Mục lục
Mở đầu
Chương 1. SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NGA VÀ MỸ SAU
CHIẾN TRANH LẠNH
1.1. Khái lược lịch sử quan hệ Xô- Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh
1.2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Liên bang Nga từ sau khi
Liên Xô tan rã đến cuối thập niên 90
1.3. Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau chiến tranh lạnh của Mỹ
Chương 2. QUAN HỆ NGA-MỸ TRONG THẬP NIÊN 90
2.1. Quan hệ Nga- Mỹ trong lĩnh vực chính trị- đối ngoại, quân sự- an
ninh
2.2. Quan hệ kinh tế- thương mại và khoa học- công nghệ Nga- Mỹ
2.3. Những xu hướng vận động của quan hệ Nga- Mỹ
Chương 3. ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN HỆ NGA-MỸ ĐẾN VIỆT NAM
3.1. Ảnh hưởng về mặt chính trị, đối ngoại và an ninh
3.2. Ảnh hưởng về kinh tế, văn hoá, khoa học- kỹ thuật
Kết luận
Danh mục các công trình của tác giả
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang
1
8
8
23
48
72
72
103
122
137
Trong khi đó, các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ sau chiến tranh lạnh
vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị- xã hội loài người.
Quan hệ giữa Nga và Mỹ- với tư cách là quan hệ giữa hai nước lớn- không nằm
ngoài tình hình chung đó. Song quan hệ Nga- Mỹ là cặp quan hệ có những nét đặc
thù. Không chỉ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hiện nay quan hệ Nga- Mỹ, bất luận
những biến thiên của lịch sử, vẫn là cặp quan hệ chủ chốt, đóng vai trò rất quan trọng
trong hệ thống các QHQT. Sự vận động của quan hệ Nga- Mỹ sau chiến tranh lạnh,
dù theo hướng nào, cũng tác động lớn đến cục diện thế giới, đến đời sống chính trị và
an ninh thế giới. Tuy nhiên, quan hệ giữa Nga và Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh diễn
biến khá phức tạp, phản ánh rõ nét nhất, điển hình nhất thực trạng quan hệ giữa các
nước lớn hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng quan hệ giữa hai nước
lớn Nga- Mỹ thực sự hữu Ých, thực sự cần thiết đối với tất cả các nước lớn nhỏ. Hơn
nữa, việc nghiên cứu đó không chỉ nhằm xác định diện mạo của một mối quan hệ cụ
thể giữa hai nước lớn, mà còn góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận đặt ra
trong quan hệ giữa các nước lớn và giữa các nước lớn với các nước nhỏ nói chung
trong thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới hai cực sang trật tự thế giới mới.
Do điều kiện lịch sử đặc biệt của mình, hơn nửa thế kỷ qua Việt Nam luôn nằm
trong toan tính chiến lược của các nước lớn như Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Nhật
Bản. Những nước lớn đó, đặc biệt là Liên Xô và Mỹ, đã có những tác động rất lớn, cả
hai chiều tích cực và tiêu cực, đến sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc của
nhân dân Việt Nam. Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô bị thủ
tiêu làm thay đổi tương quan lực lượng trên trường quốc tế từ trạng thái cân bằng sang
có lợi cho Mỹ và các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) phát triển. Quan hệ giữa Nga- đã
từng là đồng minh chiến lược của Việt Nam, và Mỹ- đã từng là đối thủ chiến lược của
Việt Nam, dù vận động, phát triển theo hướng nào (hoà hoãn, hợp tác hay căng thẳng,
3
xung đột) thì cũng đều ảnh hưởng đến nước ta với tư cách là một nước nhỏ, có lợi Ých
chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH). Thực tiễn quan hệ giữa
Nga và Mỹ từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc cho thấy Việt Nam đã và sẽ còn phải
chịu sức Ðp và ảnh hưởng qua lại của quan hệ Nga- Mỹ. Thực tế này đặt ra nhiều vấn
đối ngoại của Mỹ, về quan hệ Nga- Mỹ, như S. Rôgốp, G. Trôfimencô, B. Krêmenhúc,
A. Ótkin, T. Saklêina, v.v Đặc biệt, các bài viết của S. Rôgốp đăng trên các số 3/1995,
10/1996, 11/1997, 2/1998, 7 và 8/1998, 2/2000 của Tạp chí trên và một số Ên phẩm khác
như Tạp chí Tư tưởng tự do, Báo Độc lập, đã phác họa những đường nét cơ bản, những
thăng trầm của quan hệ Nga- Mỹ qua các giai đoạn khác nhau thời kỳ sau chiến tranh
lạnh. Tác giả chỉ ra những kết quả hợp tác đã đạt được, cũng như những mâu thuẫn, xung
đột lợi Ých trong quan hệ Nga- Mỹ, nhấn mạnh ý đồ của Mỹ kiềm chế Nga khôi phục
ảnh hưởng chính trị- an ninh trên trường quốc tế.
