Quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa theo pháp luật quốc tế và pháp luật lào - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SYPANETHONG LATTANAVONGSA

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ,
XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT LÀO
Chuyên ngành

: Luật Quốc tế

Mã số

: 60.38.01.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐỨC LONG

HÀ NỘI – NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà
Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Pháp luật quốc
tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương
trình thạc sĩ luật học tại Trường.


CHXHCN

: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

ĐƯQT

: Điều ước quốc tế

ICCPR

: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966
(the International Covenant on Civil and
Political Rights)

ICESCR

: Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa của con người năm 1966
(the International Covenant on Economic, Social
and Cultural Rights)

NDCM

: Nhân dân cách mạng

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

2.1.1. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm
1966 (ICESCR) ..................................................................................... 23
2.1.2. Nội dung quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa .25


2.2. Quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội theo pháp luật nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ........................................................... 47
2.2.1. Quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá trong hệ
thống pháp luật nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào .......................... 47
2.2.2. Bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con
người ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ...................................... 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 60

Chương 3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LĨNH VỰC KINH
TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA Ở LÀO ................................................................. 61

3.1. Thực tiễn thực hiện quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội
và văn hóa của con người trong thời gian qua ở Lào ............................ 61
3.1.1. Những thành tựu đạt được............................................................ 61
3.1.2. Những hạn chế, vướng mắc ......................................................... 66
3.1.3. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc ......................................... 70
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền con
người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa ở Lào ......................... 74
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật đảm bảo các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa của con người ở Lào ............................................................ 74
3.2.2. Các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả quyền con người
trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá trên thực tế............................. 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 80


trên, cần thiết phải có thêm nhiều công trình nghiên cứu về các tiêu chuẩn quốc
tế, pháp luật và thực tiễn quốc gia về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, là một lưu học sinh Lào
đang tham gia học tập nghiên cứu tại Việt Nam, có cơ hội được tiếp cận với
những tài liệu chuyên sâu trong lĩnh vực quyền con người, tôi đã lựa chọn đề


2

tài “Quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa theo pháp
luật quốc tế và pháp luật Lào” làm đề tài Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền con người là một phạm trù đa diện, đòi hỏi cách tiếp cận và
nghiên cứu đa ngành, liên ngành, song tiếp cận và nghiên cứu luật học là một
hướng chính. Các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người ở
Việt Nam những năm gần đây đang phát triển mạnh mẽ. Hiện đã có một số
công trình nghiên cứu về quyền con người nói chung, quyền con người trong
lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá nói riêng như: Trung tâm Thông tin Tư
liệu - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1993), Quyền con người,
quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam; Chu Hồng Thanh
(1997), Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Tường Duy Kiên (2004), Đảm bảo quyền con người trong
hoạt động của Quốc hội Việt Nam, Hà Nội; Phạm Văn Khánh (2006), Góp
phần tìm hiểu quyền con người, NXB Khoa học xã hội; Trần Thị Hòe (2002),
Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện
nay; Nguyễn Duy Sơn (2005), Quyền phát triển của con người Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Trung
tâm Thông tin Tư liệu trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
Tường Duy Kiên, Trần Thị Hòe (2007), Bảo đảm quyền của người tiêu dùng
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay;

pháp luật quốc tế về quyền con người trong lĩnh vực quyền lĩnh vực kinh tế,
xã hội và văn hoá; quy định về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong các
Điều ước quốc tế về quyền con người có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã
hội và văn hoá và các văn bản pháp luật của nước CHDCND Lào về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyền
con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa ở nước CHDCND Lào
cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Thông qua nghiên cứu nội dung Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa năm 1966 và nội dung quyền con người trong lĩnh vực
kinh tế, xã hội và văn hoá theo pháp luật nước CHDCND Lào, đồng thời, trên


4

cơ sở phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền con người về kinh tế,
xã hội và văn hoá trên thực tế, luận văn đề cao các giá trị văn minh, tiến bộ
của pháp luật quốc tế về quyền con người, rút ra những kết luận và kiến nghị
cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Lào trong lĩnh vực quyền con
người nói chung, quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá nói
riêng. Đồng thời, đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
các quy định về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá tại CHDCND Lào.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được xác định trên các khía
cạnh sau:
(1) Làm rõ khái niệm về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá; mối quan hệ
với các quyền dân sự, chính trị là gì?
(2) Nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các kinh tế, xã hội và văn
hoá năm 1966?
(3) Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Lào về quyền kinh

8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền con người trong lĩnh vực
kinh tế, xã hội và văn hoá.
Chương 2. Nội dung quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và
văn hoá theo pháp luật quốc tế và pháp luật Lào.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá
ở Lào.


