TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 -2015)
Đề tài:
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. THẠCH HUÔN
Bộ môn: Luật Thương Mại
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN NGỌC THOA
MSSV: 5115934
Lớp: Luật Thương Mại 2
Cần Thơ,
tháng 12/2014
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của sinh viên ở
giảng đường Đại học. Để làm tốt bước ngoặc này và tham gia báo cáo ngày hôm nay em
đã được sự giúp đỡ, hỗ trợ, hướng dẫn và động viên từ gia đình, quý thầy cô cùng bạn bè.
Nay cho em xin phép được gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành đến:
Các thầy cô Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức
quý báo trong suốt quá trình học để từ đó em phát triển thêm vốn hiểu biết của mình để
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần thơ, ngày…. tháng 12 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
2.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................... 2
3.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
4.
Phương pháp nghiên cứu đề tài .............................................................................2
5.
Bố cục của đề tài......................................................................................................2
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM
1.1 Một số khái niệm có liên quan đến quyền con người của người bị tạm giam ....3
1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân ...............................................3
1.1.1.1 Quyền con người ..................................................................................3
1.1.1.2 Quyền công dân ....................................................................................4
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giam ............................................................................5
1.1.2.1 Tạm giam ..............................................................................................5
1.1.2.2 Người bị tạm giam ................................................................................9
1.1.2.3 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam..............................................10
1.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam ............................................11
1.2.1 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật quốc tế 11
1.2.1.1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 .......................................12
2.2.1.6 Bảo đảm quyền được suy đoán vô tội của người bị tạm giam ...........36
2.2.1.7 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giam..............................37
2.2.1.8 Người bị tạm giam được bảo đảm về quyền tiếp cận thông tin .........39
2.2.1.9 Người bị tạm giam được bảo đảm về chế độ sinh hoạt......................41
2.2.2 Nghĩa vụ của người bị tạm giam .....................................................................44
2.2.3 Cơ chế bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam ............................. 45
2.2.3.1 Các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật của
Nhà nước .................................................................................................................45
2.2.3.2 Các biện pháp về chế độ trách nhiệm ................................................47
2.2.3.3 Xử lý vi phạm quyền con người ..........................................................48
2.2.3.4 Thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ...............48
2.3 Thực tiễn đảm bảo quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động tố
tụng hình sự ở Việt Nam .............................................................................................. 49
2.3.1 Những bất cập trong quy định về việc áp dụng biện pháp tạm giam của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003.................................................................................49
2.3.1.1 Căn cứ tạm giam ................................................................................50
2.3.1.2 Đối tượng bị tạm giam .......................................................................52
2.3.1.3 Thẩm quyền quyết định việc tạm giam ...............................................52
2.3.1.4 Thời hạn tạm giam .............................................................................53
2.3.2 Các nguyên tắc và một số quyền quan trọng của người bị tạm giam ............55
2.3.2.1 Nguyên tắc tranh tụng ........................................................................55
2.3.2.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội ................................................................57
2.3.2.3 Quyền bào chữa .................................................................................57
2.3.2.4 Quyền thăm thân ................................................................................58
2.3.2.5 Quyền im lặng ....................................................................................59
2.4 Kiến nghị và đề xuất hoàn thiện về việc đảm bào quyền của người bị tạm
trong pháp luật tố tụng hình sự ..................................................................................61
2.4.1 Sửa đổi các quy đinh về tạm giam trong bộ luật Bộ Tố tụng hình sự năm
vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và
pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng mới đây cũng tiếp tục đặt ra
nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy
mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư
pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”.
Hoạt động tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt
chẽ với quyền con người. Hoạt động tố tụng hình sự là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà
nước được áp dụng phổ biến nhất. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình
sự, các biện pháp ngăn chặn có một vị trí đặc biệt quan trọng. Việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn gắn liền với việc hạn chế các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tạm giam
là biện pháp ngặn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn còn lại. Người
bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ trốn bị bắt để tạm giam
mà đối với họ đã có lệnh tạm giam
Thực tế trong những năm qua cho thấy rằng cũng còn nhiều trường hợp vi phạm
quyền con người trong quá trình tiến hành tố tụng. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều
nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của
người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan,
người tiến hành tố tụng đối với công dân,... Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa trực
tiếp ghi nhận nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, chưa đưa ra khái niệm
tạm giam, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam còn nhiều bất cập, quyền và nghĩa vụ của
người bị áp dụng biện pháp tạm giam chưa được quy định cụ thể,… Vì vậy, nhận thức
được tầm quan trọng trong nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người đặc biệt là của chủ
thể người bị tạm giam trong tố tụng hình sự từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp
luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong công cuộc cải cách tư pháp nói riêng ở nước ta,
GVHD: Th.S Thạch Huôn
1
sự cần thiết, phương hướng, giải pháp tăng cường sức mạnh của hành lang pháp lý về
quyền con người, quyền công dân, quyền của người bị tạm giam.