Ngoài các công trình của các tác giả Nga, các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài
của các tác giả Mỹ như M. Manđenbaum, Aron Leon, G. Duglac, cũng được đăng
tải trên các Ên phẩm chuyên ngành kể trên của Nga. Tuy nhiên, cách nhìn nhận, sự
đánh giá các vấn đề như chiến lược đối ngoại của Nga, của Mỹ, quan hệ Nga-Mỹ, v.v.
không phải luôn luôn có sự thống nhất giữa các tác giả Nga, giữa các tác giả Mỹ với
nhau, cũng như giữa các tác giả Nga và các tác giả Mỹ. Thực tế này đòi hỏi nghiên
cứu sinh phải biết kế thừa có chọn lọc công trình nghiên cứu của các học giả nước
ngoài, và chỉ trên cơ sở xem xét các sự vật, hiện tượng lịch sử một cách khách quan,
5
chân thực và bằng phương pháp luận mácxít thì mới có thể đưa ra sự đánh giá xác
đáng về những vấn đề thuộc đề tài nghiên cứu.
Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu tập thể và cá nhân đã Ýt
nhiều đề cập đến chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ, của Nga, quan hệ Mỹ- Việt,
quan hệ Nga-Việt. Trong số các công trình này, đáng chú ý là các bài viết, sách tham
khảo, đề tài khoa học của một số cơ quan nghiên cứu các vấn đề quốc tế như: Trung
tâm nghiên cứu Châu Âu, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Học viện QHQT (Bộ ngoại
giao), Viện QHQT (Học viện CTQG Hồ Chí Minh), các tạp chí chuyên ngành về
QHQT, v.v Cố học giả Lê Bá Thuyên với đề tài luận án PTS Lịch sử “Chiến lược toàn
cầu của Mỹ và tác động của nó trong QHQT hiện nay” (bảo vệ năm 1995); cuốn sách
“Hoa Kỳ: cam kết và mở rộng”, NXB KHXH, Hà Nội, 1997; cũng như một số bài viết
của tác giả về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ đăng trên các tạp chí chuyên
ngành là những công trình có tính chất chuyên sâu nhất về đề tài này. Còn việc nghiên
chủ yếu là chính trị- an ninh, kinh tế- thương mại, khoa học- kỹ thuật, đồng thời nêu
ra một số dự báo về triển vọng của mối quan hệ này.
- Phân tích ảnh hưởng của quan hệ Nga- Mỹ đến Việt Nam trong sự tương tác
giữa các cặp quan hệ của tam giác Nga- Mỹ- Việt, từ đó nêu một số kiến nghị nhằm
thực hiện thành công chính sách đối ngoại với các nước lớn nói chung, với Nga và
Mỹ nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
7
- Về mặt thời gian: Sự vận động của quan hệ Nga- Mỹ và ảnh hưởng của quan hệ
Nga- Mỹ đến Việt Nam được nghiên cứu chủ yếu từ sau khi Liên Xô tan rã đến cuối
thập niên 90 của thế kỷ 20.
- Về mặt nội dung: Luận án đặt trọng tâm ở việc phân tích thực trạng quan hệ
Nga- Mỹ trong thập niên 90 và triển vọng của mối quan hệ đó trước hết trên lĩnh vực
chính trị- an ninh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận mácxít. Trong
quá trình nghiên cứu và xử lý tài liệu tham khảo, luận án quán triệt phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác- Lênin về thời đại và quan hệ giữa các quốc gia- dân tộc; về hoà
bình và cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau; tư
tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế, v.v Luận án bám sát các quan điểm
đánh giá tình hình quốc tế và khu vực của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện
trong các văn kiện từ Đại hội VI đến nay, coi đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý
luận, định hướng tư tưởng trong nghiên cứu một đề tài vào loại khó và nhạy cảm.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử và phương
pháp logic. Các phương pháp khác như phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu,
thống kê, v.v. được sử dụng như là những phương pháp hỗ trợ cần thiết cho hai
phương pháp chủ yếu nêu trên.
