ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ứng dụng tin học trong quản lý thuế
những vấn đề thực tiễn và giải pháp
(lời mở đầu + Chương 1, chương 2)
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghệ thông tin (CNTT) là một động lực quan trọng của sự phát
triển và biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế văn hóa xã hội. Ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin góp phần giải phóng sức mạnh vật chất trí tuệ và
tinh thần của dân tộc thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển nhanh và hiện đại
hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp,
để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đã cho thấy
tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với xu thế chung của đất nước
trong giai đoạn mới. Quán triệt sâu sắc định hướng đó, ngành tài chính đã
sớm nhận thực được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin và cải cách
hành chính trong việc hiện đại hóa ngành.
Ngày 28/07/2011, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã ký
Quyết định số 1803/QĐ-BTC ngày 28/07/2011 phê duyệt Kế hoạch ứng dụng
công nghệ thông tin ngành thuế giai đoạn 2011-2015.
Thực hiện Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt “Chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011-
2020” và Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT&TT đến 2010 và định
hướng đến năm 2020.
Ứng dụng CNTT giai đoạn 2011-2015 được xây dựng với những mục
tiêu:
Thứ nhất, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý thuế,
gắn chặt với quá trình cải cách hành chính thuế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của hệ thống thuế.
Thứ hai, thực hiện minh bạch hoá thủ tục hành chính thuế, cung cấp
Với những phân tích trên đây, có thể thấy được vai trò của việc ứng
dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý thuế là vô cùng quan trọng và
cấp thiết, vì vậy đề tài nghiên cứu “Ứng dụng tin học trong quản lý thuế -
3
Những thực tiễn và giải pháp” sẽ phần nào giải đáp một số thách thức và khó
khăn đó.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhắm hướng tới:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến
quản lý thuế và ứng dụng tin học trong quản lý thuế.
Thứ hai, đánh giá những ưu nhược điểm trong việc ứng dụng tin học
vào quản lý thuế của Tổng cục thuế nói chung và cục thuế Hà Nội nói riêng,
đồng thời đưa ra những thành tựu đạt được trong những năm gần đây.
Thứ ba, đề xuất những giải pháp định hướng phù hợp để hoàn thiện và
thúc đẩy công tác ứng dụng tin học vào quản lý thuế trong tương lai.
Cuối cùng, cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho chi cục quản lý
thuế Hà Nội, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu sử dụng.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức ứng dụng tin
học vào quản lý thuế của Tổng cục Thuế nhằm thực hiện mục tiêu hiện đại
hóa công tác quản lý tin học ngành thuế.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về thực trạng của
việc ứng dụng tin học trong quản lý thuế tại cục thuế thành phố Hà Nội, trong
thời gian từ năm 2010 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiến dựa trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, phương pháp duy vật
biện chứng phương pháp nghiên cứu định tính. Trong đó bao gồm các phương
pháp cụ thể như định nghĩa, thống kê, phân tích và tổng hợp:
- Phương pháp phân tích, định nghĩa được dùng trong chương 1 để giải thích
VÀ ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ THUẾ
1.1. Tổng quan về quản lý thuế
1.1.1. Khái niệm quản lý thuế
Ngày nay, có nhiều cách để giải thích thuật ngữ quản lý. Thuật ngữ
quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ
nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như kinh tế học, xã hội học, luật
học,… Mỗi ngành đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với
đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành.
Nhưng nhìn chung, theo khoa học định nghĩa thì “Quản lý là điều
khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào các quy luật, định
luật hay các nguyên tắc tương ứng để hệ thống hay quá trình ấy vận động
theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được các mục tiêu đã đinh
trước”.
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu nước ngoài: “Quản lý là tổ
chức và lãnh đạo các nguồn lực nhằm đạt được kết quả mong muốn”. Theo
định nghĩa này, đối tượng của quản lý là các nguồn lực có trong một tổ chức,
cơ quan, doanh nghiệp hoặc một quốc gia. Quan điểm này nhấn mạnh tới mục
tiêu của hoạt động quản lý là kết quả mà hoạt động quản lý cần đạt được.
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có đưa ra định nghĩa:
“Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các
hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu
chung”.
Một số tài liệu khác có viết: “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của
con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy điều hanh, hướng dẫn, kiểm tra,…
các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển
phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà
quản lý với chi phí thấp nhất”.