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
LĨNH VỰC KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA
1.1. Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong hệ thống các quyền
con người
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Hiện nay, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người, tuy
nhiên hiện nay tồn tại hai học thuyết chủ yếu về quyền con người. Theo học
thuyết về quyền tự nhiên thì quyền con người là những quyền tự nhiên, bẩm
sinh của con người, từ khi sinh ra đã có quyền. Tất cả mọi người không phân
biệt dân tộc, tôn giáo đều bình đẳng hưởng quyền con người như nhau. Còn
theo học thuyết về quyền pháp lý thì quyền con người không phải bẩm sinh
vốn có mà phải do Nhà nước xây dựng và pháp điển hóa thành các quy phạm
pháp luật. Quyền con người ở mỗi Nhà nước, mỗi xã hội khác nhau thì khác
nhau tùy thuộc vào đặc điểm của Nhà nước, xã hội đó. Cả hai học thuyết này

tựu của khoa học.
1.1.1.2. Đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Ngoài những đặc điểm chung của quyền con người, do đặc thù của lĩnh
vực kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa sẽ có những
đặc điểm riêng biệt sau đây:
Thứ nhất, so với quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị quyền
con người trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, xã hội hình thành muộn hơn.
Quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa với tư cách
chủ yếu là thế hệ quyền con người thứ hai, hình thành và phát triển muộn hơn
thế hệ quyền con người thứ nhất là quyền con người trong lĩnh vực dân sự,
chính trị. Cuối thế kỷ XIX, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bắt đầu được đề
xướng và nhận được sự quan tâm của một số Chính phủ từ sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất. Cuộc khủng hoảng của xã hội tư bản vào cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX đã cổ vũ mạnh hơn cho sự hình thành quyền con người trong
lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, đặc biệt là sự đấu tranh mạnh mẽ của tầng
lớp công nhân và tầng lớp nhân dân lao động. Trong bối cảnh đó, những
người theo chủ nghĩa tự do mới đã đưa ra ý tưởng cải tổ các xã hội tư sản
1

Nguyễn Đăng Dung- Vũ Công Giao- Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Giáo trình lý luận và pháp luật
về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.198.


8

nhằm giảm bớt những bất công xã hội và khoảng cách giữa người giàu với
người nghèo. Do tác động của cuộc đấu tranh này, một số nhà nước tư sản đã
ban hành những chính sách về phúc lợi xã hội để cải thiện đời sống của người
dân, như chính sách xã hội của Thủ tướng Đức Bismarck năm 1881.
Sau đó với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế

nước quy định Công ước ICESCR chỉ mang tính khuyến nghị về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa của con người để các Nhà nước cụ thể hóa trong
pháp luật của mình, chứ nội dung các quyền trong ICESCR không có tính bắt
buộc các quốc gia phải thực hiện.
Thứ ba, việc đảm bảo thực hiện quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bị phụ
thuộc vào nguồn vật chất đảm bảo và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia.
Trong việc đảm bảo thực hiện quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con
người có thể dần dần, từng bước (progressive realization) tương ứng với
nguồn lực sẵn có của quốc gia. Điều này là bởi trên thực tế việc thực thi các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều nhân lực, vật
lực vượt quá khả năng hiện tại của điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở một
giai đoạn nhất định. Trong khi đó, việc hiện thực hóa các quyền dân sự, chính
trị là mang tính tức thời (immediate) tương ứng với nguồn lực sẵn có của
quốc gia. Điều này là bởi trên thực tế việc thực thi các quyền trong nhóm này
đòi hỏi phải tiêu tốn rất nhiều nhân lực, vật lực vượt quá khả năng hiện tại của
những quốc gia nghèo.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là quốc gia thành viên viện dẫn
vào khó khăn trong nguồn nhân lực, vật lực để thực hiện các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa để trốn tránh trách nhiệm thực hiện các quyền này.
1.1.2. Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong mối quan hệ với quyền
dân sự và chính trị
Xét về mặt lịch sử, các quyền dân sự, chính trị của con người xuất hiện
sớm hơn so với các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa của con người. Đó là
điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên mối quan hệ giữa các quyền dân sự, chính
trị và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa lại có những quan điểm khác nhau.
Trong quá khứ, các nước phương Tây đã từng nhấn mạnh quyền dân sự,
chính trị của con người, cho rằng đây mới là thực chất của quyền con người
mà các Nhà nước cần phải bảo đảm. Hơn nữa có người còn tỏ ra nghi ngờ cả
thuật ngữ “quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, thậm chí họ không thừa nhận và

