Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
vụ cho người tiêu dùng 9
1.4.2. Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thơng tin về hàng hóa 10
1.4.3. Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch 11
1.4.4. Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện 11
1.4.5. Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật 12
1.4.6. Trách nhiệm bồi thường do hàng hóa có khuyết tật gây ra
CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VẤN ĐỀ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
2.1. Thực tiễn của trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của doanh nghiệp 14
2.2. Những thành tựu về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước khi Luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực 14
2.3. Vướng mắc trong trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của doanh
nghiệp 16
2.4. Thành tựu về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng khi có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 có hiệu lực 16
2.5. Hồn thiện cơ chế pháp lý về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 2
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
LỜI MỞ ĐẦU
Thời kỳ trước “đổi mới”, do một số ngun nhân khách quan và chủ quan, quyền lợi
của người tiêu dùng Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng chưa được quan tâm một cách thích đáng. Bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hố tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan
hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà cung cấp hàng hố, dịch vụ với một bên là
người tiêu dùng đã được xác lập và vai trò của người tiêu dùng ngày càng được nâng cao.
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 3
− Chối bỏ trách nhiệm khi hàng hóa, sản phẩm có vấn đề mà đổ lỗi cho người tiêu
dùng gây ra.
− Giải quyết trách nhiệm một cách qua loa.
− Khơng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Mặc dù đã có pháp lệnh 13/1999/PL - UBTVQH10 quy định về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng nhưng bảo vệ chỉ trên lý thuyết còn thực tế lại khác xa và chưa thể hiện
rõ cho người tiêu dùng hiểu. Với trinh độ hiểu biết về Luật chưa nhiều của người tiêu
dùng và đơi khi cũng khơng biêt được mình có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu bảo vệ
mình khi bị xâm phạm. Trong thời gian gần đây, tuy trình độ của người tiêu dùng ngày
càng cao, có người tiêu dùng thơng minh nhưng vẫn có những tranh chấp giữa người tiêu
dùng và các doanh nghiệp liên quan đến hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ ảnh hưởng đến sức
khỏe, tâm lý người tiêu dùng và gây bất bình cho mọi người. Đối với tác giả bản thân
cũng là người tiêu dùng tơi mong muốn các doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi của mình. Do
đó, tác giả chọn đề tài “ Trách nhiệm của doanh nghiệp trong vấn bảo vệ quyền lợi người
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 4
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
người tiêu dùng” để khái qt rõ hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu
dùng và quyền lợi người tiêu dùng.
2. Mục tiêu hướng đến của đề tài:
Thực trạng người tiêu dùng hiện nay thì bị xâm phạm nhiều đến quyền và lợi ích mà
cơng tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa thấy rõ. Đề tài “ Trách nhiệm của doanh
nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” cũng là cách để tác giả muốn nói
lên ý kiến của mình trước vấn đề người tiêu dùng bị xâm phạm và cũng nhằm bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Thơng qua đề tài tác giả mong muốn người tiêu dùng biết đến
và hiểu thêm rằng có một Luật riêng bảo vệ quyền lợi của mình khi mua hàng hóa, sản
phẩm dịch vụ Cũng từ đây tác giả sẽ hiểu biết rõ hơn, đầy đủ hơn về quyền lợi và nghĩa
vụ của bản thân và để tự bảo vệ mình khi bị xâm phạm.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng nhiều phương pháp như: phân tích, thu thập
thơng tin, so sánh, đánh giá tổng hợp các vấn đề và rút ra những kết luận. Bên cạnh đó tác
thường, thì người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa của theo nhu cầu của mình,
và gia đình Hoặc hiểu theo một cách khác là người sử dụng những của cải vật chất để
thỏa mãn nhu cầu sản xuất, đời sống.
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 6
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Khái niệm người tiêu dùng đã có từ rất lâu nhưng hiểu theo pháp luật thời gian đó thì
“người tiêu dùng được hiểu là người mua, người sử dụng hàng hóa cho các mục đích
nhưng khơng phải là mục đích thương mại”. Người mua hàng hóa, dịch vụ là người có
nhu cầu có hàng hóa dịch vụ đó để thõa mãn nhu cầu của đời sống hàng ngày.
