Tiểu Luận Tội phạm rửa tiền theo pháp luật quốc tế và Việt Nam. Các chế định về tội phạm ma túy trong các Công tác xử lý - Pdf 26

Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
MỤC LỤC
BÀI LÀM
I . Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo pháp
luật quốc tế và Việt Nam.
1. Khái niệm tội phạm rửa tiền trong pháp luật quốc tế và pháp luật
Việt Nam:
Trong pháp luật quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm
tham nhũng và Công ước Palermo (2000) của Liên hợp quốc quy định:
1
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
rửa tiền là các hoạt động chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản khi
biết tài sản đó có nguồn gốc từ các hành vi phạm tội, hoặc tham gia vào
hành vi nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của
tài sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào tham gia vào hành vi này,
hoặc giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc
định đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc quyền
sở hữu tài sản khi biết rằng tài sản đó có được từ hành vi phạm tội, hoặc
có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận nó
đã biết rằng tài sản này có được từ hành vi phạm tội.
Điều 6 Công ước palermo quy định cần phải quy định thành tội phạm
hình sự hành vi hợp pháp hóa tài sản do phạm tội mà có, Điều 23 Công
ước Liên hợp quốc về phòng chống tội tham nhũng quy định về hành vi
tẩy rửa tài sản đã cho thấy bản chất của hành vi rửa tiền. Như vậy có thể
định nghĩa khái quát rửa tiền là hoạt động bất hợp pháp, sử dụng các
phương thức, biện pháp nhằm hợp pháp hóa các tài sản do phạm tội mà
có và được pháp luật quốc tế quy định là tội phạm.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS)
1999 tội danh Hợp pháp hoá tiền, tài sán do phạm tội mà có (Điều 251
BLHS). Khoản 1 Điều 215 BLHS định nghĩa: “Người nào thông qua
các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp

Trong cấu thành tội phạm (CTTP) tăng nặng có bổ sung một số tình tiết
tăng nặng tại khoản 2 như: Có tính chất chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt; tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn; thu lợi bất chính
lớn, gây hậu quả nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm.
2. Đặc điểm của tội rửa tiền
Qua khái niệm rửa tiền được định nghĩa trong pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam có thể thấy tội rửa tiền có những dấu hiệu pháp lí
như sau:
- Có việc thực hiện các hành vi như trong định nghĩa đã phân tích ở
trên.
- Đối tượng tác động của tội phạm là tiền, các loại tài sản do phạm
tội mà có, với bất kì loại tội gì mà người đó hoặc người khác đã thực
hiện mang lại số tiền và tài sản bất hợp pháp.
- Người thực hiện hành vi phạm tội có thể là bất cứ người nào có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi theo luật định.
Nguời đó hoặc người khác đã có hành vi phạm tội nên có được số tài sản
bất hợp pháp mà người phạm tội muốn hợp pháp hoá.
- Về ý thức chủ quan, người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp, họ nhận
thức được đó là tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc nhận biết rõ tiền,
tài sản do chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm
tội mà có và với mong muốn hợp pháp hoá số tiền, tài sản đó.
4
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
II/ Phân tích nội dung cơ bản về quy định tội phạm ma túy trong các
Công ước của Liên Hợp quốc.
Pháp luật quốc tế có nhiều văn bản quy định về tội phạm ma túy, tuy
nhiên điển hình nhất vẫn là ba công ước đó là Công ước năm 1961 và
nghị định thư bổ sung cho công ước, Công ước năm về các chất hướng
thần 1970, Công ước năm 1988 về chống buôn bán ma túy, chất hướng
thần.