Qua các cách giải thích trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng
khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải
điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng
dẫn tiêu dùng và phân phối thu nhập đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
7
Chính vì tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế, Nhà nước cần phải tìm
mọi cách thức để quản lý thuế sao cho có hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu
đề ra và tối đa hóa vai trò của thuế trong đời sống xã hội. Nếu Nhà nước
không quản lý hoặc quản lý kém hiệu quả thì sẽ gây ra những hệ quả xấu cho
Nhà nước và toàn xã hội. Có thể kể đến đó là Nhà nước sẽ thiếu nguồn tài
chính để tồn tại và phát triển, không có khả năng thực hiện các chức năng,
nhiện vụ của mình, đồng thời nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội
như tham ô, hối lộ, lãng phí, hiện tượng trốn thuế, lậu thuế, nợ đọng thuế,…
xảy ra thường xuyên tạo nên gánh năng cho xã hội trong việc giải quyết vấn
đề bất bình đẳng khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, kỉ cương xã hội không đảm
bảo, Nhà nước không điều tiết được nền kinh tế dẫn tới lạm phát, suy thoái,
chính lợi ích của Nhà nước và của các tổ chức, cá nhân trong xã hội có thể bị
xâm hại. Vậy nên, quản lý thuế là hoạt động cần thiết và quan trọng, Nhà
nước và cả xã hội cần phải quan tâm và giải quyết triệt để.
Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm hóa như sau:
“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực các chính sách
thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước trong
lĩnh vực thuế”.
“Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế, là việc định
ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc
thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi
trường luôn biến động”.
“Quản lý thuế là một chuỗi các hoạt động bảm đảm mục tiêu thu Ngân
sách Nhà nước bao gồm: quản lý đăng ký thuế, quản lý sổ sách chứng từ,
quản lý khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách
nhiệm pháp luật về thuế”.
- Tập trung huy động tài chính đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho NSNN dựa
vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm
năng, từ đó đảm bảo nguồn thu NSNN đáp ứng kịp thời các khoản chi để đem
lại lợi ích cho xã hội và thực hiện các chương trình đúng tiến độ.
- Tối thiểu hóa chi phí quản lý thuế của nhà nước và chi phí tuân thủ của người
nộp thuế.
- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị
trường như: Ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân
9
phối thu nhập và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh theo
mục tiêu của nhà nước đã định trong từng thời kỳ.
- Tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế một cách đầy đủ,
kịp thời và tự nguyện theo các quy định của luật thuế
- Góp phần đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp
thuế khác nhau trong thực hiện nghĩa vị thuế đối với nhà nước, bảo
đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tọa động lực thúc đẩy kinh tế
tăng trưởng và phát triển.
- Quản lý thuế không chỉ có mục tiêu đảm bảo những quyền và lợi ích
cho nhà nước mà còn bảo vệ quyền vào lợi ích hợp pháp của người
nộp thuế.
Trong những mục tiêu trên, mục đích nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế
là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất để đạt được các mục tiêu còn lại trong
quản lý thuế. Bởi vì, khi có sự tuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao
nhất (nộp đầy đủ, đúng hạn và tự nguyện) chính là cơ sở để duy trì những
nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu trong tương lai. Khi có sự tuân thủ
và chấp hành tốt của người đi nộp thuế, sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ
quan thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế, đồng thời tạo nên văn hóa
tuân thủ thuế.
1.1.3. Vai trò của công tác quản lý thuế đối với nền kinh tế
Quản lý thuế hiệu quả đóng vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo thu
1.2.1. Khái niệm ứng dụng tin học
Tin học một ngành khoa học nghiên cứu về các phương pháp xử lý và
lưu trữ thông tin bằng các thiết bị điện tử (đặc biệt là máy vi tính). Nói cách
khác, tin học nghĩa là khoa học về máy tính. Đối tượng của tin học là những
thông tin, những gì tác động vào giác quan của chúng ta, phản ảnh sự việc, sự
vật, các hiện tượng tự nhiên và các hoạt động xã hội của con người. Thông
qua máy vi tính, thông tin được mã hóa và xử lý theo từng mục đích sử dụng
của các cá nhân, tổ chức.