nghĩa này đã được giải quyết bởi việc công nhận cả hai phạm trù hay xu
hướng về quyền con người này là quan trọng như nhau. Tại Hội nghị Teheran
năm 1968, nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa được nghi nhận là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau.
Hiện nay, sự tách rời, ưu tiên các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và
coi nhẹ quyền dân sự, chính trị hay ngược lại đều được coi là không hợp lý về


11

mặt lý luận khi quan niệm về quyền con người cũng như quyền công dân đã
chứng minh được mối quan hệ hữu cơ, gắn bó phụ thuộc lẫn nhau giữa hai
nhóm quyền này. Không thể tìm thấy sự tồn tại của quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa trong một xã hội mà ở đó quyền chính trị chỉ có thể được đảm.
Ngược lại quyền dân sự, chính trị, chỉ có thể được đảm bảo và hiện thực hóa
khi quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, xã hội được bảo đảm. Tính liên hệ chặt
chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và
nhóm quyền dân sự, chính trị thể hiện rất rõ ràng trong quá tình thực hiện
những nhóm quyền này. Thực tế đã cho thấy, trong hầu hết các trường hợp,
rất khó để đảm bảo riêng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà bỏ qua các
quyền dân sự, chính trị, và ngược lại. Đơn cử, để thực hiện tốt các quyền bầu
cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản), cần đảm bảo một loạt quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được
chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích đáng.v.v.. vì nếu không, các quyền bầu
cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của quyền con người trong
lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa
1.2.1. Trên phạm vi quốc tế
* Luật quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trước năm 1945
Có thể nói những tư tưởng về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con

1918, nước Nga Xô viết đã khẳng định các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
cơ bản của con người, trong đó có quyền có việc làm, quyền được học tập,
quyền được chăm sóc y tế.v.v.. Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa này tiếp
tục được khẳng định, mở rộng và bổ sung, trở thành một số nội dung chính
trong các Hiến pháp năm 1924, 1936, 1977 của Liên Xô và cả trong Hiến
pháp của các nước xã hội chủ nghĩa sau này.
Bên cạnh đó, việc thành lập hai tổ chức quốc tế liên chính phủ là Hội
quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế vào năm 1919 đã góp phần quan trọng
trong việc thúc đẩy các quyền về lao động, việc làm của người lao động. Với
sự ra đời của hai tổ chức này, vấn đề quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con
người nói riêng và vấn đề quyền con người nói chung đã trở thành một vấn đề
có tầm quốc tế rộng lớn. Cả hai tổ chức này đã nâng nhận thức và các hoạt
động về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con người lên một mức độ
mới. Tổ chức Lao động quốc tế, trong Điều lệ của mình đã khẳng định, hòa
bình trên thế giới chỉ có thể được thực thiện nếu dựa trên hai cơ sở bảo đảm


13

công bằng xã hội cho tất cả mọi người. Trong Thỏa ước của Hội quốc liên,
các nước thành viên tuyên bố chấp nhận nghĩa vụ bảo đảm, duy trì sự công
bằng và các điều kiện nhân đạo về lao động cho đàn ông, phụ nữ và trẻ em
cũng như bảo đảm sự đối xử xứng đáng với những người bản xứ tại các nước
thuộc địa của họ.
Tóm lại, trong thời kỳ trước năm 1945, với việc thành lập Hội quốc liên
và Tổ chức Lao động quốc tế, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống
các nước xã hội chủ nghãi trong những thập kỷ 1940 đến 1980 của thế kỷ
trước, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được đề cao và đặc biệt các quyền
độc lập và tự quyết của các dân tộc được cổ vũ. Đây là những quyền con
người mà trước đó đã không hoặc rất ít được để cập trên các diễn đàn quốc tế.

