Đánh Giá Tác Động Của Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu Đến Tài Khoảng Vãng Lai Việt Nam - Pdf 26

Đánh Giá Tác Động Của Cuộc Khủng Hoảng
Kinh Tế Toàn Cầu Đến Tài Khoảng Vãng Lai Việt
Nam
A.Tài Khoản Vãng Lai
Tài khoản vãng lai là thước đo mậu dịch quốc tế về hàng hóa dịch vụ của
một quốc gia,ghi lại những luồng hàng hóa và dịch vụ quốc tế và những
khoản thu nhập ròng khác ở nước ngoài.
Cán cân thanh toán vãng lai: Hiệu số giữa tổng số xuất khẩu
về hàng hóa dịch vụ với tổng số nhập khẩu về hàng hóa dịch vụ
Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho
người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán
sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của
người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên
"có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn
hơn bên nợ
2.Phân loại :
a.Cách phân loại cũ:
 Cán cân thương mại hàng hóa
 Xuất khẩu
 Nhập khẩu
 Cán cân thương mại phi hàng hóa
 Cán cân dịch vụ
▪ Vận tải
▪ Du lịch
▪ Các dịch vụ khác
 Cán cân thu nhập
▪ Kiều hối
▪ Thu nhập từ đầu tư
 Các chuyển khoản
b.Cách phân loại mới :
 1.Cán cân thương mại về hàng hóa và dịch vụ

dưới tiêu chuẩn nhưng ở Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620,
chiếm gần 25% dân số Mỹ. Do uy tín của người vay thấp và tình hình tài chính không mấy
sáng sủa nên nhìn chung các khoản vay dưới tiêu chuẩn có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường
và điều này lại càng làm tăng thêm khó khăn tài chính cho người vay, đặc biệt khi lãi suất thị
trường gia tăng.
-Cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn (subprime mortgage) là một trong
những loại hình thuộc lĩnh vực cho vay dưới tiêu chuẩn và đặc biệt phát triển
mạnh từ đầu thế kỷ 21, trở thành một “ngành công nghiệp”.Trong giai đoạn
2004-2006, cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn chiếm khoảng 21% tổng các khoản
vay cầm cố, tăng so với mức 9% giai đoạn 1996-2004, trong đó chỉ tính riêng
năm 2006 tổng trị giá các khoản vay cầm cố dưới tiêu chuẩn lên đến 600 tỷ
USD, bằng 1/5 thị trường cho vay mua nhà của Mỹ. Sự phát triển mạnh của
hình thức cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn đi kèm với sự bùng nổ thị trường
nhà đất của Mỹ là hệ quả của việc lãi suất giảm xuống mức thấp kỷ lục, các
tiêu chuẩn cho vay nới lỏng và hội chứng “thích mua nhà” của dân Mỹ.
Khủng hoảng tài chính trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn
(suprime mortgage market) xảy ra khi một loạt các vụ tịch thu tài sản trên thị
trường này gia tăng mạnh mẽ bắt đầu ở Mỹ vào năm 2006 và lan ra thành cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu vào tháng 7/2007. Một số ý kiến cho rằng đây
là sản phẩm của cựu Chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan với
việc giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục nhằm vực dậy nền kinh tế Mỹ đang
trì trệ và kéo theo nó là bong bóng nhà đất và sự bùng nổ trên thị trường cho
vay cầm cố dưới tiêu chuẩn. Do đó, khi lãi suất gia tăng trở lại và bong bóng
nhà đất qua đi đã đẩy hàng trăm nghìn người vay đến nguy cơ vỡ nợ, buộc một
số công ty cho vay dưới tiêu chuẩn lớn phải đệ đơn xin phá sản.
2.2. Chứng khoán hóa các hợp đồng nợ
-Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn được thực hiện thông qua một công
cụ tài chính hiện đại rất khá tinh vi được gọi là nghiệp vụ chứng khoán hóa
(securitisation).Chứng khoán hóa có lịch sử phát triển từ năm 1977 tại Mỹ song
thực sự phát triển mạnh từ thập kỷ 90.

Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605000 việc làm
trong 8 tháng đầu năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 6.1%, cao nhất trong năm
năm trở lại đây. Sự mất giá của các tài sản nhà đất cũng sẽ đẩy tỉ lệ nợ trên tài
sản sở hữu của người tiêu dùng Mỹ lên cao hơn con số 18% hiên nay, bắt buộc
họ phải thắt chặt hầu bao. Tổng số nợ của người tiêu dùng Mỹ đã lên tới 2.500
tỉ đô la (trung bình 8.500 đô la một người), tương đương khoảng 18% giá trị tài
sản sở hữu theo đầu người. Tỉ lệ tiết kiệm của người Mỹ trong vài năm qua đã
xuống chỉ số âm, tức là mỗi người Mỹ tiêu nhiều hơn thu nhập làm ra.
Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã
chi trong năm qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và
ngân hàng, sẽ là gánh nặng lớn đối với ngân sách của chính phủ Mỹ trong
nhiệm kì tới.
Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong
năm 2008 đã ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền
nợ của chính phủ Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương
khoảng 60% Tổng thu nhập Quốc dân của Mỹ.
Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền,
phục hồi hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ
trong việc theo đuổi các chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt
là khả năng duy trì hai cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
Kể từ tháng 8 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2008, trên 770000 căn nhà ở
Mỹ bị ngân hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay
mua nhà. Cuộc khủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người
mất việc là.
Một số ngân hàng Mỹ vẫn đối diện nguy cơ phá sản cho dù có gói cứu trợ tài
chính 700 tỷ USD mà chính phủ đã đưa ra. Các tổ chức tài chính bị phá sản
hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mĩ: do IRIC tổng hợp
Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp

1

60.000 người
Xếp thứ 32 trong
danh sách Global
2000 (các công ty
lớn nhất thế giới)
Thua lỗ quý
IV/2007: 9,83 tỷ
đô
Thua lỗ ròng
quý I/2008: 1,97
tỷ đôla
mất giá tài sản
(2007): 16,7 tỷ
đôla
Bán cho ngân hàng
Mỹ (BoA) với giá 50
tỷ đôla
3
AIG
Tổng tài sản: 1,05
nghìn tỷ đôla
Tổng vốn góp ổ
phần 78,09 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
116.000 người
Xếp thứ 6 trong
danh sách Global
2000 (các công ty
lớn nhất thế giới)
Cổ phiếu mất

hàng có tốc độ phát
triển nhanh nhất
trong lịch sử nước
Mỹ
5
Bear Stearns
Tổng tài sản: 350,4
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
15.500 người
Là công ty chứng
khoans lớn thứ 7
thế giới
Thiệt haiij quý
IV/2007: 859
triệu đôla
Mất giá tài sản
(2007): 1,9 tỷ
đôla
30/05/2008: Bán cho
JP Morgan Chase với
giá 1,1 tỷ đôla
6 IndyMac
Tổng tài sản: 32 tỷ
đô
Là tổ chức cho vay
và gửi tiết kiệm lớn
nhất ở Los Angeles.

4,6 tỷ đôla
Thua llox quý
II/2008: 821
triệu đôla
07/09/2008: FED kí
hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô
hỗ trợ cho Freddie
Mac, đổi lại giành
quyền kiểm soát các
cổ phiếu ưu đãi đặc
biệt của công ty này.
8 Fannie Mae Tổng tài sản: 882,5 Thua lỗ (2007): 07/09/2008: cùng với
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 44 tỷ đôla
Là tổ chức hàng đầu
trong thị trường thế
chấp dưới chuẩn
của Mỹ
2 tỷ đôla
Thua lỗ quý
II/2008: 2,3 tỷ
đôla
Freddie Mac bị FED
tiếp quản
9
New Century
Financial
Corp
Tổng thu nhập (năm