5. Những điÓm mới về khoa học của luận án
- Nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống sự vận động của quan hệ Nga-Mỹ từ
sau khi Liên Xô tan rã đến cuối thập niên 90, trên cơ sở đó bước đầu làm rõ tính chất
1.1. Khái lược lịch sử quan hệ Xô - Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh
Tháng Mười năm 1917, cuộc Cách mạng “mười ngày rung chuyển thế giới”
thành công ở nước Nga, cho ra đời một Nhà nước kiểu mới- Cộng hoà XHCN Xô viết
Liên bang Nga. Ngay từ sau Cách mạng tháng Mười, Cộng hoà XHCN Xô viết LB
Nga và sau đó là Liên bang CHXHCN Xô viết đã kiên trì cuộc đấu tranh nhằm thiết
lập quan hệ chính trị và kinh tế-thương mại với Mỹ nói riêng, các nước khác nói
chung, theo nguyên tắc được V.I.Lênin khởi xướng về cùng tồn tại hoà bình giữa các
nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Song nếu như từ những năm 1924 - 1925,
nhiều nước, trong đó có các nước TBCN lớn như Anh, Pháp, Italia đã chÝnh thức
công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô, thì Mỹ là cường quốc duy
nhất trong thập niên 20 không thiết lập quan hệ với Liên Xô. Phải trải qua một quá
trình đấu tranh lâu dài của chính quyền Xô viết, và do tác động của rất nhiều nhân tố
khác nữa, mà tới tháng 11 năm 1933, Liên bang Xô viết và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Cũng từ đây bắt đầu một giai đoạn mới
trong quan hệ ngoại giao giữa hai cường quốc, về sau là hai siêu cường đứng đầu hai
hệ thống chính trị- xã hội đối lập trong QHQT thế kỷ XX.
Từ khi chính thức công nhận lẫn nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ
Xô - Mỹ vận động hoàn toàn không đơn giản trong tất cả các lĩnh vực chính trị-quân
sự, kinh tế- thương mại, văn hoá- khoa học- công nghệ.
1.1.1. Quan hệ Xô- Mỹ trong lĩnh vực chính trị- quân sự
Vào cuối những năm 30, trong bầu không khí nóng bỏng của QHQT do việc hình
thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và do bản chất của chủ nghĩa đế quốc, nhìn chung
Mỹ thực hiện “chính sách trung lập”, “không can thiệp”, thực chất là âm mưu mượn
10
tay người khác đánh nhau để đứng giữa trục lợi. Chính H.Truman (lúc đó là Thượng
nghị sĩ, đến 4. 1945 là Tổng thống Mỹ), ngay sau khi Đức tấn công Liên Xô, đã tuyên
bố trắng trợn: “Nếu chóng ta thấy Đức sẽ thắng thì chúng ta phải giúp Nga, còn nếu
Nga sẽ thắng thì chúng ta phải giúp Đức, và như vậy, mặc cho họ giết hại lẫn nhau
càng nhiều càng tốt” [113, tr.435]. Chỉ khi phát xít Đức, Italia đã thôn tính nhiều nước
ở Châu Âu, Châu Phi, còn Nhật đánh chiếm Trân Châu, gây cho Mỹ những tổn thất
Để thủ tiêu những lực cản đó (mà lực cản lớn nhất là Liên bang Xô viết), Mỹ đã
dùng mọi phương sách, biện pháp, thủ đoạn ngoại giao để, thứ nhất, lôi kéo, tập hợp
lực lượng chống lại Liên Xô và ngăn chặn ảnh hưởng của CNCS. Thứ hai, Mỹ bắt đầu
công khai thực hiện một chính sách đối ngoại thù địch với Liên Xô trong tất cả các
lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực chính trị-đối ngoại.