03/01/1976 căn cứ theo Điều 27 của Công ước. Việt Nam gia nhập Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con người vào ngày
24/09/1982. Gần đây, ngày 10/12/2008, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông
qua Nghị định thư tùy chon bổ sung Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa của con người - hoàn thiện thêm những quy định mang tính toàn
cầu vè các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con người.
Ngoài các văn bản pháp lý mang tính toàn cầu nói trên, việc bảo đảm
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của con người trong luật quốc tế còn
được thể hiện ở các công ước quốc tế còn được thể hiện ở các điều ước quốc
tế khu vực do các quốc gia trong từng khu vực thỏa thuận nhằm đảm bảo các
quyền này phù hợp với đặc thù từng khu vực trên thế giới. Thuộc loại này, ở
châu Âu có Công ước bảo vệ Nhân quyền và các quyền Tự do căn bản
(Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms)
được Hội đồng châu Âu thông qua ngày 04/11/1950, có hiệu lực từ tháng
9/1953 và Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961 (được sửa đổi 1996). Ở
châu Mỹ có Công ước châu Mỹ về quyền con người được ký kết vào năm
1969 và có hiệu lực năm 1978 (Công ước này đã được sửa đổi trong Nghị
định thư về các quyền kinh tế và văn hóa, xã hội năm 1988). Ở châu Phi về
quyền con người và quyền các dân tộc do Tổ chức Liên minh châu Phi thông
qua ngày 27/06/1981 và có hiệu lực từ ngày 21/10/1986. Ở châu Á, mặc dù
chưa có một công ước chung về quyền con người, nhưng ở một số phần của
châu Á hiện đã tồn tại những văn kiện và thiết chế chung về quyền con người
nói chung, và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói riêng. Chẳng hạn như
Tuyên ngôn Cairo về quyền con người ở các nước Hồi giáo năm 1990, Hiến
chương Ả rập về quyền con người năm 1994, hay Hiến chương ASEAN được


15

thông qua năm 2007 cũng đã ghi nhận nguyên tắc tôn trọng trong pháp luật



16

những năm 80 của thế kỷ trước, Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, khiến nước Lào - vốn đang loay hoay trong việc tìm kiếm con
đường phát triển, lại một lần nữa khủng hoảng khi lựa chọn mô hình chính trị,
Qua những năm tháng đấu tranh quyết liệt, khi Đảng Nhân dân cách mạng
Lào xác định xây dựng Nhà nước Lào theo mô hình chính trị của Việt Nam và
Trung Quốc, Hiến pháp Lào năm 1991 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước
CHDCND Lào mới được ban hành.
Nước CHDCND Lào là quốc gia có nhiều bộ tộc cùng sinh sống, Đảng
và Nhà nước Lào luôn luôn cũng đề cao tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc,
xây dựng và triển khai đường lối chính sách đúng đắn, phù hợp về quản lý và
phát triển đất nước trong từng thời kỳ.
Hiến pháp Lào năm 1991, được thông qua ngày 14/8/1991 tại kỳ họp
thứ 6 Hội đồng nhân dân tối cao khóa II. Hiến pháp gồm 80 điều và 10
chương. Hiến pháp Lào tuyên bố ở nước CHDCND Lào, quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, trong đó nông dân, công nhân và trí thức là nòng cốt. Lần
đầu tiên trong lịch sử, tại Điều 31 Hiến pháp Lào khẳng định “Công dân của
cả hai giới được hưởng quyền bình đẳng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế
và văn hóa, xã hội và trong các vấn đề về gia đình”, Đây là tiền đề để Nhà
nước Lào ban cụ thể hóa các quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và
văn hóa trong các quy định khác của Hiến pháp năm 1991 và các luật chuyên
ngành khác. Trong giai đoạn này Quốc hội Lào đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật, trong đó có quy định về quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội và văn hóa như: Luật Doanh nghiệp năm 1994; Luật Sở hữu năm 1998;
Luật Hợp đồng năm 2000; Luật chăm sóc sức khỏe năm 2000; Luật Giáo dục
năm 2002...
Hiến pháp năm 1991 của Lào chứa nhiều yếu tố của cuộc cách mạng

