Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH – QUẢN TRỊ KINH DOANH
@&?
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG
CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN CHI NHÁNH HUYỆN TÂN UYÊN – TỈNH LAI CHÂU
Giáo viên hướng dẫn : Ths. Kim Thị Hạnh
Sinh viên thực tập : Vũ Thị Huệ
Lớp : QT40a
Khoa : Quản trị kinh doanh
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
1
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
LỜI NÓI ĐẦU
Sau nhiều thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, Việt Nam đang
trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đang dần dần khởi
sắc: Tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, lạm phát được kiềm chế, sản xuất
phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoà nhịp vào sự tăng
trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam
đang tiến hành công cuộc đổi mới, hiện đại hoá trong quản lý và hoạt động
nghiệp vụ nhằm xứng đáng là Trung tâm của hệ thống tiền tệ quốc gia. Sự
phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn từ nội bộ nền kinh
tế và bên ngoài. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, đó
là tiền đề là điều kiện để có thể tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn bên
ngoài đạt hiệu quả đồng thời để tăng thêm tính độc lập tự chủ của nền kinh
tế.
Hiện nay, ở nước ta, hầu hết các doanh nghiệp có vốn nhỏ, máy móc,
thiết bị công nghệ lạc hậu...và đang rất cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài để
3
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIÊM SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP.
1.VỐN VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VỐN ĐỐI VỚI DNNN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi một
quan điểm đều có cách tiếp cận riêng. Nhưng có thể nói, thực chất vốn chính
là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra
ban đầu và trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Như vậy
vốn là yếu tố số một của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn có các đặc trưng cơ bản là: thứ nhất, vốn phải đại diện cho một
lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài
sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Thứ hai, vốn phải vận động sinh
lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba, vốn phải được
tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, có như vậy mới có thể phát huy
tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Thứ tư, vốn phải gắn liền với
chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ và không ai quản lý.
Thứ năm, vốn được quan niệm như một hàng hóa đặc biệt, có thể mua bán
quyền sử dụng vốn trên thị trường.
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
4
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
Để đánh giá trình độ quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ : hiệu
mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản trị.
Ngoài ra doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và
phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong quản trị và sử dụng vốn.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG VỐN TRONG
DOANH NGHIỆP
1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP
Sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều yếu tố
khác nhau. Để có cái nhìn tổng quát ta xem xét lần lượt các yếu tố của môi
trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp.
1.1. Các nhân tố bên ngoài:
a. Môi trường pháp lý:
Nền kinh tế thị trường ở nước ta có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó các doanh nghiệp hoạt động vừa bị
chi phối bởi các quy luật của thị trường vừa chịu sự tác động của cơ chế
quản lý của nhà nước. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói
chung chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường pháp lý.
Trước hết là quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối
với doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để giải quyết kịp thời những
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
6
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
vướng mắc về cơ chế quản lý tài chính nảy sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Đồng thời nó cũng là tiền đề để thực hiện nguyên tắc hạch
toán kinh doanh của doanh nghiệp. Rõ ràng với một cơ chế quản lý tài
chính chặt chẽ, có khoa học, hợp quy luật thì việc quản lý, sử dụng vốn
của doanh nghiệp sẽ đạt kết quả cao, hạn chế được sự thất thoát vốn.
Bên cạnh đó nhà nước thường tác động vào nền kinh tế thông qua hệ
thống các chính sách, đó là công cụ hữu hiệu của nhà nước để điều tiết
Trình độ quản lý vốn thể hiện ở việc xác định cơ cấu vốn, lựa chọn
nguồn cung ứng vốn, lập kế hoạch sử dụng và kiểm soát sự vận động của
luồng vốn.Chất lượng của tất cả những hoạt động này đều ảnh hưởng lớn
đến hiệu quả sử dụng vốn. Với một cơ cấu vốn hợp lý, chi phí vốn thấp,
dự toán vốn chính xác thì chắc chắn hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp đó sẽ cao.
Bên cạnh công tác quản lý tài chính, chất lượng của hoạt động quản
lý các lĩnh vực khác cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn.