5. Bố cục của đề tài
Phần mở đầu, phần kết luận và mục lục, đề tài được trình bày gồm 2 chương:
Chương 1. Những vấn đề cơ bản về bảo đảm quyền con người của người bị tạm
giam
Chương 2. Pháp luật về quyền con người của người bị tạm giam, thực tiễn ở
Việt Nam và những đề xuất
GVHD: Th.S Thạch Huôn
2
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và cũng luôn luôn
là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người và quyền công dân là hai quyền
năng không thể tách rời nhau. Quyền công dân là những đặc lợi mà người có quốc tịch
của một quốc gia nhất định được hưởng do pháp luật quốc gia đó quy định. Hoạt động tố
tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền con
người, quyền công dân. Vì thế việc đảm bảo quyền của các chủ thể tham gia tố tụng, đặc
biệt là đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam là rất quan trọng cho việc đảm bảo
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người. Trong tác
phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền
con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có của con người được ghi nhận và bảo
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.2
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng
đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị
đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ
bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự
do...; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa
bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác
định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Nhờ có
những chuẩn mực này mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân
phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con
người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền
con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi
giai đoạn lịch sử. Trong một cuộc khảo sát gần đây do CNN – một trong các cơ quan
truyền thông nổi tiếng nhất thế giới tiến hành, quyền con người được xem là một trong
mười phát minh làm thay đổi thế giới.3
Liên quan đến khái niệm trên, cũng cần lưu ý rằng thuật ngữ human rights trong
tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (theo tiếng thuần Việt) hoặc quyền con
người (theo Hán – Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con
người”4. Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn
có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về quyền
Người nước ngoài, người không có quốc tịch là những người không có quốc tịch
của nước sở tại, nên không phải là công dân của nước đó, vì vậy, không được hưởng các
quyền và không phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân mà pháp luật nước đó quy định.
Tuy nhiên, họ cũng có những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định do pháp
luật nước sở tại quy định và tổng thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý này tạo nên địa vị
pháp lý của họ với tính chất là người nước ngoài, người không có quốc tịch trong xã hội.
Điểm chung nhất của công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch là mặc dù
họ có địa vị pháp lý khác nhau, nhưng họ đều được hưởng quyền con người, bởi lẽ, họ
đều là con người.
Các Hiến pháp của Nhà nước ta đều quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân. Trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 (sau đây gọi tắt
là Hiến pháp năm 1946), quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại chương III –
Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa năm 1959 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 1959), được quy định tại Chương
V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa năm 1992 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 1992) được quy định tại Chương V
– Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp năm 2013 được quy định tại
Chương II – Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền công dân như sau: quyền
công dân là những đặc lợi mà người có quốc tịch của một quốc gia nhất định được
hưởng do pháp luật quốc gia đó quy định.
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giam
1.1.2.1 Tạm giam
Nghiên cứu về tố tụng hình sự của Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp,…
cho thấy, Bộ luật tố tụng hình sự của các nước này quy định khác nhau về căn cứ, thẩm
quyền áp dụng biện pháp tạm giam, nhưng có một điểm chung là đều không có định
nghĩa pháp lý của khái niệm tạm giam.
Điều 108, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định: “1. Tạm giam với tư
cách là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của Tòa án đối với người bị
tình nghi hoặc bị can về tội mà luật hình sự quy đinh hình phạt tước tự do trên hai năm
sát tư pháp theo quy định tại Điều 137, thì có thể ra lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm
giam khi:
1. Việc tạm giam bị can là biện pháp duy nhất để bảo vệ chứng cứ, dấu hiệu phạm
tội, để ngăn chặn việc gây áp lực đối với người bị hại, người làm chứng hoặc để ngăn
chặn sự thông đồng giữa bị can với những người đồng phạm;
2. Việc tạm giam là cần thiết để bảo vệ đương sự, chấm dứt tội phạm, ngăn ngừa
tái phạm, đảm bảo sự giám sát của Tòa án đối với đương sự hoặc để giữ gìn trật tự xã
hội.