Ứng dụng là hoạt động của con người nhằm đưa một công nghệ, một kĩ
thuật hay một phát minh áp dụng vào trong cuộc sống, xã hội cũng như trong
công việc để đạt được những kết quả như mong muốn.
Ứng dụng tin học là hoạt động sử dụng máy vi tính và những phần
mềm được lập trình và xử lý theo một cơ chế nhất định để thực hiện những
11
công việc của con người theo yêu cầu nhất định, nhằm đem lại lợi ích cho cá
nhân, tổ chức và xã hội.
Theo tiến trình phát triển của xã hội, công nghệ thông tin ngày càng
phát triển và việc ứng dụng nó vào các lĩnh vực của xã hội ngày càng rộng rãi.
Với ưu thế vượt trội hơn so với các ngành khoa học khác thông qua tốc độ xử
lý thông tin của máy tính và hiệu năng sử dụng các phần mềm ngày càng
tăng, tin học trở thành một yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tốc độ tăng
trưởng của một nền kinh tế.
1.2.2. Ứng dụng tin học trong quản lý thuế
Ứng dụng tin học trong quản lý thuế là việc đưa máy tính, phần mềm
cũng như các chương trình và cơ sở dữ liệu vào các hoạt động tổ chức, quản
lý, điều hành và kiểm soát quá trình thu nộp thuế của Nhà nước và các tổ chức
cá nhân tham gia thực hiện, nhằm đạt hiệu suất cao và tối ưu hóa lợi ích cho
người nộp thuế cũng như cơ quan thuế.
Quản lý thuế bao gồm rất nhiều công việc khác nhau và phức tạp, nếu
chỉ sử dụng yếu tố con người để thực hiện những việc đó thì tốc độ làm việc
hiệu quả cao.
Ví dụ: cáp quang, switch, wifi router tốc độ cao,…là các thiết bị ngoại
vi có khả năng truyền dữ liệu qua mạng nhanh và có tính ổn định cao.
c. Đảm bảo tính bảo mật của thông tin
Thông tin quản lý của một tổ chức không phải đối tượng nào cũng có
thể xem và chỉnh sửa, chính vì vậy để đảm bảo an toàn trong bảo mật thông
tin cần có hệ thống máy tính và phần mềm chuyên biệt để lưu trữ và bảo mật.
Thông qua nhiều cách thức, người quản lý có thể bảo mật dữ liệu trên máy
tính một cách an toàn chẳng hạn đặt mật khẩu cho tệp tin nén dữ liệu hoặc
khóa dữ liệu quan trọng bằng “product key”, hệ thống tường lửa của máy tính,
… Hệ thống phần mềm diệt virus cũng là một cách để ngăn chặn những mối
nguy hại và sự xâm nhập trái phép của những đối tượng gây ảnh hưởng xấu
cho tổ chức quản lý. Đối với quản lý thuế tức là quản lý tiền của người dân
nộp cho Nhà nước để thực hiện phúc lợi xã hội thì vấn đề bảo mật thông tin là
vô cùng quan trọng. Nếu như thông tin đó bị lộ ra ngoài bởi những đối tượng
xấu và bị sửa đổi trái phép có thể dẫn tới hậu quả vô cùng nghiêm trọng, gây
mất công bằng xã hội và vô vàn hệ lụy phía sau.
13
Dưới đây là ví dụ về sơ đồ bảo mật thông tin và an ninh mạng cục bộ
bằng công cụ V-AZUR tại các cơ quan Nhà nước:
Hình 1: Giải pháp V-AZUR trong an ninh mạng nội bộ
Hệ thống V-AZUR có các nhóm chức năng chính sau đây:
Truy cập Internet an toàn: Cho phép người dùng đang làm việc ở mạng trong,
không có kết nối Internet, truy cập Internet và bảo vệ an ninh dữ liệu, chống
thất thoát dữ liệu, thông tin và ngăn chặn phơi nhiễm mã độc.
Làm việc từ xa an toàn: Cho phép người dùng có kết nối Internet, truy cập
vào mạng nội bộ và làm việc từ xa, chống thất thoát dữ liệu và ngăn chặn
phơi nhiễm mã độc.
Chính vì vậy, việc ứng dụng tin học vào quản lý thuế có ưu điểm hơn
việc quản lý bằng chứng từ giấy tờ thông thường bởi tính an toàn thông qua
đơn tồn phiên bản 2.0, phần mềm tự in hóa đơn Tax Invoice.