Trên cơ sở một học thuyết do G.Kennan, Chủ tịch uỷ ban vạch chính sách đối
ngoại của Chính phủ, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Xô đề ra, Tổng thống Mỹ H.Truman
tháng 3 năm 1947 đã cho ra đời một học thuyết đối ngoại mang tên “Học thuyết
Truman”. Nội dung cơ bản của Học thuyết Truman là Mỹ phải đảm trách sứ mệnh lãnh
đạo thế giới tự do, phải bằng mọi biện pháp kinh tế, quân sự để giúp đỡ, trước mắt là
Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, sau nữa là các dân tộc trên thế giới chống lại sự đe doạ của chủ
nghĩa cộng sản (CNCS). Nếu G.Kennan được coi là “kiến trúc sư” cho chiến lược
“Chiến tranh lạnh”, thì diễn văn của thủ tướng Anh W.Sơcsin tại Phuntơn ngày
5.3.1946 và Học thuyết Truman được coi là châm ngòi nổ cho cuộc “chiến tranh lạnh”
12
chống Liên Xô và CNCS. (Theo một số tài liệu, “chiến tranh lạnh”- cold war- là từ do
Barút, tác giả của kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở LHQ đặt ra, xuất hiện lần đầu trên
báo Mỹ ngày 26.7.1947. Nhưng rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “chiến tranh lạnh”
trên thực tế đã bắt đầu trước khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cụ thể là tại Hội
nghị tam cường Mỹ - Anh - Xô tại Ianta tháng 2 năm 1945). Như vậy thế giới Phương
Tây đứng đầu là đế quốc Mỹ đã chính thức đề ra một chiến lược đối ngoại thù địch với
Liên Xô và các nước XHCN. “Đặc trưng tiêu biểu của chiến tranh lạnh là gây tình hình
căng thẳng, đe dọa dùng bạo lực, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, đẩy mạnh chạy
đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh, thành lập các khối liên minh xâm lược, tiến hành
chiến tranh tâm lý chống cộng” (Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 1, 1995, tr. 463).
Như vậy, với sù ra đời của Học thuyết Truman, mối quan hệ đồng minh giữa
Liên Xô với Mỹ và các nước Phương Tây trong Mặt trận Đồng minh chống phát xít
đã chấm dứt; bắt đầu một tình trạng đối đầu ngày càng căng thẳng, quyết liệt giữa hai
cường quốc Xô - Mỹ. Cuộc đối đầu Xô - Mỹ gay gắt và toàn diện trở thành trục trung
tâm của chính sách đối ngoại hai siêu cường và là yếu tố cơ bản chi phối các mối
Đặc biệt, với việc ký Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật (8.9.1951), Mỹ được phép bố trí các
lực lượng vũ trang trên đất Nhật. Mặc dù Mỹ- Nhật tuyên bố Hiệp ước này nhằm
“duy trì hoà bình thế giới và an ninh Viễn Đông”, song thực chất đã chính thức hoá
việc thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật để trước hết phong toả, bao vây Liên
Xô ở hướng Châu Á- Thái Bình Dương. Kể từ khi Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật được
ký kết, Mỹ thực tế đã sử dụng Nhật Bản phục vụ mục đích khống chế Liên Xô.
14
Ngoài Liên minh quân sự-chính trị Mỹ- Nhật, Mỹ còn thành lập các liên minh
quân sự song phương và đa phương khác ở khu vực: Mỹ-Philipin (30.8.1951); Mỹ-Óc-
NiuDilân (Hiệp ước an ninh Thái Bình Dương, 1.9.1951); Mỹ-Hàn Quốc (1.10.1953);
Mỹ- Pakistan (19.5.1954); Mỹ- Đài Loan (2.12.1954); nhất là khối SEATO (8.9.1954)
gồm Mỹ, Anh, Pháp, Óc, NiuDilân, Philippin và Thái Lan.
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ đã từng bước hình thành thế trận
liên hoàn với các cấp độ khác nhau từ Châu Âu- Đại Tây Dương (CA - ĐTD) sang
Châu Á- Thái Bình Dương (CA - TBD) với mục đích bao vây, phong toả, kiềm chế,
tiến tới tiêu diệt Liên Xô, ngăn chặn CNCS. Mỹ đã chi những khoản tài chính khổng
lồ cho ngân sách quân sự hàng năm và viện trợ quân sự cho các nước thành viên khối
NATO, SEATO và các đồng minh song phương khác. Thực chất chiến lược toàn cầu
“Ngăn chặn” của Mỹ không chỉ nhằm chống Liên Xô, chống CNCS, mà còn thực
hiện các mục tiêu phát triển nước Mỹ hùng mạnh cả về kinh tế, quân sự và chính trị
làm chỗ dựa để thực hiện tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ. Chiến lược “Ngăn chặn”
đã được nhiều lần điều chỉnh qua các đời Tổng thống Mỹ từ 1947 đến 1991, song mục
tiêu đối ngoại xuyên suốt là thống trị thế giới và tiêu diệt CNCS thì không hề thay
đổi.
