ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH VÂN
CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH VÂN
CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI
Chuyên ngành : Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Hà nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
1.1 Lịch sử ra đời và các đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiến pháp .............. 11
1.1.1. Lịch sử ra đời của chủ nghĩa hiến pháp ............................................... 11
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiến pháp .................................... 16
1.2. Mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiến pháp và quyền con người ................... 24
1.2.1. Khái quát chung về quyền con người .................................................... 24
1.2.2. Bảo vệ quyền con người là yêu cầu của chủ nghĩa Hiến pháp và nội
dung của nó ................................................................................................ 32
Chương 2 – CHỦ NGHĨA HIẾN PHÁP VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM ................................................... 36
2.1. Sự hình thành chủ nghĩa hiến pháp ở Việt Nam ...................................... 36
2.1.1. Sự xuất hiện của chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam trước khi Hiến pháp
1946 ra đời ................................................................................................. 36
2.1.2. Chủ nghĩa hiến pháp ở Việt Nam từ sau hiến pháp 1946 đến nay ....... 41
2.2. Chủ nghĩa Hiến pháp trong vấn đề bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.
.................................................................................................................... 48
2.2.1. Quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và quan điểm của nhà
nước Việt Nam về quyền con người .......................................................... 48
2.2.2. Tinh thần của chủ nghĩa hiến pháp đối với vấn đề bảo về quyền con
người ở Việt Nam hiện nay ........................................................................ 58
2.3. Những đặc điểm của chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam và vấn đề bảo vệ
quyền con người hiện nay. ......................................................................... 64
2.4. Nhận xét chung về việc xây dựng chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam và
vấn đề bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay ............................... 68
Chương 3 – CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA HIẾN
PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
.................................................................................................................... 71
3.1. Sự cần thiết cũng như những yêu cầu của việc vận dụng chủ nghĩa hiến
pháp phù hợp với đặc điểm chính trị - xã hội ở Việt Nam. ....................... 71
bằng, dân chủ, văn minh để bảo vệ quyền con người. Hiến pháp Việt Nam
cũng khẳng định tư tưởng của Đảng và nhà nước về một nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, quyền lực thuộc về nhân dân.
Có thể nói mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo vệ quyền con
người là những mục tiêu cơ bản của nhà nước Việt Nam hiện nay.
Để xây dựng được nhà nước pháp quyền, thì một trong những yêu cầu
hàng đầu đặt ra là phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện và là cơ sở cao
4
nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng chung. Trong hệ thống
pháp luật, Hiến pháp nằm ở vị trí tối thượng. Hiến pháp được coi là văn bản
gốc là cơ sở nền tảng để hoàn thiện hệ thống pháp luật ở các quốc gia. Hiện
nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hiến pháp. Hiến pháp là cơ sở
để xác định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội; Các quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và Tổ chức bộ máy nhà nước. Thông
qua các quy định thể chế trong hiến pháp, các quyền hợp pháp của con người
của công dân được bảo.
Theo học thuyết xuất hiện từ quốc quốc gia phương tây, khái niệm chủ
nghĩa hiến pháp được hiểu là một xã hội có Hiến pháp và Hiến pháp đó nằm ở
vị trí thượng tôn, là cơ sở để mọi cơ quan chính quyền nhất nhất tuân thủ.
Những quy định trong hiến pháp gắn liền với việc định rõ nhiệm vụ quyền
hạn của tất cả các cơ quan, cán bộ trong bộ máy nhà nước, từ đó dẫn đến hạn
chế quyền lực của các cơ quan công quyền, đẩy lùi sự lạm quyền, chuyên
quyền. Tư tưởng về chủ nghĩa hiến pháp tương đồng với mục tiêu xây dựng
nhà nước pháp quyền và nền pháp chế ở Việt Nam. Và mục đích cơ bản của
chủ nghĩa hiến pháp cũng là bảo vệ các quyền con người.