- Tổ chức, chỉ đạo hoặc tài trợ cho bất kỳ hành động phạm tội nào
quy định tại các điểm hành vi nói trên;( Điều 3 Công ước 1988).
Dựa theo những quy định của Hiến pháp và những khái niệm cơ bản
của hệ thống pháp luật của mình, mỗi bên có những biện pháp cần thiết
để coi là tội phạm hình sự theo luật riêng của mình, khi hành vi đó là cố
ý sử dụng, tàng trữ hoặc trồng các loại cây có chất ma tuý hoặc chất
6
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
hướng thần phục vụ cho mục đích cá nhân trái với những quy định của
Công ước 1961, Công ước 1961 sửa đổi hoặc Công ước 1971.
Khoản 2 Điều 22 Công ước 1971 quy định rằng: Tuân theo những
giới hạn trong Hiến pháp của một bên, hệ thống pháp luật trong nước
của họ thì nếu một loạt các hành vi có liên quan với nhau cấu thành các
tội theo quy định tại trong khoản 1 điều luật này được thực hiện ở các
nước khác nhau thì từng hành vi đó bị coi như những tội riêng.
2 . Các quy định về hình phạt:
Các công ước đã đưa ra khuyến nghị các tội phạm về ma túy cần
được trừng trị bằng những hình phạt nghiêm khắc như phạt tù hoặc các
biện pháp tước quyền tự do khác.
Cụ thể trong công ước năm 1971 có quy định: “Tuân theo những giới
hạn trong Hiến pháp của mình, từng bên coi là một tội phạm bất kỳ
hành vi nào cố ý làm trái với luật hoặc quy định được ban hành để thực
hiện nghĩa vụ của bên đó theo Công ước này, và bảo đảm để các tội
phạm nghiêm trọng phải bị trừng trị thích đáng, đặc biệt là bằng hình
phạt tù hoặc các hình phạt tước tự do khác.” ( Khoản a Điều 22 Công
ước 1971)
Công ước cũng khuyến nghị bên cạnh hình thức phạt tù cần đưa ra
các hình phạt bổ sung về tiền, tịch thu tài sản…
Công ước còn quy định các chế tài riêng cho người nghiện mà túy
thực hiện các tội phạm ma túy.Mặc dù có điểm trên đây, khi người lạm

a) Việc tham gia hành vi phạm tội của một nhóm tội phạm có tổ chức
mà kẻ phạm tội là một thành viên;
b) Việc kẻ phạm tội tham gia vào những hoạt động phạm tội có tổ
chức mang tính chất quốc tế khác;
c) Việc kẻ phạm tội tham gia vào những hoạt động bất hợp pháp khác
được tạo điều kiện bởi hành vi phạm tội;
d) Việc kẻ phạm tội sử dụng vũ lực hoặc vũ khí;
e) Trên thực tế, kẻ phạm tội là người có chức vụ và đã lợi dụng chức
vụ đó để phạm tội;
f) Lôi kéo hoặc sử dụng người chưa thành niên để phạm tội;
g) Phạm tội trong trại giam hoặc trong cơ sở giáo dục hoặc cơ sở
dịch vụ xã hội hoặc trong vùng lân cận hoặc ở những nơi học sinh và
sinh viên đến để chơi, thể thao, học hành và các hoạt động xã hội khác;
h) Bị kết án trước đó đặc biệt đối với những hành vi phạm tội tương
tự dù ở trong nước hay nước ngoài, trong phạm vi mà luật hiện hành
của mỗi bên cho phép.
(
1
)
1 : Khoản 5 Điều 3 Công ước Liên Hợp Quốc về chống buôn bán trái phép các chất ma túy và chất hướng thần năm
1988.
9
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
Như vậy các công ước đều đã chỉ ra các hành vi phải được coi là tội
phạm ma túy và cũng khuyến nghị đưa ra các hình phạt thích đáng cho
loại tội phạm này. Ngoài ba công ước trên còn nhiều các công ước song
phương, đa phương khác cũng quy định về tội phạm ma túy này; các
công ước quốc tế là định hướng để các quốc gia xây dựng pháp luật
riêng của mình để điều chỉnh và trừng trị tội phạm ma túy cũng như các
tội phạm liên quan đến ma túy và các chất hướng thần.

nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên trong đấu tranh phòng
chống tội phạm.
Chính phủ Việt Nam rất coi trọng hợp tác quốc tế trong phòng, chống
ma tuý, bằng việc tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa
phương trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý với các nước, các tổ chức
phi Chính phủ, đặc biệt với sự hỗ trợ của Tổ chức phòng, chống tội
phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC), với các nước tiểu vùng
sông Mêkông và với các quốc gia có chung đường biên giới Ngày
01/9/1997, Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra
11
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
Quyết định số 798/QĐ-CTN về việc tham gia 3 Công ước quốc tế về
kiểm soát ma tuý đó là: Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm
1961; Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước của
Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các
chất hướng thần năm 1988. Việc tham gia của các quốc gia vào Công
ước đã tạo điều kiện cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy có
hiệu quả, kể cả việc đạt được những mục tiêu trong các Công ước.
Hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma tuý. Dự báo thời gian tới tội phạm ma tuý ở Việt
Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới sẽ gia tăng và có nhiều diễn
biến phức tạp. Cuộc đấu tranh phòng, chống ma tuý của Việt Nam cũng
như trên toàn cầu sẽ còn nhiều khó khăn, vất vả. Thời gian tới, trên cơ sở
Hiệp định và các cam kết với các quốc gia, các cơ quan chức năng của
Việt Nam và các bên cần tăng cường hơn nữa, đồng thời mở rộng quan
hệ hợp tác với các nước khác để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới.
12
Bài tập học kỳ Trương Vũ Cầm Thanh – MSSV: 340426 – N03
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công ước Palermo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status