Chẳng hạn như là chiến lược kinh doanh, chính sách quản lý lao động,
quan hệ đối ngoại.
b. Ngành nghề kinh doanh:
Một doanh nghiệp khi thành lập phải xác định trước cho mình một
loại ngành nghề kinh doanh nhất định. Những ngành nghề, lĩnh vực kinh
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
8
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
doanh có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Để lựa
chọn được loại hình kinh doanh thích hợp đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến
hành nghiên cứu phân tích môi trường, phân tích điểm mạnh, điểm yếu
của mình. Với những lĩnh vực kinh doanh rủi ro thấp, lợi nhuận cao, ít có
doanh nghiệp có khả năng tham gia hoặc lĩnh vực đó được sự bảo hộ của
nhà nước, thì hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực đó có khả năng cao hơn.Trong quá trình hoạt động, sự năng động
sáng tạo của các doanh nghiệp trong việc lựa chọn sản phẩm, chuyển
hướng sản xuất, đổi mới cải tiến sản phẩm cũng có thể làm tăng hiệu quả
sử dụng vốn. Nếu doanh nghiệp biết đầu tư vốn vào việc nghiên cứu thiết
kế sản phảm mới phù hợp với thị hiếu hoặc là đầu tư vào những lĩnh vực
kinh doanh béo bở thì sẽ có khả năng thu lãi lớn.
c. Trình độ khoa học công nghệ và đội ngũ lao động trong doanh
nghiệp:
Doanh thu trong kỳ
Hiệu quả sử dụng =
Toàn bộ vốn Tổng số vốn sử dụng bình quân trongkỳ
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho biết một
đồng vốn bỏ ra trong quá trình sản xuất đem lại bao nhiêu đồng doanh thu,
vì vậy nó càng lớn càng tốt.
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
10
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
Lợi nhuận
Doanh lợi vốn =
Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Nó phản ánh
khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Nó cho biết một đồng vốn đầu tư
đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử
dụng vốn của người quản trị doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Tuy nhiên chỉ tiêu này có hạn chế là nó phản ánh một cách phiến diện. Do
mẫu số chỉ đề cập đến vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ, trong khi hầu hết
các doanh nghiệp nguồn vốn huy động từ bên ngoài chiếm một tỷ lệ không
nhỏ trong tổng nguồn vốn. Do đó nếu chỉ nhìn vào chỉ tiêu này nhiều khi
đánh giá thiếu chính xác.
Doanh thu thuần
hiệu suất (vòng quay )VCSH=
Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết trong ky kinh doanh mọt đồng vốn CSH thu
được bao nhiêu đồng doanh thu thuần hay nói cách khác là vốn CSH quay
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
12
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng vốn của tổng nguồn vốn mà
còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguốn vốn
của doanh nghiệp đó là VCĐ và VLĐ.
2.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ người ta sử dụng những chỉ tiêu sau:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thuthuần trong một năm.
Lợi nhuận trong kỳ
Sức sinh lợi của vốn cố định =
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng VCĐ tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ việc sử dụng VCĐ là có hiệu
quả.
Doanh thu trong kỳ
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
số khấu hao luỹ kế
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn TSCĐ trong doanh nghiệp so với
thời điểm đầu tư ban đầu hay phản ánh năng lực sản xuất của TSCĐ
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
13
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng thì chứng tỏ hiệu quả sử
dụng VLĐ tăng và ngược lại.
Thời gian của một kỳ phân tích
Thời gian của một vòng luân chuyển =
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay được một vòng,
thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của
VLĐ càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả
hơn.
4. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
DNNN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đặt ra
nhiều mục tiêu và tuỳ thuộc vaò giai đoạn hay điều kiện cụ thể mà có những
mục tiêu được ưu tiên thực hiện, nhưng tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng
là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, đạt được mục tiêu đó doanh
nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được.
Một doanh nghiệp muốn thực hiện tốt mục tiêu của mình thì phải hoạt động
kinh doanh có hiệu quả. Trong khi đó yếu tố tác động có tính quyết định đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả sử dụng vốn của doanh
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
15
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần phải có những biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt trong điều kiện hiện nay.