Trong giai đoạn hiện nay, việc hội nhập quốc tế dẫn đến yêu cầu Việt
Nam phải là một quốc gia dân chủ rộng rãi, hội nhập và phát triển. Pháp luật
hợp với tình hình kinh tế xã hội Việt nam hiện nay nhằm đảm bảo phát huy
các giá trị về quyền con người
Trong các tài liệu giảng dạy, và sách chuyên khảo có một số tác phẩm
cơ bản như “Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến” của nhiều tác giả do Đại
học Quốc gia Hà Nội biên soạn; “Hạn chế quyền lực nhà nước” của
GS.TSKH Nguyễn Đăng Dung v.v.. Tuy nhiên đây là các tác phẩm phục vụ
việc giảng dạy, đi vào phân tích các vấn đề đa chiều về chủ nghĩa hiến pháp,
chưa tập trung vào giải quyết vấn đề chủ nghĩa hiến pháp trong bảo vệ quyền
6
con người ở nước ta.
Bên cạnh đó một số đề tài nghiên cứu khoa học trước đó ở bậc thạc sỹ
liên quan đến vấn đề chủ nghĩa hiến pháp và vấn đề quyền con người như
“Xây dựng các cơ chế nhà nước bảo vệ hiến pháp ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Trịnh Phương Thảo; v.v... Nhưng các đề tài
đó hoặc tập trung nghiên cứu về vấn đề quyền con người, hoặc nghiên cứu về
sự hạn chế quyền lực nhà nước, về nhà nước pháp quyền chứ chưa có luận
văn thạc sỹ nào nghiên cứu về quan hệ giữa chủ nghĩa hiến pháp và quyền
con người.
Với tình hình nghiên cứu trên có thể khẳng định đề tài “Chủ nghĩa hiến
pháp và vấn đề bảo vệ quyền con người” là đề tài nghiên cứu riêng, không bị
trùng lặp với những đề tài đã được nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và lý luận, đánh giá về tinh thần chủ
nghĩa hiến pháp ở Việt Nam cũng như vấn đề bảo vệ quyền con người trên
tinh thần chủ nghĩa hiến pháp, luận văn góp phần làm sáng tỏ các khái niệm,
đặc điểm của chủ nghĩa hiến pháp và vấn đề quyền con người, thực trạng chủ
quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Luận văn sẽ đưa ra được những điểm
mới sau đây:
- Phân tích được các giá trị của chủ nghĩa hiến pháp đối với quyền con
người ở Việt Nam hiện nay.
- Chỉ ra những đặc điểm của chủ nghĩa hiến pháp và sự phù hợp đối đặc
thù nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
8
- Đưa ra được những kiến nghị, giải pháp để sử dụng các giá trị tinh
hoa của chủ nghĩa hiến pháp vào đời sống xã hội Việt Nam hiện nay nhằm
nâng cao hoạt động bảo vệ quyền con người.
7. Cơ sở khoa học của đề tài
7.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp luận và phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
7.2. Cơ sở thực tiễn
Thực trạng Hiến pháp Việt Nam hiện hành.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn sẽ được thực hiện với một khối lượng phù hợp với yêu cầu
trên cơ sở mục đích, phạm vi, nhiệm vụ và mức độ nghiên cứu của vấn đề.
Trên cơ sở yêu cầu trên, luận văn được chia làm 3 phần gồm lời nói đầu, phần
nội dung và phần kết luận.
- Phần mở đầu là lập luận về sự cần thiết của việc lựa chọn đề tài
nghiên cứu và các luận điểm mang tính chất đặt vấn đề.
- Phần nội dung đi sâu vào phân tích những vấn đề nghiên cứu chính
của đề tài đồng thời đưa ra bình luận và giải pháp.
- Phần kết luận tổng kết những vấn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn
vấn đề mà đề tài nêu ra.