các quyền này đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trực
tiếp liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa như: Luật Lao động năm
2006, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2007;… bên cạnh đó tiến hành sửa đổi
các văn bản pháp luật có đã ban hành có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và
văn hóa như Luật Doanh nghiệp năm 2013…
Vào tháng 12 năm 2015, Chủ tịch nước Lào Chummaly Sayasone vừa ký
sắc lệnh ban hành Hiến pháp sửa đổi lần thứ hai của nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào sau khi bản Hiến pháp sửa đổi này được thông qua tại kỳ họp lần
thứ 10 Quốc hội Lào khóa VII. Đây là lần sửa đổi Hiến pháp thứ hai của Lào kể
từ khi đạo luật này được ban hành vào năm 1991. So với Hiến pháp sửa đổi năm


18

2003, Hiến pháp năm 2015 của Lào có nhiều sửa đổi nhằm phù hợp tình hình
thực tế. Hiến pháp năm 2015 của Lào gồm 14 chương, 119 điều, tăng 3 chương
và 21 điều so với Hiến pháp sửa đổi năm 2003, theo đó các chương tăng gồm
chương về Hội đồng Nhân dân địa phương, chương về Tổ chức Thanh tra Chính
phủ và chương về Ủy ban Bầu cử Quốc gia. Đạo luật gốc năm 2015 của Lào quy
định Lào là một quốc gia dân chủ, với tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, do
dân và vì lợi ích của người dân2. Tuy nhiên, các quy định về quyền và nghĩa vụ
của công dân, trong đó có quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn
hóa vẫn giữ nguyên như Hiến pháp Lào năm 2003.
Xuyên suốt quá trình sửa đổi của Hiến pháp Lào năm 1991 cho thấy, chế
định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có quyền công dân trong
lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa luôn luôn được đề cao. Quá trình xây dựng
các bản Hiến pháp năm 1991 và sửa đổi vào các năm 2003 và 2015 cho thấy, ở
mỗi bản Hiến pháp các quyền con người và quyền công dân không phải là sự
sao chép lại các quy định của Hiến pháp trước mà luôn có sự vận động và phát
triển theo nguyên tắc kế thừa biện chứng, ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với

thực hiện nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia bao gồm:
Thứ nhất, các quốc gia thành viên chuyển hóa ĐƯQT. Chuyển hóa
ĐƯQT thực chất là quá trình đưa ĐƯQT về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
của con người vào khuôn khổ pháp luật quốc gia để tạo cơ sở cho việc thực
hiện nghĩa vụ thành viên ĐƯQT. Việc chuyển hóa ĐƯQT về quyền con
người có thể là chuyển hóa nguyên văn nội dung các quy phạm của ĐƯQT
hoặc chuyển hóa tinh thần nội dung các quy phạm đó vào pháp luật quốc gia.
Có nhiều cách để chuyển hóa nội dung của ĐƯQT như ban hành các văn bản
mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành cho phù hợp với
các ĐƯQT mà quốc gia tham gia.
Thứ hai, các quốc gia thành viên áp dụng trực tiếp các quy dịnh của
ĐƯQT. Tuy nhiên trên thực tế các quốc gia thành viên áp dụng trực tiếp không
nhiều. Áp dụng trực tiếp ĐƯQT tức là các ĐƯQT về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa được áp dụng như các quy định của pháp luật quốc gia. Khi có vi phạm
xảy ra các nước có quyền viện dẫn các quy định của ĐƯQT để giải quyết.
Dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, ĐƯQT về quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá của con người không ấn định biện pháp thực hiện
nghĩa vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia theo yêu cầu
của ĐƯQT. Tuy nhiên, các quốc gia thường chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật
quốc gia. Căn cứ vào lợi ích điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của quốc gia mình
thực hiện chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật quốc gia cho phù hợp nhằm đảm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status