Cũng có thể ra lệnh tạm giam theo quy định tại Điều 141-2 khi bị can cố ý trốn
tránh những nghĩa vụ liên quan đến biện pháp giám sát tư pháp”7.
Trong các văn bản pháp luật Việt Nam thì tạm giam với tính chất là biện pháp ngăn
chặn lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về bảo
đảm về tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật thư tín của nhân
Về tự do cá nhân và các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,
tr.122.
6
Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1993, tr.13.
7
Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.88.
5
GVHD: Th.S Thạch Huôn
6
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
So với các văn bản pháp luật tương ứng trước đó, quy định trên thể hiện bước tiến
bộ về mặt kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự
do thân thể của con người.
8
9
Tập hệ thống luật lệ về tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1976, tr.86.
Hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, tập II, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1979, tr.27
GVHD: Th.S Thạch Huôn
7
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, tạm giam được quy định tại các Điều 70,
71, 72, 73 trong đó đối tượng bị áp dụng biện pháp này chỉ có thể là bị can, bị cáo.
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 (BLTTHS 1988) chưa đưa ra định nghĩa pháp lý
của khái niệm tạm giam, nhưng những quy định nói trên đã thể hiện sự tiến bộ về mặt kỹ
thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta về biện pháp ngăn chặn này và hoàn toàn phù
hợp với khoản 1 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày
16/2/1966: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân. Không ai bị bắt
hoặc giam giữ vô cớ. Không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải
theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định”10.
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tạm giam được quy định cụ thể hơn so với
Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.181.
GVHD: Th.S Thạch Huôn
8
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có lệnh
tạm giữ hoặc lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn
chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm
bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình”. Khái niệm trên đã chỉ ra được mục đích của
biện pháp tạm giam, nhưng nhược điểm của nó là chưa phân biệt được tạm giữ với tạm
giam.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong thời hạn tương đối dài, thậm
chí có những trường hợp còn dài hơn cả mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn; nó
không chỉ tạm thời hạn chế tự do thân thể, mà còn tạm thời hạn chế tự do đi lại và các
quyền tự do cá nhân khác, nhưng không có mục đích trừng phạt, giáo dục cải tạo người bị
áp dụng, mà nhằm giải quyết vụ án một cách công minh, khách quan và đúng pháp luật.
Biện pháp tạm giam không phải là hình phạt, vì vậy không thể tước tự do đối với bị can,
bị cáo là những người chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là
đặc điểm phân biệt “tạm giam” với “giam”. “Giam” là biện pháp chấp hành hình phạt tù,
người bị kết án phải cải tạo và sinh sống trong trại cải tạo (trại giam) một thời gian bằng
hạn tù mà Tòa án đã tuyên. Vì vậy, Điều 89 BLTTHS 2003 quy định: “Chế độ tạm giữ,
tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù”.
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
Thứ hai, bị can, bị cáo này phạm tội nghiêm trọng15 hoặc phạm tội ít nghiêm trọng16.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 88, BLTTHS 2003 thì không phải tất cả những
người phạm tội ít nghiêm trọng đều có thể bị tạm giam. Chỉ có thể tạm giam đối với
những người phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung
năm 2009 (BLHS 1999) quy định hình phạt tù trên 2 năm. Có căn cứ cho rằng người đó
có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Để xác
định bị can, bị cáo có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội
hay không phải căn cứ vào một số hành vi của từng bị can, bị cáo trong từng vụ án cụ thể.
Đối tượng bị tạm giam cũng có thể là người bị kết án tù hoặc tử hình nếu có căn cứ
cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội được quy định tại Điều 228 BLTTHS
2003:
“1. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày kết thúc phiên
tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo
đảm việc thi hành án, trừ trường hợp bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo
hoặc thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
2. Trong trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù thì họ chỉ bị bắt
tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử
có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn
hoặc tiếp tục phạm tội.
3. Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là bốn mươi
lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
4. Đối với bị cáo bị phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản án việc
tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án”.
Như vậy, từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm người bị tạm giam như
pháp lý là những phương tiện và biện pháp được pháp luật quy định, mà bằng những
phương tiện và biện pháp đó, quyền của công dân được bảo vệ; ngăn chặn và loại trừ vi
phạm”18.
Có thể đồng quan điểm của M.X.Xtrôgôvich và cho rằng, bảo đảm pháp lý đối với
quyền và tự do của công dân là việc quy định và áp dụng những biện pháp, phương tiện
được pháp luật quy định để bảo vệ và thực hiện quyền và tự do của công dân trên thực tế.