* Cụ thể luật văn sẽ có kết cấu như sau:
thống trị trong xã hội. Ở chiều ngược lại, hiến pháp cũng quy định rõ về địa
vị, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ đó hạn chế sự lạm
quyền, vượt quyền của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp quy định thể chế nhà
nước, mục tiêu của hiến pháp là bảo vệ quyền con người, đem lại cho người
dân cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Nhưng với tư cách là công cụ duy
nhất để gìn giữ trật tự công cộng, Hiến pháp không tránh khỏi sự chuyên chế?
Vậy làm cách nào để không sa vào việc lạm dụng quyền lực nhà nước mà vẫn
đảm bảo ấn định đủ quyền lực cho người cầm quyền? Giải pháp này chính là
thuyết Hiến pháp trị hay còn gọi là chủ nghĩa Hiến pháp.
11
Các lý thuyết chính trị tiến bộ hiện đại đã thể hiện trên thực tế qua quá
trình đấu tranh cho chủ nghĩa hiến pháp. Thắng lợi sớm nhất và vẻ vang nhất
là thắng lợi đạt được tại nước Anh. Giai cấp thương nhân ngày càng lớn
mạnh, trước kia ủng hộ chế độ quân chủ Todor 13 trong thế kỷ 16, đã lãnh
đạo cuộc đấu tranh cách mạng trong thế kỷ 17 và được quyền thiết lập tối cao
của Quốc hội và sau đó là quyền tối cao của Hạ nghị viên. Đặc điểm của chủ
nghĩa hợp hiến hiện đại không xuất phát từ cuộc đấu tranh đó, không phải là
việc đòi hỏi nhà vua cũng phải tuân theo pháp luật. Tuy quan điểm này là một
đặc tính cốt yếu của chủ nghĩa hợp hiến nhưng thực ra nó đã được hình thành
rõ rệt từ thời kỳ trung cổ. Điểm độc đáo của chế độ này là việc thiết lập các
phương tiện kiểm soát chính trị hữu hiệu để thi hành chế độ chính trị. Chủ
nghĩa hiến pháp hiện đại được khai sinh với đòi hỏi là đại diện chính quyền
phải lệ thuộc vào nhân dân.
Hơn thế nữa, chủ nghĩa hiến pháp hiện đại liên quan mật thiết với kinh
tế và chủ thể của nguồn tài chính, tức là người đóng thuế để nuôi chính quyền
phải được hiện diện trong chính quyền đó. Nguyên tắc nguồn cung cấp kinh tế
phải gắn liền với việc sửa sai các điều khiếu nại là điều cốt yếu trong chủ
các cá nhân vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ, so với các khuyết điểm của một
“nhà nước tự nhiên” là tình trạng giả định trong đó không có một thẩm quyền
nào cai trị cả. Ý tưởng “khế ước xã hội” phản ánh nhận thức của một tập thế
sinh động – chứ không phải là một chính quyền – phải được thành lập thì mới
có được một chính thể tự do trong đó con người mới được bảo vệ và chống lại
sự tấn công của các ý tưởng mê muội gây ra sự hỗn loạn, nạn chuyên chế và
tình trạng nổi loạn chống lại trật tự hợp lý của con người. Trong luận cương
liên bang số 2, John Jay nhận xét rằng, cá nhân phải nhường một số quyền tự
nhiên của họ cho xã hội thì chính quyền mới có quyền lực cần thiết để hành
động nhằm bảo vệ lợi ích chung. Do đó, sự tham gia của công dân vào một
nên dân chủ theo Hiến pháp cũng đòi hỏi người công dân phải có trách nhiệm
13
tôn trọng luật và các quyết định của tập thể trong các quyết định công cộng,
ngay cả khi cá nhân hoàn toàn không đồng ý với các đạo luật và quyết định
đó. Những đối tượng vô chính phủ, tự coi mình là thần thánh, những kẻ có
khuynh hướng độc tài, toàn quyền thao túng pháp luật cần phải loại bỏ khỏi
xã hội. Hobbles, Locke và các bậc khai sáng nước Mỹ cũng ảnh hưởng công
việc đó. Đó là điều kiện cốt yếu của một xã hội dân sự, không có nó thì xã hội
không thể tồn tại. Các luật lệ và chính sách của một chính quyền theo hiến
pháp không những chỉ có tầm mức giới hạn và căn cứ vào sự thỏa thuận mà
còn phải có nhiệm vụ phục vụ cho sự an sinh của mọi người trong xã hội và
còn cho từng cá nhân trong xã hội đó. Các chính khách Mỹ - từ những nhà
cách mạng đến những người soạn hiến pháp đều coi đó là di sản của lịch sử
Hoa Kỳ. Di sản đó bắt đầu xuất hiện từ tuyên ngôn độc lập 1976, qua các điều
khoản của liên bang (1781) tới khi kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng
(1787) Revolutionary War (1783), lúc hình thành hiến pháp 1787 và việc phê
chuẩn bộ luật về quyền (1791) (Bill off Right) (1791).