Khi nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp buộc phải
chuyển mình theo cơ chế mới, mới có thể tồn tại và phát triển. Cạnh tranh
giữa các DNNN với các thành phần kinh tế khác trở lên gay gắt. Bởi vậy,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng hàng dầu của doanh
NHNN&PTNT Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 1/1/2005 của chủ tịch hội đồng quản trị NHNN&PTNT Việt Nam. Với
tiền thân là chi nhánh NHNN&PTNT chi nhánh Than Uyên, từ sau khi tách
huyện Than Uyên thành 2 huyện là Than Uyên và Tân Uyên thì chi nhánh
NHNN&PTNN chi nhánh huyên Tân Uyên cũng được thành lập. Từ khi
thành lập, chi nhánh đã ổn định về tổ chức mạng lưới hoạt động kinh doanh,
đến nay đã triển khai nhiều điểm giao dịch tại các tụ điểm dân cư, thương
mại trên toàn huyện. Hoạt động của chi nhánh ngày càng mở rộng và đạt kết
quả cao. Các cán bộ phòng tín dụng thường xuyên đi xã tuyên truyền và
hướng dẫn kịp thời cho các hộ gia đình ngươì dân tộc thiểu số. Mô hình tổ
chức của chi nhánh như sau: Ban giám đốc, phòng kế toán, phòng tín dụng,
thủ quỹ.Tổng số cán bộ công nhân viên chức hiện nay là 14 cán bộ. Trong
đó ban giám đốc có một cán bộ, phòng thủ quỹ 2 cán bộ, phòng kế toán 5
cán bộ, phòng tín dụng 6 cán bộ.
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
17
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
Chi nhánh thực hiện chương trình giao dịch bán lẻ, hệ thống trang thiết bị
hiện đại: Máy vi tính, ATM… và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng
thỏa mãn được yêu cầu của thành phần kinh tế, sự đa dạng của khách hàng.
Là đơn vị kinh doanh có hiệu quả, hệ số lương vượt so với mức khoán của
NHNN&PTNT đưa ra.
Về chức năng và nhiệm vụ chủ yếu.
- Huy động bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức: Mở
tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu.
- Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các
thành phần kinh tế.
- Làm đại lý và dịch vụ ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng và
các cá nhân trong và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án,
dịch vụ giải ngân cho các dự án, thanh toán thẻ tín dụng, séc…
nợ quá hạn, thực hiện các biện pháp xử lý đối với khách hàng
Chức năng của phòng tín dụng
_ Các phòng tín dụng hoặc phòng kinh doanh làm chức năng tín dụng
hoặc tín dụng tại sở giao dịch và các chi nhánh có nhiệm vụ nghiên cứu tổ
chức xây dựng chiến lược kinh doanh, phân loại khách hàng và đề xuất các
chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng theo hướng
đầu tư tín dụng khép kín
_ Lựa chọn phương thức cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao
_ Thẩm định các dự án hoàn thiện hồ sơ trình cấp trên
_ Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân
và đề xuất hướng khắc phục
Chức năng của phòng kế toán
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
19
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
_ Huy động vốn từ dân cư và các tổ chức, cơ quan trong địa bàn huyện.
Làm các thủ tục ,in chứng từ gửi tiền, chuyển tiền
_ Trực tiếp thực hiện giao dịch với khách hàng
_ Làm lương và thu nợ
Chức năng của phòng thủ quỹ
_ Nhận tiền về quỹ qua mỗi phiên giao dịch
_ Xuất tiền khi có quyết định của cấp trên
_ Bảo quản kho quỹ va các chứng từ có giá
_ Nhập xuất kho theo quy định
3. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
3.1 Về hoạt động kinh doanh
* Trong hoạt động huy động vốn : Khai thác và cung ứng đối với mọi
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
Phòng kế toán Phòng kinh
Hoạt động tín dụng vẫn giữ vai trò chủ đạo quyết định đến sự thành bại
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
21
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
của ngân hàng chiếm trên 90%, tổng thu nhập. Dự nợ của chi nhánh tập
trung chủ yếu là ở các doanh nghiệp, các đơn vị có tình hình tài chính lành
mạnh. Dự nợ lành mạnh tăng trưởng nhanh.
Trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.
Ngân hàng là một chi nhánh nhỏ và ở vùng có nhiều dân tộc thiểu số
nên hầu như không có liên quan đến lĩnh vực thanh toán L/C. Bên cạnh đó
nghiệp vụ thanh toán ngân quĩ và các nghiệp vụ khác cũng phát triển đồng
bộ, đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh.
Công tác nguồn vốn.
Ngân hàng đã tạo được nguồn vốn ổn định và lớn đủ khả năng đáp ứng
được mọi nhu cầu về vốn đối với mọi khách hàng, đồng thời có đủ vốn để
chuyển cho các Ngân hàng trong cùng hệ thống đang thiếu vốn. Tốc độ và
quy mô tăng trưởng nguồn vốn trong 3 năm đạt kết quả tốt. Cơ cấu nguồn
vốn huy động hợp lý, giảm lãi suất đầu vào, có lợi trong kinh doanh.
Tiếp nhận các đề án nối mạnh thanh toán của NHNo với một số các đơn
vị như Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng nước ngoài để tập trung các khoản
thanh toán, tranh thủ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. Đã tiếp cận và tạo
được mối quan hệ tiền gửi đối với một số khách hàng lớn: Quỹ hỗ trợ phát
triển, Công ty TNHH Quỳnh Trang, công ty xây dựng Duy Tiến, Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam...bước đầu đạt kết quả tốt.
Như vậy ngân hàng ngày càng tự hoàn thiện mình để đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của thị trường với mục tiêu trở thành một Ngân hàng hiện đại,
đa chức năng.
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
22
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
Lợi nhuận sau thuế 463.890 258.735
Lãi cơ bản trên cổ phiếu - đồng 2.263 2.211
II. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
1. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NHNN&PTNT CHI NHÁNH TÂN
UYÊN .
1.1. Tình hình sử dụng vốn
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
23
Trường cao đẳng tài chính – Quản trị kinh doanh
Ngân hàng Thương mại. Cho vay hay đầu tư vào các loại tài sản nào cũng
đều là hoạt động kiếm lợi nhuận. Tài sản có là những khoản nợ mà thị
trường nợ ngân hàng hoặc là những khoản mà ngân hàng cho thị trường vay.
Đứng trên góc độ tính chất, ngân hàng là chủ nợ và các đối tượng vay tiền
của nó là con nợ. Vì mục tiêu của ngân hàng là cho vay để kiếm lời, nên tài
sản có hay các khoản mà ngân hàng cho vay còn được gọi là đầu tư.
Như vậy sử dụng vốn là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng
thương mại ( nghiệp vụ có ).
Sử dụng vốn bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt: Tiền mặt tại kho của ngân hàng
Tiền mặt ký gửi của ngân hàng Trung ương
- Đầu tư vào chứng khoán ( trái phiếu, hối phiếu...)
- Cho vay
- Đầu tư vào các loại tài sản ( như bất động sản, cơ sở hạ tầng, trang
thiết bị...)
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn của NHNN&PTNT chi nhánh Tân Uyên.
Để hiểu xem một Ngân hàng Thương mại (NHTM) hoạt động như
thế nào chúng ta phải xem xét đến bản quyết toán tài sản của Ngân hàng đó,
là bản kê tài sản có và tài sản nợ cuả nó. Bảng quyết toán này liệt kê các kết
số, tức là nó cóđặc trưng.
của những khoản vay trong một thời kỳ nhất định ( trong ngày, tháng, quý,
năm...) nhưng đây là chỉ tiêu cho biết khả năng luân chuyển sử dụng vốn của
một ngân hàng, quy mô đầu tư và cấp vốn tín dụng của ngân hàng đó đối với
nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ.
Sinh viên: Vũ Thị Huệ Lớp QT40a
25