Cần nhấn mạnh rằng, bảo đảm quyền và tự do của công dân có mối quan hệ chặt chẽ với
bảo đảm pháp chế. Ở đâu pháp chế được tuân thủ, ở đó tồn tại sự bảo đảm pháp lý đối với
các quyền, tự do của công dân.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự như sau: Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự là việc quy định và thi hành những biện
pháp, phương tiện do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm thực hiện quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị tạm giam cũng như thực hiện nhiệm vụ của tư pháp hình sự trong
tố tụng hình sự.19
1.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam
1.2.1 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật quốc tế
Tạm giam luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc
gia, đây là một trong các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản
của con người, trong đó có quyền tự do về thân thể đã được pháp luật quốc tế tôn trọng
và bảo vệ. Tuy nhiên, về vấn đề tạm giam trong pháp luật quốc tế hiện nay vẫn chưa có
những quy định cụ thể, riêng biệt mà vấn đề này chỉ được xác định qua một số văn bản
pháp lý quốc tế có liên quan. Trong nội dung bài viết này, người viết xin đề cập và trao
đổi về một số quy định tạm giam trong một số văn bản pháp lý quốc tế đang có hiệu lực
hiện nay.
Thứ nhất, một số quy định chung về biện pháp tạm giam trong các điều ước quốc tế
đa phương.
17
Điều 9 của Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế về việc bảo vệ quyền tự do và bất khả xâm
phạm về thân thể của con người bằng những quy định khá chi tiết, theo đó:
“Mọi người đều có quyền được hưởng tự do và an toàn cá nhân; không ai bị bắt
hoặc bị giam giữ vô cớ; không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó
là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định.
Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do
họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ. Bất cứ người
nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ
quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời
hạn hợp lý hoặc được trả tự do; việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử
không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo
những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi
hành án nếu bị kết tội.
Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu
được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ
về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là
bất hợp pháp.
Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp
đều có quyền được yêu cầu bồi thường.”
Ngoài những nội dung đã được nêu cụ thể như trên, trong Bình luận chung số 8
thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, Ủy ban Nhân quyền (HRC) đã giải thích
GVHD: Th.S Thạch Huôn
12
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền miễn trừ đối với những
hành vi trong khi thi hành chức năng của họ.
Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, đối với những người có thân phận
ngoại giao cũng như thành viên gia đình của họ sẽ không bị bắt, tạm giữ, tạm giam khi họ
thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang thực thi nhiệm vụ.
GVHD: Th.S Thạch Huôn
13
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
1.2.1.4 Công ước Viên năm 1963
Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự được thông qua ngày 24 tháng 4 năm 1963
quy định về quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự đối với viên chức lãnh sự. Tại Điều 41 của
Công ước xác định:“Viên chức lãnh sự không bị bắt hay bị tạm giam chờ xét xử, trừ
trường hợp phạm tội nghiêm trọng và theo quyết định của cơ quan tư pháp có thẩm
quyền”. Theo như quy định của công ước thì không như viên chức ngoại giao, viên chức
lãnh sự cũng có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng
theo quy định của nước sở tại và trong trường hợp bắt hoặc tạm giam chờ xét xử hoặc
truy tố về hình sự một cán bộ nhân viên biên chế cơ quan lãnh sự, nước tiếp nhận phải
nhanh chóng thông báo cho người đứng đầu cơ quan lãnh sự. Nếu chính bản thân người
đó là đối tượng của một biện pháp như vậy, thì nước tiếp nhận phải thông báo cho nước
cử qua đường ngoại giao.
Thứ hai, bên cạnh việc quy định cụ thể về bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm bảo vệ và
tôn trọng quyền tự do, bất khả xâm phạm về thân thể của con người trong các điều ước đa
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
cho nước ký kết kia, nước ký kết này không nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ thì phải
trả lại tự do cho người bị tạm giữ. Thời hạn này được quy định không giống nhau trong
các hiệp định. Ví dụ như: Trong các hiệp định Việt Nam ký kết với Cộng hòa dân chủ
Đức cũ, Tiệp Khắc thời hạn này là 02 tháng; các hiệp định ký với Liên Xô cũ, Cu Ba,
Bungary, Cộng hòa dân chủ Lào, Liên bang Nga là 01 tháng; Hiệp định ký với Hungary
là 40 ngày…
Hai là, bắt đối tượng truy nã quốc tế: theo quy định của pháp luật quốc tế trong hoạt
động truy nã tội phạm thì khi cần bắt giữ một đối tượng bị truy nã, Interpol sẽ ban
hành “lệnh truy nã đỏ” và lệnh cho các quốc gia thành viên phải phối hợp truy nã hình sự
các cá nhân phạm tội, tiến hành bắt giữ và chuyển giao tội phạm. “Lệnh truy nã đỏ” là
quy ước truy nã phổ biến và nổi tiếng nhất, đồng thời đây cũng chính là giấy chứng nhận
bắt giữ hình sự mang tính chất tạm thời cho phép các quốc gia thành viên được áp dụng
biện pháp bắt, tạm giữ đối với công dân nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia của mình.