của Mỹ đã chấp thuận 10 tu chính đầu tiên của Hiến pháp. Năm 1791, Bộ luật
về quyền, gồm 10 điều tu chính này đã được đủ số tiểu bang phê chuẩn. Bộ
luật về quyền giới hạn khả năng chính quyền xâm phạm vào các quyền tự do
các nhân. Kiềm chế khả năng nhà nước xâm phạm quyền tự do của công dân
là đề tài của các tu chính án số 13 (1865), 14 (1868), 15 (1870), được mệnh
danh là các tu chính án kiến thiết. Những phát triển đó, đi kèm theo các phong
trào phản đối và bất tuân theo pháp luật của quần chúng, phản ánh những thay
đổi và cảm nhận của con người và tập tục xã hội hoa kỳ trong 200 năm qua.
Bản hiến pháp năm 1787 tại Hoa Kỳ là một cơ sở quan trọng của việc
xuất hiện chủ nghĩa Hiến pháp tại Hòa Kỳ và có ảnh hưởng lớn trên khắp thế
giới. Sau đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hiến pháp của quốc gia
15
mình, và kèm theo đó là chủ nghĩa Hiến pháp ra đời trên hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Sau hai cuộc thể chiến thế giới kết thúc, tiếp theo là sự sụp đổ
của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã tạo nên tật
tự thế giới như hiện nay. Tư tưởng chủ nghĩa hiến pháp ngày càng phát triển
và lan rộng là cơ sở cho việc đảm bảo xã hội dân chủ, hạn chế quyền lực nhà
nước thông qua đó bảo vệ quyền con người.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiến pháp
Mặc dù chủ nghĩa Hiến pháp đã hình thành tương đối lâu ở các nước
phát triển, tiêu biểu nhất là Hoa Kỳ và phát triển hầu hết ở các quốc gia trên
thế giới tuy nhiên để đưa ra một khái niệm chung nhất, rõ ràng nhất về chủ
nghĩa hiến pháp thì hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể được thừa nhận
rộng rãi về chủ nghĩa Hiến pháp. Chủ nghĩa Hiến pháp trong từ gốc tiếng anh
là Constitutionalims, có thể dịch là chủ nghĩa hợp hiến hoặc chủ nghĩa Hiến
pháp. Trong nhiều tài liệu khác nhau, có thể có cách sử dụng thuật ngữ khác
nhau về quan điểm của các tác giả. Khi dịch sang nghĩa tiếng Việt, mặc dù
mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai. Mọi đường lối, chính sách đều
phải dựa trên cơ sở của pháp luật. Nghĩa là mọi hoạt động của tổ chức nhà
nước đều phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, như phân cấp, phân
quyền. Trong xã hội tồn tại nhiều những quy phạm điều chỉnh hành vi của con
người. Tuy nhiên, Pháp luật là công cụ hàng đầu để điều chỉnh hành vi con
người. Thông qua hệ thống pháp luật, nhất là Hiến pháp, hành vi của con
người được diều chỉnh theo một mẫu chung, thông nhất và được đảm bảo
bằng các chế tài, chính vì vậy đảm bảo được thực hiện trong đời sống cũng
như sự tuân thủ. Đối với nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa hiến pháp, người
quản lý nhà nước chỉ là người được trao quyền, thực hiện quyền trên cơ sở
của pháp luật chứ không được lạm dụng pháp luật là công cụ riêng. Bản chất
17
họ cũng chỉ là người tuân thủ và thực hiện pháp luật trong xã hội. Khác với
pháp luật trong nhà nước pháp trị, pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải
có mục tiêu bảo vệ con người. Con người được phép làm tất cả những gì mà
mình không bị pháp luật cấm. Trong đặc điểm này, cần đảm bảo vị trí tối
thượng của Hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật gốc, là luật cơ bản. Các văn bản
luật trong hệ thống phải mang tính chất đồng bộ không được trái với các quy
định của Hiến pháp.