Để đối phó lại âm mưu của các thế lực đế quốc hiếu chiến Phương Tây đứng đầu
là Mỹ, Liên Xô buộc phải tìm mọi cách tăng cường sức mạnh chính trị-quân sự của
mình. Một mặt, Liên Xô tập trung các nguồn lực xây dựng quân đội hùng mạnh, nền
quốc phòng hiện đại, nghiên cứu chế tạo được vũ khí hạt nhân (năm 1949) để phá thế
độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ. Mặt khác, Liên Xô tích cực triển khai kế hoạch xây
dựng hệ thống an ninh tập thể. Do Châu Âu có vị trí địa-chính trị, địa-chiến lược quan
672
518
36
1.398
922
160
62
16
Tàu ngầm chiến lược
Bảng 2. Tương quan vũ khí thông thường
Xe tăng Tàu
chiến
Đại bác Trực thăng
tiêm kích
Máy bay
chiến đấu
NATO (1990)
Vacsava (1989)
Trong đó Liên Xô
Các nước Đông Âu
25.091
59.470
41.580
17.890
34.453
70.330
45.000
25.330
20.620
nghĩa rất tích cực là:
1- Hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa (ABM);
2- Hiệp định tạm thời về hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1).
Tháng 7 năm 1974, Hiệp ước ABM được bổ sung thêm một Nghị định thư quy
định mỗi bên chỉ triển khai một hệ thống ABM với số lượng tên lửa giảm một nửa so
với ABM- 1972 (ABM- 1972 quy định mỗi bên Xô- Mỹ có hai hệ thống phòng thủ
chống tên lửa, một ở thủ đô và một ở khu vực có tên lửa chiến lược, với không quá
200 tên lửa chống tên lửa) [113, tr.410]. Có thể nói, Hiệp ước ABM là Hiệp ước tạo
cơ sở cho hai nước Liên Xô và Mỹ ký Hiệp định SALT-1 và sau đó là SALT-2. Các
Hiệp ước ABM, SALT-1 và SALT-2 đã tạo nên sự cân bằng chiến lược về lực lượng
hạt nhân, vừa giữ cho hai siêu cường thoát khỏi nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt
nhân, vừa hạn chế đáng kể cuộc chạy đua vũ trang quy mô toàn cầu.
Nhưng từ năm 1981, khi R.Rigân lên làm Tổng thống Mỹ, quan hệ Xô-Mỹ bắt đầu
căng thẳng trở lại. Vị Tổng thống thuộc Đảng Cộng hoà này đã thực hiện hàng loạt các
động thái đối ngoại nguy hiểm, như bố trí tên lửa tầm trung hiện đại “Pershing” và
“Cruise” ở một số nước Châu Âu, vạch ra kế hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” hay
“Sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI) nhằm phá thế cân bằng quân sự với Liên Xô.
Năm 1985, chi phí quốc phòng Mỹ lên tới gần 400 tỷ USD, chiếm 28% ngân sách Liên
bang và 7% GDP [5, tr.3]. Còn Liên Xô, theo tài liệu của Mỹ, cũng chi phí quốc phòng
lên tới gần 280 tỷ USD, chiếm khoảng 50% ngân sách Liên bang và 10% GDP hàng
18
năm [178]. Theo số liệu của cơ quan kiểm soát lực lượng vũ trang và giải trừ quân bị
Mỹ, chi phí quốc phòng tính theo đầu người của Mỹ lớn hơn 6 lần chỉ số chung của thế
giới, lớn hơn 3 lần so với các nước Tây Âu và lớn hơn 6 lần so với Nhật Bản [178].