Ngoài ra, theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương thì một quốc gia cũng có thể
bắt giữ một công dân của nước khác bị truy nã đang lẩn trốn ở quốc gia của mình khi có
yêu cầu của quốc gia tham gia hiệp định thông qua các văn phòng Interpol (tổ chức cảnh
sát chống tội phạm quốc tế) ở mỗi quốc gia. Đây vừa là quyền bắt giữ công dân nước
ngoài, đồng thời cũng là nghĩa vụ phải thực hiện của các quốc gia tham gia các hiệp định
quốc tế song phương và đa phương.
Đối với Việt Nam, với vai trò là một thành viên của Liên Hợp quốc, đã tham gia
vào các công ước quốc tế nói trên, việc tuân thủ những quy định của pháp luật quốc tế về
bắt, tạm giữ, tạm giam luôn là một vấn đề quan trọng, điều này cần được thể hiện bằng
việc luật hóa cụ thể các quy định đó trong hệ thống pháp luật nước ta và vận dụng đúng
đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đặc biệt là việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với
những đối tượng là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.20
1.2.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật Việt Nam
1.2.2.1 Trong các bản Hiến pháp
Thứ nhất, ngày 09/11/1946 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
không cần thiết hoặc đối với các đối tượng đặc biệt là người già yếu, phụ nữ có thai hoặc
đang cho con bú (Điều 7, 8),…
Thứ hai, ngày 31/12/1959 Quốc hội thông qua Hiến pháp lần thứ hai của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Hiến pháp một lần nữa khẳng định các nguyên tắc quan trọng về
bảo đảm quyền con người liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án như mọi công dân
bình đẳng trước pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín; nguyên
tắc xét xử công khai; Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; bảo đảm quyền
bào chữa của bị cáo. Ngoài ra, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 có một
số bổ sung rất quan trọng như quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 29);
nguyên tắc giám đốc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao đối với hoạt động xét xử của
Tòa án cấp dưới (Điều 103).
Các nguyên tắc hiến định trên đã được cụ thể hóa và thực hiện trong các luật (như
Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960, Sắc luật số 01/SL-76 ngày 15/3/1976 của
Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam…), Nghị quyết
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản của các cơ quan có thẩm
quyền khác hướng dẫn về công tác xét xử. Ví dụ: cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền
bào chữa cho bị can, bị cáo, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960 quy định
ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình; khi
cần thiết (bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm
thần, bị cáo có thể bị phạt tử hình) và nếu bị cáo không nhờ người bào chữa thì Tòa án
chỉ định người bào chữa cho bị cáo.
Thứ ba, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp thứ ba của nước ta đã có những quy định
hệ thống, cụ thể và tương đối hoàn chỉnh về bảo đảm quyền con người liên quan đến hoạt
động xét xử vụ án hình sự. Ngoài việc quy định các quyền cơ bản của công dân như
quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, quyền
GVHD: Th.S Thạch Huôn
16
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
dân. Theo đó, Hiến pháp đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được
công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14).Quy định
này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền
con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền
công dân.
Nguyễn Tiến Đạt, Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Báo điện tử Trường
Đại học Luật Tp. HCM,
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=377:bqcntvbtgt
g&catid=105:ctc20063&Itemid=109, [truy cập ngày 17/11/2014].
21
GVHD: Th.S Thạch Huôn
17
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa
Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công
ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đó là “Quyền con người,
quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì
lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng
đồng” (Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà
phải “theo quy định của luật”.
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
http://www.moj.gov.vn/thihanhhienphap/News/Lists/giaidapthacmac/View_Detail.aspx?ItemID=5262, [truy cập
ngày 17-11-2014].
GVHD: Th.S Thạch Huôn
18
SVTH: Nguyễn Ngọc Thoa