Bảo hiểm Tiền gửi
Liên Bang Mỹ FDIC
tiếp quản
11
Washington
Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ
đôla
Washington Mutual
là ngân hàng tiết
kiệm lớn nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ
đôla để từ tháng
6 và 17 tỷ đôla
trong 2 tuần gần
đây
26/09/2008: Chính
phủ tiếp quản và sau
đó bán lại cho JP
Morgan Chase & Co
với giá 1,9 tỷ đôla
12 Wachovia
Là ngân hàng lớn
thứ 6 ở Mỹ
Tổng tài sản: 327,9
tỷ đôla
Giá cổ phiếu
của Wachovia
đã sụt giảm tới
81,6%, còn 1,84

III.Nhật:
 GDP 2007 của Nhật là 4.384 tỷ USD, tăng 0,2 % so với 4.375 tỷ USD
của năm 2006. Quý 1 năm 2008 GDP Nhật tăng trưởng 0,6 % so với quý
trước, tuy nhiên liên tiếp 3 quý tiếp sau con số tăng trưởng này đã bị âm.
Cụ thể quý 2/2008 GDP tăng trưởng -0,1% so với quý 1/2008, quý 3 con
số này là -0,5% và quý 4/2008 dự báo tăng trên -3,2%. Nhật Bản chính
thức bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế trong năm 2008 và năm 2009
(bắt đầu tính từ 01/04/2009 theo năm tài khóa của Nhật) các dự báo tăng
trưởng GDP của Nhật là 0% (theo Chính phủ Nhật) và -0,1 % (theo
WB ).
 Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 9/3 công bố nền kinh tế Nhật Bản đã bị
thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức kỷ lục 172,8 tỷ yen (tương đương 1,8
tỷ USD) trong tháng 1/2009.
IV.Châu Mỹ Latinh:
Cơn bão tài chính Mỹ như một căn bệnh dịch lan sang các hệ thống tiền tệ
toàn cầu, các nước láng giềng của Mỹ cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng
của cơn bão đó. Những ngày gần đây, thị trường tiền tệ lớn tại khu vực Mỹ
Latinh cũng bị biến động mạnh, thị trường chứng khoán (TTCK) tụt dốc, tiền
tệ mất giá - tình hình khiến nhiều người lo ngại. Tuy nhiên các chuyên gia kinh
tế đánh giá, các nước Mỹ Latinh kiên định với các chính sách kinh tế khiến cho
mức ảnh hưởng là không lớn, khả năng xảy ra nguy cơ của khủng hoảng tiền tệ
là không cao, nhưng hậu quả từ khủng hoảng tiền tệ là không mấy khả quan,
thậm chí còn ảnh hưởng đến cục diện chính trị.
Thị trường tiền tệ biến động:
Vài tháng gần đây, các TTCK lớn tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng giảm,
TTCK Sao Paulo (Brazil), Buenos Aires (Argentina) giảm hơn 30%, giá cổ
phiếu tại các TTCK chủ đạo của Mexico và Chi-lê lần lượt giảm 20% vaì 10%.
Cùng với TTCK, các mệnh giá tiền tệ của khu vực Mỹ-Latinh cũng giảm so
với tỷ giá đồng Đô-la. Tỷ giá các tiền Brazil, Chi-lê, Mexico, và Argentina so
với đồng đô-la lượt giảm 13,5 %, 6,5%, 4,64%, và 2,63%.

vốn đầu tư
NN
2452 2650 39405 125,7
Dầu thô 465 550 10450 123,1
Hàng hóa 1987 2100 24455 126,8
khác
Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2008, Hoa Kỳ là đối
tác lớn nhất, ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2007 với 5 mặt
hàng chủ yếu (chiếm tỷ trọng 76% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt
Nam sang thị trường này) gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ,
giày dép, thủy sản. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy
có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ
USD, tăng 31% so với năm 2007 với các mặt hàng chính là: Dầu thô, gạo, thủy
sản, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ
USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền thống như: Hàng
dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản. Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ
USD, tăng 45% so với năm 2007, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô,
giày dép, thủy sản, máy tính và linh kiện, dây và cáp điện.
Nhập khẩu hàng hóa
Nhập khẩu hàng hóa năm 2008
•Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2007. Tuy nhiên, nhập khẩu
nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xu hướng giảm nhiều,
đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất.

Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD tăng 24,1% so với năm 2007
class="bi x2 y133 wa h10"
class="bi x1f y134 wb h11"
Xuất nhập khẩu hàng háo tháng 3 đầu năm 2009
Tính chung quý I/2009, xuất siêu 1,6 tỷ USD, bằng 12,2% tổng kim ngạch

tệ cho cán cân vãng lai
Kiều hối giảm mạnh
•Tại sao khủng hoảng tài chính thế giới ảnh hýởng đến cán cân thương mại?
+ Cõ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu Việt Nam
+ Thị trýờng nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt
Nam giảm.
+Nhập khẩu cũng giảm do Việt Nam nhập khẩu tới 70-80% nguyên
liệu ðể làm hàng xuất khẩu,và nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng ít ỏi
+Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính làm cho giá cả trên thị trýờng thế
giới giảm, thuế suất hạ thấp dẫn đến khả nãng nhập khẩu sẽ lại gia tãng, gây sức
ép mạnh đến sản xuất trong nước
•Tại sao khủng hoảng tài chính thế giới ảnh hưởng đến cán cân thương mại?
+ Cõ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu Việt Nam
+ Thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt
Nam giảm.
+Nhập khẩu cũng giảm do Việt Nam nhập khẩu tới 70-80% nguyên
liệu ðể làm hàng xuất khẩu,và nhu cầu tiêu dùng trong nýớc cũng ít ỏi
+Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính làm cho giá cả trên thị trường thế
giới giảm, thuế suất hạ thấp dẫn đến khả nãng nhập khẩu sẽ lại gia tãng, gây sức
ép mạnh đến sản xuất trong nước.
Lạm Phát:
Nếu 1 quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao so với các nước khác có quan hệ mậu
dịch ,thì tài khoản vãng lai của quốc gia này sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng
nhau
Diễn biến lạm phát 2008 chia làm 3 giai đoạn:
- lạm phát nóng
- kiềm chế lạm phát
- giảm phát
 Giai đoạn 1: Lạm phát nóng
Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vào

 Quý I/2008
Năm 2008 khởi đầu với hy vọng khi Quốc hội và Chính phủ đặt mục tiêu
tăng trưởng GDP là 8,5%-9% trên cơ sở mức tăng trưởng kinh tế năm 2007 là
8,48%. Tuy nhiên, ngay trong quý I/2008, những dấu hiệu của một nền kinh tế quá
nóng, đă trở nên ngày một rõ rệt: bên cạnh lạm phát gia tăng là Thâm hụt tài
khoản văng lai: Cán cân thương mại thâm hụt ở mức kỷ lục trong nhiều năm
(9,3%-9,7% GDP) trong đó tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 40% so với cùng kỳ
năm ngoái.