Trong phạm vị nội dung bài nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung giới thiệu
phần mềm HTKK 3.1.7 năm 2013 phục vụ mục đích khai thuế qua mạng cho
NNT.
Ngày 08/08/2013, Tổng cục Thuế có thông báo về việc Nâng cấp ứng
dụng Hỗ trợ kê khai tờ khai mã vạch (HTKK) phiên bản 3.1.7, và ứng dụng
khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 2.2.11 hỗ trợ Người nộp thuế kê khai
15
thuế từ ngày 01/7/2013 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản
lý thuế, Luật thuế GTGT, TNDN, TNCN và Thông tư số 64/2013/TT-BTC về
hoá đơn.
Để hỗ trợ Người nộp thuế (NNT) một số nội dung về kê khai thuế theo
quy định tại công văn số 8336/BTC-TCT và công văn số 8355/BTC-CST
ngày 28/6/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn triển khai thực hiện một số quy
định có hiệu lực từ 01/7/2013 tại Luật sửa đổi bổ sung Luật thuế GTGT,
TNDN và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Thông
tư số 64/2013/TT-BTC quy định về hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ,
Tổng cục Thuế đã hoàn thành nâng cấp ứng dụng HTKK phiên bản 3.1.7 và
ứng dụng iHTKK phiên bản 2.2.11 với nội dung cụ thể như sau:
- Hỗ trợ khai thuế GTGT theo quý
- Hỗ trợ khai thuế TNCN
- Hỗ trợ khai thuế GTGT, TNDN đáp ứng yêu cầu thay đổi thuế suất thuế
TNDN theo 3 mức (10%, 20% và 25%) và giảm 50% thuế suất GTGT cho
các hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội.
- Hỗ trợ xác định tiền chậm nộp tiền thuế (trước đây gọi là tiền phạt nộp chậm
tiền Thuế)
- Cập nhật cách xác định tiền phạt chậm nộp tiền thuế trên chức năng kê khai tờ
khai bổ sung đối với các loại tờ khai thuế trên ứng dụng HTKK, iHTKK theo
nguyên tắc:
+ 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp kể từ ngày hết thời hạn nộp
Cổng thông tin điện tử (Portal) là một hoặc một nhóm trang web mà từ
đó người truy cập có thể dễ dàng truy xuất các trang web và các dịch vụ thông
tin khác trên mạng máy tính. Cổng thông tin là địa chỉ tổng hợp các ứng dụng
của một tổ chức như thư điện tử, chia sẻ tài liệu, lịch công tác thông qua giao
diện Web. Các thành viên của doanh nghiệp có thể thông qua giao diện web
(hay còn gọi là cổng thông tin, webportal) mà truy cập và sử dụng các ứng
dụng của doanh nghiệp đơn giản tiện lợi.
Đến năm 2013, tất cả các Cục, chi Cục cũng như các Bộ, Ban, Ngành
và các cơ quan ngang bộ của Việt Nam đều có cổng thông tin riêng để phục
vụ công tác quản lý và trao đổi thông tin qua mạng với doanh nghiệp và các
cá nhân.
17
Dưới đây là giao diện Cổng thông tin điện tử của Tổng Cục Thuế Việt
Nam:
Hình 2: Cổng thông tin điện tử của Tổng Cục Thuế Việt Nam
Thông qua Cổng thông tin điện tử của Cục Thuế, doanh nghiệp và các
cá nhân có thể nắm bắt được những thông tin, báo cáo quan trọng về thuế, tìm
hiểu các văn bản, thủ tục hành chính liên quan đến thuế, trao đổi và được giải
đáp những thắc mắc liên quan đến ngành thuế; tham gia các dịch vụ công trực
tuyến như kê khai – quyết toán thuế qua mạng, in hóa đơn điện tử,…một cách
dễ dàng và thuận tiện. Mặt khác, Cổng thông tin điện tử cũng là kho chứa
khổng lồ về thông tin và cơ sở dữ liệu của NNT. Vì vậy, luôn đảm bảo đáp
ứng yêu cầu của NNT khi cần tra cứu những thông tin cần thiết.