Học thuyết quân sự của Rigân “Phản ứng linh hoạt mới” được mệnh danh là “Học
thuyết chạy đua vũ trang, khôi phục vị trí đứng đầu thế giới” đã dẫn đến tình trạng hết
sức phức tạp và căng thẳng trong quan hệ Xô-Mỹ cũng như quan hệ giữa nhiều nước
khác trong suốt nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Rigân.
Năm 1985 đánh dấu bước khởi đầu quá trình thay đổi có tính chất bước ngoặt
trong chính sách đối ngoại cũng như đối nội của Liên Xô. M.Goócbachốp lên nắm
Một Hiệp ước có ý nghĩa tích cực hơn, đánh dấu lần hoà dịu cuối cùng trong
quan hệ Xô-Mỹ là “Hiệp ước hạn chế và giảm bớt vũ khí tiến công chiến lược”
(START- 1) được G.Busơ và M.Goócbachốp ký ngày 31 tháng 7 năm 1991. Theo các
thoả thuận đạt được giữa hai Tổng thống, Mỹ và Liên Xô sẽ thủ tiêu khoảng 1/3 kho
vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi bên trong vòng 7 năm tính từ ngày ký.
Tuy nhiên, do tác động của hàng loạt nhân tố, cả chủ quan lẫn khách quan, cả
bên trong lẫn bên ngoài, siêu cường Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết- một trong
những nhà nước hùng mạnh bậc nhất trong nền chính trị thế kỷ XX-đã phải chấm dứt
sự tồn tại của mình vào cuối năm 1991. Tính từ thời điểm lịch sử này, 15 nước Cộng
hoà Xô viết chính thức trở thành các quốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể
pháp lý quốc tế mới, được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận.
20
Sù tan rã của Liên bang Xô viết và sự ra đời của 15 quốc gia độc lập trong không
gian hậu Xô viết cũng đồng nghĩa với sự tan rã của trật tự thế giới hai cực để bắt đầu
cho quá trình tìm kiếm, kiến tạo một trật tự thế giới mới.
Như vậy, cuộc “chiến tranh lạnh” do giới cầm quyền Mỹ phát động sau chiến
tranh thế giới thứ hai, kéo dài hơn 4 thập niên giữa hai siêu cường Xô- Mỹ đứng đầu
hai khối đối địch, có đặc trưng cơ bản là tình trạng đối đầu và không khí thù địch, từ
đây chấm dứt. Kể từ thời điểm này, trong lĩnh vực quan hệquốc tế bắt đầu một thời kỳ
mới-thời kỳ “sau chiến tranh lạnh”.
1.1.2. Quan hệ kinh tế- thương mại và khoa học- kỹ thuật Xô - Mỹ
Quan hệ kinh tế- thương mại chính thức giữa Liên Xô và Mỹ được đánh dấu
bằng “Hiệp định về quan hệ thương mại Xô-Mỹ” ký ngày 13 tháng 7 năm 1935. Sau
một thời gian thực hiện, Hiệp định thương mại Xô-Mỹ năm 1935 được điều chỉnh, rồi
được thay bằng Hiệp định thương mại ký ngày 4 tháng 8 năm 1937. Hiệp định thương
mại Xô-Mỹ năm 1937 ghi rõ rằng Mỹ và Liên Xô sẽ giành cho nhau quy chế tối huệ
quốc (MFN) vô điều kiện và không hạn chế trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến
thuế quan mậu dịch, thuế doanh thu, thể lệ và thủ tục xuất khẩu, đến việc bán và sử
dụng hàng Nga ở Mỹ và Liên Xô. Phía Mỹ bảo đảm rằng mọi ưu tiên, ưu đãi nêu trên,
đã hoặc sẽ được Mỹ giành cho nước thứ ba, cũng sẽ ngay lập tức giành cho Liên Xô.
điều luật Giắcxơn-Vanich khét tiếng ra đời năm 1974, bổ sung cho phần II của Luật
thương mại Mỹ, nhằm ngăn cấm giành cho các nước XHCN quy chế tối huệ quốc
22
(MFN) trong thương mại và ngăn cản các nước này tham gia vào các chương trình
kinh tế đối ngoại của chính phủ Mỹ,
Về quan hệ khoa học- công nghệ Xô- Mỹ, thì trong bối cảnh đối đầu gay gắt giữa
hai khối, quan hệ đó không thể không mang tính chất hạn hẹp, tạm thời. Các trí tuệ
siêu việt ở cả hai nước thường chỉ chú ý tập trung nghiên cứu làm sao đạt được ưu thế
quân sự so với phía bên kia. Tuy nhiên, hai nước cũng đã ký được một số Hiệp định
về hợp tác trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là từ những năm 70.