 Quý II/2008
Kết thúc quý I, GDP tăng 7,4% nhưng những dấu hiệu của việc sút giảm
GDP đă xuất hiện khi Chính phủ có những biện pháp mạnh tay để giải quyết các
vấn đề nóng bỏng như lạm phát, tỷ giá, thâm hụt thương mại. Mục tiêu lúc này
không c̣ònlà tăng trưởng GDP mà là “hạ cánh m ềm”. Ảnh hưởng của một chính
sách thặt chặt tiền tệ đă khiến cho trong quý II, GDP lùi mạnh mẽ đưa tăng trưởng
GDP trong sáu tháng đầu năm chỉ là 6,5%.
 Quý III/2008
Các biện pháp kiềm chế lạm phát đă có hiệu quả khi lạm phát giảm dần. Tỷ
giá cũng đi dần vào ổn định. FDI và hạn chế nhập siêu có thể nói là 2 nguyên nhân
chính dẫn tới sự phục hồi tăng trưởng GDP trong quý III, 9 tháng đầu năm tăng
trưởng GDP là 6,52%.
 Quý IV/2008
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhanh chóng lan tỏa sang các lĩnh vực
khác khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Nhu cầu hàng hóa tiêu dùng
giảm mạnh, giá cả hàng hóa thế giới tiếp tục suy giảm. Trong khi đó, chính sách tỷ
giá của Việt Nam vẫn tương đối xơ cứng nên trong khi đồng tiền nhiều nước cạnh
tranh xuất khẩu chủ yếu với Việt Nam mất giá mạnh nên VND đă lên giá tương
đối, dẫn tới xuất khẩu suy giảm và nhập khẩu tăng mạnh trong tháng 10/2008.
Ảnh Hưởng Của tỷ Giá Đến Cán Cân Thương Mại
Từ 27/06/2008 đến 07/11/2008

khách.km, tăng 8,2% so với năm trước; đường sắt đạt 11,3 triệu lượt hành khách,
giảm 2,1% và 4,6 tỷ lượt hành khách.km, giảm 0,4%; hàng không đạt 10,2 triệu
lượt hành khách, tăng 10,5% và 16,1 tỷ lượt hành khách.km, tăng 9,4%.
-Số khách quốc tế đến nước ta năm 2008 ước tính đạt 4,3 triệu lượt người,
tăng 0,6% so với năm trước
-Trong tổng số khách quốc tế đến nước ta năm 2008, khách đến từ Trung
Quốc đạt 650,1 nghìn lượt người, tăng 13,1% so với năm 2007; Hoa Kỳ 417,2
nghìn lượt người, tăng 2,2%; khách đến từ Thái Lan 183,1 nghìn lượt người, tăng
9,6%; khách đến từ Xin-ga-po 158,4 nghìn lượt người, tăng 14,6%; một số nước
có lượng khách đến nước ta giảm là: Hàn Quốc 449,2 nghìn lượt người, giảm
5,5%; Nhật Bản 393 nghìn lượt người, giảm 6,1%; Đài Loan 303,5 nghìn lượt
người, giảm 4,9%.
Khách quốc tế đến Việt Nam 2 tháng đầu năm 2009
Khách quốc tế đến nước ta 2 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 688,8 nghìn
lượt người, giảm 10,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục
đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 403,4 nghìn lượt người, giảm 14,6%; đến vì công
việc 107,7 nghìn lượt người, giảm 20,1%; thăm thân nhân đạt 129,3 nghìn lượt
người, tăng 2,4%.
Trong 2 tháng đầu năm, lượng khách từ Hoa Kỳ đến nước ta ước tính đạt 89,5
nghìn lượt người, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ Ôx-trây-li-a
đạt 49,5 nghìn lượt người, tăng 14,4%; khách đến từ Pháp 31,2 nghìn lượt người,
tăng 12,4%; khách đến từ Ca-na-đa 22,5 nghìn lượt người, tăng 29,8%. Một số
quốc gia và vùng lãnh thổ tuy có lượng lớn khách đến Việt Nam nhưng giảm so
với cùng kỳ năm 2008 là: Trung Quốc 72,1 nghìn lượt người, giảm 12,9%; Hàn
Quốc 70,2 nghìn lượt người, giảm 22,4%; Nhật Bản 67,3 nghìn lượt người, giảm
8,3%; Đài Loan 49,4 nghìn lượt người, giảm 6,2%, Ma-lai-xi-a 26,1 nghìn lượt
người, giảm 8,9%.
Thu Nhập Ròng Từ Bên Ngoài
Khoản mục này bao gồm các khoản thu ròng về cổ tức, lãi và lợi nhuận của
người cư trú từ vốn đã đầu tư ra nước ngoài (một cá nhân được xem là cư trú trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status