Đây cũng là điều kiện cần thứ hai mà Nhà nước, các cơ quan, và các
chủ doanh nghiệp,…cần phải làm để đáp ứng yêu cầu công việc.
1.2.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực trong tin học ngành thuế
Đào tạo nguồn nhân lực nói chung là hoạt động có tổ chức được thực
hiện trong một thời gian nhất định nhằm thay đổi nhân cách và nâng cao năng
lực của con người. Đào tào nguồn nhân lực là quá trình học tập để chuẩn bị
con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TIN HỌC
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY
2.1. Quá trình phát triển của tin học ngành thuế ở Việt Nam
2.1.1. Sự ra đời của tin học ngành thuế ở Việt Nam
Từ năm 1991, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển mạnh sang nền kinh tế
thị trường, ngành thuế bắt đầu công cuộc cải cách thuế có mục tiêu, trở thành
công cụ chủ yếu của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế,
đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Đây là một chủ trương
và quyết sách quan trọng, khẳng định vai trò và tính cấp thiết phải đưa ứng
dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý thuế. Thực tế 20 năm qua cũng
là minh chứng sống về nguyên lý thành công của các đề án chiến lược phát
triển ứng dụng công nghệ thông tin của ngành thuế trong từng thời kỳ, đó
chính là tầm nhìn, là chiến lược đúng đắn, là sự quan tâm chỉ đạo động viên
kịp thời của lãnh đạo Bộ Tài chính, lãnh đạo tổng cục Thuế, là đội ngũ cán bộ
tin học năng động, dám nghĩ dám làm, dám đột phá.
Ngày 13/5/1991, thứ trưởng Bộ Tài chính kiêm tổng cục trưởng tổng
cục Thuế Phan Văn Dũng đã ký quyết định khai sinh ra đơn vị tin học đầu
tiên của ngành thuế, đó là tổ tin học do ông Phạm Văn Huấn trưởng phòng kế
hoạch kiêm tổ trưởng và hai cán bộ nữ là chị Trương Thị Hải Đường và chị
Nguyễn Thị Thuận. Với đề án xây dựng hệ thống thông tin thu thuế trên cơ sở
sử dụng máy vi tính được thực hiện trong 3 năm (1991-1993) ngành thuế bắt
đầu sự nghiệp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế.
2.1.2. Quá trình phát triển của tin học ngành thuế ở Việt Nam
Năm 1992, việc thực hiện đề án tin học đầu tiên của ngành thuế, tổ máy
tính được nâng cấp thành phòng máy tính. Trong thời gian này, toàn ngành
thuế chỉ có khoảng gần 40 chiếc máy tính do tổ chức FIDA (Thụy Điển) tài
trợ và Bộ Tài chính trang bị. Phần mềm ứng dụng đầu tiên của công tác quản
lý thuế với tên gọi là Thuế Việt Nam, sản phẩm phối hợp với Viện Tin học
Việt Nam đã được đưa vào sử dụng, hỗ trợ cho việc lập sổ Bộ Thuế, tính thuế
ấy, nguyên bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng nay là chủ tịch quốc
hội, đã trực tiếp chỉ đạo lãnh đạo Tổng cục Thuế, cục tin học Bộ Tài chính và
21
mời công ty FPT cùng phối hợp tổng lực bao gồm cả sự tư vấn của chuyên gia
Thụy Điển để trong vòng 1 năm, hệ thống ứng dụng đăng ký thuế và quản lý
thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp. Phiên bản đầu tiên đã hoàn thành
và triển khai ngay khi luật thuế có hiệu lực, thi hành vào đầu năm 1999.
Giai đoạn 2001 – 2005: Đề án chiến lược tin học ngành thuế đa được
xây dựng với mục tiêu: xây dựng mạng diện rộng, toàn ngành; thí điểm phát
triển ứng dụng theo mô hình 3 lớp chia sẻ thông tin giữa các cấp và tạo môi
trường trao đổi, làm việc và chỉ đạo trên mạng để đảm bảo nguồn lực triển
khai nhiệm vụ lớn về ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn mới. Bộ
trưởng Bộ Tài chính đã ra quyết định thành lập phòng xử lý thông tin và tin
học tại tất cả các cục thuế, trực thuộc Tổng cục Thuế.
