : K08-402A
Lời mở đầu :
Đối với các nhà kinh tế học, đất nước Hà Lan không chỉ có
hoa tulip và đội bóng đá màu da cam mà còn một thứ rất
nổi tiếng nữa đó là căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease).
Chuyện kể rằng, trong quá trình thăm dò, các nhà địa chất
đã phát hiện dưới những cánh đồng hoa lulip tuyệt đẹp có
một nguồn khí đốt với trữ lượng rất lớn. Chính phủ Hà Lan
đã quyết định khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này.
Nhờ việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, tự nhiên,
Hà Lan có thêm một khoản trời cho (win fall) rất lớn.
Chính phủ Hà Lan đã tăng chi tiêu ngân sách, đầu tư vào
nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, sản xuất hàng hoá phi ngoại
thương không có sức cạnh tranh thay vì tiếp tục đưa những
bông hoa tulip xinh tươi chu du khắp thế giới. Rắc rối đã
xảy ra khi nguồn khí đốt được khai thác hết,nguồn tiền
không còn đủ để đáp ứng cho những nhu cầu chi tiêu của
quốc gia, cầu trong nước giảm, thất nhiệp gia tăng và nhiều
vấn đề rắc rối khác đã xảy ra. Chuyện của những năm 1960
thoảng qua như một cơn lốc, nhưng đã để lại những hậu
quả nặng nề cho nền kinh tế Hà Lan. Sau đó, bằng chính
sách hợp lý, Hà Lan lại đạt được những thành tựu kinh tế
kỳ diệu, những cánh đồng hoa tulip đã được khôi phục.
xuất khẩu (tradable sector) và khu vực không xuất khẩu (non-tradable).
Trong đó, khu vực xuất khẩu được chia làm 2 khu vực nhỏ.
• Khu vực “bùng nổ” (booming sector) : khu vực khai thác tài nguyên
• Khu vực “trì trệ” (non-booming sector): khu vực chế tạo
(manufacturing sector)
Các giả thiết khác là tổng lực lượng lao động không đổi, nền kinh tế
trong trạng thái toàn dụng lao động, và tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định.
Hình 1.1: Mô hình cổ điển của W. Max Corden và J. Peter Neary
2.1.2. Tác động
• Hiệu ứng di chuyển nguồn lực (resource movement effect)
Hình 1.2: Hiệu ứng di chuyển nguồn lực
Khi các ngành khai thác tài nguyên bùng nổ, lượng cầu về lao động
của khu vực này tăng lên, lao động từ khu vực sản xuất (manufacturing
sector) sẽ chuyển sang khu vực khai thác này làm cho khu vực sản xuất bị
thiếu cung lao động và trở nên suy thoái. Quá trình này được gọi là phi công
nghiệp hóa trực tiếp (Direct Reindustrialize )
Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực khai thác đã làm tăng tăng thu
nhập của người lao động trong lĩnh vự này. Nhu cầu tiêu dùng của họ vì thế
cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu
vực không xuất khẩu (non-tradable sector). Sự tăng trưởng này lại kéo theo
sự di chuyển nguồn lực từ khu vực chế tạo và khiến cho khu vực này ngày
càng trì trệ hơn. Quá trình này được gọi là phi công nghiệp hóa gián tiếp
(Indirect Reindustrialize). W. Max Corden và J. Peter Neary gọi đây là hiệu
ứng di chuyển nguồn lực của căn bệnh Hà Lan (resource movement effect)
• Hiệu ứng tiêu dùng
Theo thuyết của Migara, thị trường có hai thành phần tham gia là
Nontrable (N) và Tradable (T). Trong đó, N là những loại hàng hóa và dịch
vụ sản xuất trong nước chỉ phục vụ nhu cầu trong nước như dịch vụ, xây
dựng…và không tham gia xuất khẩu hay nhập khẩu; T là tất cả các loại hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước để phục vụ hoạt động xuất và nhập
sector thành khu vực có sự bùng nổ và khu vực không có sự bùng nổ. Điểm
khác biệt là khu vực nontradable cũng được chia thành khu vực sản xuất
hàng tư bản và khu vực sản xuất hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó, thay vì
nghiên cứu nông nghiệp như một khu vực đơn nhất giống mô hình 2 khu
vực, mô hình 4 khu vực xem khu vực nông nghiệp gồm khu vực sản xuất
nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận (cash crops) và khu vực sản xuất lương thực
tiêu dùng trong nước (food crops) thay vì một khu vực đơn nhất.