Chẳng hạn, năm 1972 ký Hiệp định về hợp tác khoa học-kỹ thuật; năm1973 ký Hiệp
định về hợp tác trong lĩnh vực sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình;
năm 1974 ký Hiệp định về hợp tác nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ vào
mục đích hoà bình, v.v. Chuyến bay vũ trụ mà hai nước thực hiện năm 1975 theo
chương trình nghiên cứu vũ trụ “Soiuz-Apollon” đã đi vào lịch sử như là đỉnh cao của
quan hệ hợp tác Xô-Mỹ hiếm hoi.
Về tổng thể, từ năm 1933 đến 1991, Liên Xô và Mỹ đã ký các Hiệp định, Hiệp
ước trong các lĩnh vực kinh tế-thương mại, khoa học-kỹ thuật-công nghệ như sau:
Bảng 3.1. Quan hệ kinh tế-thương mại Liên Xô 1933-1991 qua các Hiệp định đã ký
Thương
mại
Tài chính Đánh
cá
Xí nghiệp
liên doanh
Thuế
quan
Đầu tư Công
nghiệp
13 20 18 6 4 0 23
“sau chiến tranh lạnh” có một đặc điểm nổi bật là rất không rõ ràng. Đúng như một học
giả Phương Tây đã nhận xét, “Với việc chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới trở nên Ýt
nguy hiểm hơn, nhưng đồng thời cũng Ýt ổn định hơn và khó tiên đoán hơn” [137]. Sù
tan rã nhanh chóng của Liên Xô trong tư cách một cơ cấu địa- chính trị ổn định trong
khi chưa có một cơ cấu chuyển tiếp thích hợp khiến cho các mối QHQT bị xáo trộn,
24
gây khó khăn rất lớn cho nhiều nước, trước hết là LB Nga và các nước Cộng hoà Xô
viết cũ. Các mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Mỹ còn liên quan chặt chẽ đến thực
trạng chính trị, kinh tế, xã hội của từng nước, đến ý đồ và tham vọng của ban lãnh đạo
từng nước trên trường quốc tế, đến các lĩnh vực quan hệ đa phương khác, đến những
thay đổi to lớn đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội loài người trên phạm vi toàn
cầu và ở các khu vực khác nhau, v.v Chúng tôi sẽ tập trung xem xét các quan hệ chính
trị- đối ngoại, quân sự- an ninh, kinh tế- thương mại và khoa học- công nghệ giữa hai
đối thủ cũ này trong tổng thể các mối quan hệ chằng chịt, ràng buộc và chi phối lÉn
nhau đó.
1.2. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Liên bang Nga từ sau khi
Liên Xô tan rã đến cuối thập niên 90
Nói về Nga- nước Cộng hoà lớn nhất, có tiềm lực mạnh nhất của Liên bang Xô
viết- thì ngay từ ngày 12.6.1990, Xô viết tối cao Cộng hoà XHCN Xô viết Liên bang
Nga đứng đầu là B.Enxin đã ra Tuyên bố về chủ quyền quốc gia của Nga. Sự kiện này
đánh dấu bước khởi đầu của việc hình thành một “nước Nga mới” từ lúc còn nằm
trong thành phần của Liên Xô. Đúng một năm sau, Cộng hoà XHCN Xô viết LB Nga
tiến hành cuộc bầu cử Tổng thống Nga đầu tiên. B.Enxin trúng cử Tổng thống, càng
xúc tiến mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh giành quyền lực với chính quyền trung ương
Liên bang. Nhưng cũng phải sau khi Liên Xô chính thức bị xoá tên trên bản đồ chính
trị thế giới, thì Nga cũng như các nước Cộng hoà Xô viết cũ khác mới thật sự trở
thành các quốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể pháp lý quốc tế mới, được
LHQ và cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Liên bang Nga bước ra vũ đài quốc tế không chỉ như mét trong những nước kế
thừa chính thống Liên Xô, mà còn được tiếp nhận quy chế đặc biệt “Quốc gia kế tục