Thứ hai, Nhà nước bị hạn chế quyền lực. Một đặc điểm cơ bản của chủ
nghĩa Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền là quyền lực của nhà nước bị hạn
chế. Sự hạn chế quyền lực của nhà nước như đã phân tích trên được thực hiện
trên cơ sở hệ thống pháp luật mà trung tâm là hiến pháp. Hạn chế quyền lực
nhà nước mục đích để bảo vệ nhân quyền, quyền cá nhân. Một trong những
đối tượng điều chỉnh cơ bản của Hiến pháp là chế độ chính trị và tổ chức bộ
máy nhà nước. Trên cơ sở chế độ chính trị của Nhà nước sẽ phát sinh tương
ứng với bộ máy nhà nước. Hạn chế quyền lực nhà nước ở đây là hạn chế về
mà con người trong một nhà nước dân chủ phải có như quyền bầu cử, quyền
tham gia vào các hoạt động của nhà nước, các quyền về tự do dân chủ và tự
do cá nhân. Thừa nhận các quyền con người rộng rãi và đảm bảo để những
quyền đó được thực thi trong đời sống xã hội chính là yêu cầu cơ bản của một
nhà nước dân chủ. Do đó, chủ nghĩa hiến pháp phải đảm bảo những yếu tố cơ
bản như: Hiến pháp của quốc gia đó phải ghi nhận những quyền cơ bản của
con người, những quyền cơ bản của công dân; Hiến pháp phải có cơ chế đảm
bảo việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân. Tinh thần của chủ
nghĩa hiến pháp trong vấn đề này nằm ở chỗ quyền của con người, quyền của
công dân phải là vấn đề cốt lõi trong mỗi hiến pháp, và mục tiêu của mỗi Hiến
pháp phải là bảo vệ các quyền cơ bản đó.