Hiện nay, theo pháp luật Việt Nam quy định tại khoanr1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng 2010 thì khái niệm “ người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng
hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân và tổ chức”.
1.1.2. Đặc điểm người tiêu dùng:
♦ Mức thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam đa phần là trung bình và thấp hơn
so với nhu cầu của bản thân. Từ đó, người tiêu dùng chỉ nghĩ đến số lượng của hàng hóa
và khơng quan tâm nhiều đến chất lượng.
♦ Trình độ hiểu biết về sản phẩm hoặc khơng biết sản phẩm hàng hóa đó là gì dẫn
đến việc sử dụng sai cơng dụng, thiếu trình độ để phân biệt giữa hàng thật và hàng giả. Ví
dụ trên một sản phẩm người tiêu dùng mua về chỉ ghi tiếng Anh mà khơng có chú thích
tiếng Việt, sản phẩm đó là dầu gội đầu nhưng người tiêu dùng khơng biết cứ nghĩ đó là
sữa tắm nên gây ra hậu quả khơng mong muốn. Có rất nhiều trường hợp người tiêu dùng
khơng biết sản phẩm đó là gì và sử dụng sai mục đích gây hậu quả đáng tiếc và rất nặng
nề.
♦ Do thị hiếu của người tiêu dùng. Người tiêu dùng nhìn thấy bên ngồi sản phẩm
hàng hóa có mẫu mã đẹp nên mua.
♦ Mua theo mọi người. Trên thị trường tung ra nhiều sản phẩm giá rẻ mẫu mã đẹp
nên mọi người mua và giới thiệu cho mọi người cùng mua theo sản phẩm đó nhưng
khơng biết bên trong chất lượng như thế nào. Thậm chí khi mua về người tiêu dùng khơng
hề sử dụng đến nó.
2.1. Khái qt về doanh nghiệp:
quyền lợi người tiêu dùng:
Theo báo cáo của Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Cơng thương, mỗi năm có hơn 100.000
vụ vi phạm về quyền lợi người tiêu dùng mà Cục đã xử lý. Các vụ vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng diễn ra phổ biến với hành vi và thủ đoạn ngày càng tinh vi, các vi phạm
nhiều nhất là chất lượng hàng hóa (chủ yếu là hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng,
hàng khơng đảm bảo vệ sinh an tồn thực phẩm, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ ). Cụ thể
như xăng pha aceton; nước tương có chất 3-MCPD; sữa có chứa melamine; rượu có chứa
độc tố; mỹ phẩm chứa hố chất khơng được phép sử dụng; thực phẩm chứa chất bảo
quản, thuốc kích thích tăng trưởng, chứa dư lượng chất kháng sinh q mức cho phép,
thuốc bảo vệ thực vật khơng được phép sử dụng…
Chỉ tính trong năm 2008, các lực lượng chức năng đã kiểm tra và xử lý 146.958 vụ vi
phạm, trong đó có 15.092 vụ bn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, 18.539 vụ sản xuất,
bn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và an tồn vệ sinh
thực phẩm, 4.303 vụ về đầu cơ găm hàng, việc đo lường, cân đong, đo đếm cũng thường
xun xảy ra vi phạm. Kết quả kiểm tra cho thấy, một số vụ vi phạm có phạm vi ảnh
hưởng lớn tới người tiêu dùng như các vụ việc về 315.000 điện kế điện tử giả; vụ gian lận
cước taxi bằng cách gắn bộ tăng cây số do Trung Quốc sản xuất dưới gầm xe, nút bấm
điều khiển dưới vơ-lăng xe để điều chỉnh taximet chạy nhanh hơn; gian lận trong đo
lường và kinh doanh sản phẩm xăng dầu (đong thiếu hoặc bán xăng pha nước); mũ bảo
hiểm khơng đảm bảo an tồn chất lượng là mũ giả, kém chất lượng, nhái nhãn mác, khơng
có tem CS; vàng bị thiếu tuổi Những vụ việc này đã gây thiệt hại khơng chỉ về tài sản
mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng. Ngồi ra, vấn
đề hậu mãi, các dịch vụ bảo hành, khuyến mại của doanh nghiệp cũng chưa được thực
hiện theo đúng các cam kết đã đưa ra với người tiêu dùng. Hệ quả là người tiêu dùng đang
phải đối mặt với sự lựa chọn bị thu hẹp dần.