HÌnh 1.3 Mô hình 4 khu vực
2.1.2 Tác động
• Hiệu ứng di chuyển nguồn lực
Về cơ bản, mô hình 4 khu vực cũng thừa nhận tác động duy chuyển
nguồn lực như mô hình 2 khu vực. Tuy nhiên, do có sự phân chia khu vực
chi tiết hơn, mô hình này phân tích các tác động chi tiết hơn.
Cụ thể, đối với khu vực nông nghiệp, hiệu ứng duy chuyển nguồn lực
chỉ ra rằng, do đồng nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh mà khu vực sản
xuất xuất khẩu cash crops sẽ bị thu hẹp lại trong lúc khu vực food crops lại
có xu hướng được mở rộng hơn. Nghiên cứu cụ thể của Benjamin,
Devarajan và Weiner năm 1989 đã cho thấy rõ tác động này. Đó là sự sụt
giảm mạnh mẽ của cash crops trong khi food crops lại phản ứng tích cực với
sự bùng nổ của khai thác dầu ở Camoroon những năm 1979-1985.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực cũng diễn ra tương tự như vậy trong
khu vực công nghiệp. Một số ngành sản xuất như sản xuất hàng tiêu dùng,
sản xuất hàng tư bản…phục vụ cho nhu cầu trong nước có xu hướng phát
đạt hơn do dòng ngoại tệ làm cầu tăng. Trong lúc các ngành công nghiệp sản
xuất xuất khẩu có dấu hiệu suy thoái do mức độ cạnh tranh giảm. Ngoài ra,
mô hình 4 nhân tố cũng chỉ ra rằng, các ngành sản xuất hàng tư bản thường
có mức tăng trưởng cao hơn các ngành hàng tiêu dùng do dòng ngoài tệ
thường được ưu tiên cho việc đầu tư như phát triển cơ sở hạ tầng…
• Hiệu ứng tiêu dùng
Về hiệu ứng tiêu dùng, mô hình 4 khu vực không có nhiều khác biệt
hàng chế tạo (41.32% xuất khẩu), dầu mỏ (28.28%), than (13.17%), và cà
phê (6.25%)
Những năm 1970, sự mất màu cà phê ở Braxin vào đã châm ngòi cho sự
tăng lên mạnh mẽ của giá cà phê ở Columbia vào đầu những năm này, đồng
thời làm cho lượng cà phê xuất khẩu của quốc gia này tăng vọt.
Hình 2.1 Giá cà phêtại Colombia giai đoạn 1975-77 Nguồn : IMF
Qua biểu đồ chúng ta thấy rằng từ năm 1967-1975 giá cà phê là đã tăng vọt
từ 80$ lên gần 250$, đỉnh điểm là vào năm 1977, mức tăng hơn 300%, trung
bình mỗi năm giá cà phê tăng trên 40%.
Giá cao đã làm giá trị lượng cà phê xuất khẩu của Columbia đáng giá hơn
trước rất nhiều. Một dòng ngoại tệ mạnh ồ ạt đổ vào trong nước. Kết quả tỷ
giá hối đoái (USD/peso) đã tăng rất mạnh trong giai đoạn này. Nếu lấy năm
1970 làm mốc thì trong suốt giai đoạn từ 1971 đến 1983, tỷ giá hối đoái đã
tăng gần 40%.
Hình 2.2 Đồ thị tỷ giá hối đoái dollar/ peso giai đoạn 1967-1983 Nguồn: IMF
Sự gia tăng đột biến giá trị cafe đã làm ngành nông nghiệp nhiệt đới này
phát triển mạnh mẽ. Nếu như trong giai đoạn 1970-1975 tốc độ tăng trưởng
của khu vực này chỉ khoảng 4%/năm thì trong giai đoạn 1976-1981 tốc độ
này đã được nhân lên gấp 3 lần- khoảng 12%/năm.
Hình 2.3 Tình trạng “bùng nổ” ở khu vực sản xuất cà phê 1967-1983
Nguồn: IMF