Ngày 28/10/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định nâng
cấp phòng tin học ở Tổng cục Thuế thành trung tâm tin học thống kê. Đồng
bộ với yêu cầu cải cách quản lý thuế, Tổng cục Thuế đã tích hợp ứng dụng tự
khai, tự nộp thuế vào hệ thống ứng dụng quản lý thuế để triển khai rộng khắp
trong toàn ngành thuế. Mô hình xử lý thông tin phân tán đã chuyển hướng dần
sang tập trung qua các dự án ứng dụng quản lý ấn chỉ thuế, quản lý báo cáo tài
chính doanh nghiệp.
Từ năm 2008, luật doanh nghiệp mới ban hành đã thúc đẩy mạnh mẽ
các hoạt động sản xuất kinh doanh, nền kinh tế thị trường bước vào giai đoạn
phát triển mạnh mẽ với xu hướng hội nhập toàn cầu hóa và chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của sự phát triển Internet và công nghệ thông tin. Sự phát triển bùng
phát của các hình thức kinh doanh mới như thương mại điện tử, kinh doanh
qua mạng, mua bán hàng đa cấp, cung cấp dịch vụ từ xa qua mạng, đòi hỏi
ngành thuế phải đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa, phát huy mạnh mẽ hơn nữa
hiệu quả, tác dụng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản
lý thuế. Nhằm đẩy mạnh tính chuyên nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho việc triển
tướng Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính và các tổ chức trong và ngoài nước
đã trao tặng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý cho đội ngũ cán bộ tin học
ngành thuế. Hai năm liên tiếp, từ năm 2009 đến 2010, đứng đầu trong bảng
xếp hạng mức độ sẵn sàng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ngành
Tài chính. Cục ứng dụng công nghệ thông tin trong Tổng cục Thuế luôn được
mệnh danh là đồng nhất, trẻ nhất, khỏe nhất, làm việc hăng say nhất, hoạt
23
động sáng tạo nhất và yêu đời nhất. Có thể nói, ứng dụng tin học đã trở thành
yếu tố then chốt, quyết định đến sự thành công của việc chuyển đổi cơ chế
quản lý thuế từ thủ công lạc hậu sang cơ chế quản lý thuế hiện đại, tự khai tự
nộp và phù hợp với thông lệ quốc tế.
2.2. Thực trạng ứng dụng tin học trong quản lý thuế ở Việt Nam
trong những năm gần đây (giai đoạn 2009-2013)
Trên thế giới, công nghệ thông tin đang liên tục và không ngừng phát
triển, đó là một động lực quan trọng của sự phát triển và biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế văn hóa xã hội. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin góp
phần giải phóng sức mạnh vật chất trí tuệ và tinh thần của dân tộc thúc đẩy
công cuộc đổi mới phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng
cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Điều đã cho thấy tầm nhìn
chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với xu thế chung của đất nước trong
giai đoạn mới.
Quán triệt sâu sắc định hướng đó, ngành tài chính Việt Nam đã sớm
nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của công nghệ thông tin và
cải cách hành chính trong việc hiện đại hóa ngành thuế nói riêng và dịch vụ
công nói chung. Trong vòng 5 năm trở lại đây, Nhà nước và Chính phủ Việt
Nam đã có những chính sách nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác ứng dụng tin
học trong quản lý hành chính nói chung và quản lý thuế nói riêng.
Các văn bản chính sách năm 2012 về ứng dụng công nghệ thông tin
trong ngành thuế tập trung vào 3 nội dung chính là: cơ sở hạ tầng công nghệ
Năm
Tỉ lệ máy tính được trang bị cho
cán bộ, công chức và viên chức
Tỉ lệ máy tính kết nối Internet
Bộ Tài chính Tỉ lệ trung bình Bộ Tài chính
Tỉ lệ trung
bình
2009 100% 81.98% 100% 70.60%
2010 100% 86.74% 94.60% 88.50%
2011 100% 90.60% 100% 93.60%
2012 100% 87.90% 100% 93.40%
Bảng 2.1. Hiện trạng trang bị máy tính và kết nối mạng
tại Bộ Tài chính giai đoạn 2009 - 2012
(Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông)
Biểu đồ 2.1: Hiện trạng trang bị máy tính và kết nối mạng tại
Bộ tài chính và bình quân tổng bộ giai đoạn 2009 – 2012 (%)
25