19
Thứ tư, có sự phân chia quyền lực (hoặc sự phân công nhiệm vụ rõ
ràng với từng nhóm quyền lực). Như đã phân tích trong đặc điểm thứ hai, có
nhấn mạnh một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiến pháp là quyền lực nhà
nước bị hạn chế. Một trong những yêu cầu cơ bản của sự hạn chế quyền lực
chính là phải có sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước. Sự độc
quyền là cơ sở dẫn tới sự chuyên chế, khi một cơ quan nhà nước có thể ôm
trong tay trọn vẹn cả ba quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp thì không
thể có sự dân chủ, và chuyên chế quyền lực là một sự tất yếu. Chủ nghĩa hiến
pháp yêu cầu về một mô hình nhà nước phải tồn tại một cách độc lập và chặt
chẽ giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan ban hành luật thì
không được quyền sử dụng, áp dụng pháp luật; cơ quan thi hành pháp luật
không được quyền phán quyết, các cơ quan ràng buộc chặt chẽ với nhau là cơ
sở tạo nên sự hài hòa các quyền lực trong bộ máy nhà nước. Ở các mô hình
nhà nước khác nhau như nhà nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, cách
phân chia quyền lực trong nhà nước là khác biệt. Nếu như ở nhà nước tư bản
tuy nhiên có hiến pháp không hẳn là có chủ nghĩa hiến pháp mà vấn đề nằm ở
chỗ tinh thần của bản hiến pháp có thể hiện được những yêu cầu về việc phân
quyền, bảo vệ quyền con người và hạn chế quyền lực nhà nước. Tuy vậy
Hiến pháp là cơ sở cho sự tồn tại của chủ nghĩa Hiến pháp. Về bản chất, hiến
pháp là văn bản luật tối cao nhất của một quốc gia. Hiến pháp quy định các
văn đề cơ bản về các chế độ của nhà nước, các quyền cơ bản của công dân và
các nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước. Tính đến nay trên thế
giới có khoảng 150 quốc gia có hiến pháp. Hiến pháp có thể chia làm nhiều
loại khác nhau: có thể chia theo hình thức thành hiến pháp thành văn và Hiến
pháp không thành văn. Đa phần các nước trên thế giới hiện nay đều có một
bản hiến pháp thành văn, nghĩa là hiến pháp được viết thành các văn bản và
được nhà nước thừa nhận là đạo luật cơ bản. Chính việc quy định là đạo luật
cơ bản làm cho hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao, buộc các cơ quan nhà
21
nước và từ thấp đến cao đều phải tuân thủ. Hiến pháp không thành văn là tổng
thể các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền thống, các án
lệ của Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến tổ chức quyền lực nhà nước
nhưng không được nhà nước công bố dưới dạng luật cơ bản của nhà nước.
Trên thế giới hiện nay chỉ có 3 nước có hiến pháp không thành văn là Anh,
New Zealand, Israel. Chính việc quy định các cách thức hoạt động và tổ chức
của các cơ quan, bộ phận cấu thành nhà nước đã là đảm bảo quan trọng để
hạn chế quyền lực nhà nước. Hiến pháp với các ưu thế của mình phải được
một cơ quan đặc biệt sinh ra, thường gọi là quốc hội lập hiến.
Ngoài ra, hiến pháp còn có thể chia thành Hiến pháp xã hội chủ nghĩa
và hiến pháp tư bản chủ nghĩa. Hiến pháp tư bản chủ nghĩa là Hiến pháp của
các nước tư bản hoặc các nước phát triển theo đường lối tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm của hiến pháp này là đều trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ cho quyền
Từ những mục tiêu cơ bản nói trên, Hiến pháp xác định đối tượng điều
chỉnh của mình. Hiến pháp Việt Nam cũng quy định về các vấn đề chế độ
chính trị của nhà nước trong đó nêu rõ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
cũng như sử dụng quyền lực nhà nước. Cách thức tổ chức bộ máy nhà nước,
quyền và nghĩa vụ các các cơ quan trong bộ máy nhà nước và vấn đề quyền
con người, quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, không phải cứ có hiến
pháp thì sẽ có chủ nghĩa Hiến pháp, vì bản chất Hiến pháp chỉ là một văn bản
tối cao nhất trong hệ thống pháp luật được thừa nhận, còn chủ nghĩa hiến
pháp là tư tưởng, là hệ thống lý luận. Để chủ nghĩa hiến pháp ra đời thì trước
hết hiến pháp của mỗi quốc gia phải có tư tưởng của chủ nghĩa hiến pháp.
Nghĩa là trong mỗi bản hiện pháp phải nêu lên được hai vấn đề về hạn chế
quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người nói trên, và cùng với đó là có
những cơ chế để đảm bảo thực hiện những yếu tố đó.
23