Theo thống kê của Bệnh viện K, mỗi năm Việt Nam có khoảng 77.457 ca mới mắc
bệnh ung thư trong đó 80% là do mơi trường sống và chỉ có khoảng 5% là do gen di
truyền
1
. Một thống kê khác cũng rất đáng chú ý là, từ năm 2004 đến năm 2008 cả nước có
1.4. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong luật:
1.4.1. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thơng tin về hàng
hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng:
Điều đầu tiên khi người tiêu dùng muốn mua một sản phẩm thì muốn biết được nhãn
hàng hóa mình mua là gì, nơi đâu sản xuất, khả năng ứng dụng của hàng hóa, thơng tin
chi tiết về sản phẩm đó… Đó là điều mặc nhiên một sản phẩm cần có nên các doanh
nghiệp cần cung cấp đầy đủ thơng tin cần thiết về sản phẩm. Từ đó, người tiêu dùng sẽ
căn cứ vào đó để chọn sản phẩm nếu phù hợp với mình và những quyền lợi trước và sau
khi mua hàng. Ví dụ như trước khi mua sản phẩm người tiêu dùng được sử dụng thử sản
phẩm hay kiểm tra kỹ sản phẩm đó. Sau khi mua hàng thì được nhân viên giao hàng tận
nhà, lắp đặt, bảo hành sữa chữa tận nhà và được đổi sản phẩm nếu lỗ do nhà sản xuất.
Theo Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định rõ như sau:
Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc
cung cấp thơng tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng;
+ Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
+ Niêm yết cơng khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng
dịch vụ.
+ Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính
mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa.
3
Nguồn: />an-rieng.htm.
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 9
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
+ Cung cấp thơng tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng
hóa.
+ Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành
trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.
+ Thơng báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều
kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.
+ Từ chối cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện,
dịch vụ do mình quản lý nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến quấy rối người tiêu
dùng;
+ Ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện,
dịch vụ do mình quản lý để thực hiện hành vi quấy rối người tiêu dùng theo u
cầu của người tiêu dùng hoặc u cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 10
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.4.3. Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch:
Khi mua một sản phẩm bất kì ở các cửa hàng hay siêu thị thì người tiêu dùng đều
được hóa đơn chứng nhận đã mua hàng tại đó hoặc để có sự nhầm lẫn người tiêu dùng có
thể khiếu nại được với chủ cửa hàng hay nơi có trách nhiệm giải quyết của nơi mua hàng
hóa dịch vụ. Do đó, khi mua sản phẩm người tiêu dùng nên u cầu cung cấp hóa đơn
chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp luật hoặc theo u cầu
của người tiêu dùng.
Được quy định tại Điều 20:
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp cho người
tiêu dùng hóa đơn hoặc chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch theo quy định của pháp
luật hoặc theo u cầu của người tiêu dùng;
Trường hợp giao dịch bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có trách nhiệm tạo điều kiện cho người tiêu dùng truy nhập, tải, lưu giữ và in
hóa đơn, chứng từ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này.
1.4.4. Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện:
Bảo hành hàng hóa là một điều rất cần thiết và khơng thể thiếu sau khi người tiêu
dùng mua hàng hóa, linh kiện, phụ kiện phải được bảo hành theo thỏa thuận cuae các bên
hoặc bắt buộc theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, cần phải cung cấp cho người
mua hàng hóa giấy tờ liên quan và ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành.
Quy định tại Điều 21: Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện
Hàng hố, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thoả thuận của các bên hoặc bắt
buộc bảo hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp hàng hố, linh kiện, phụ kiện
tại địa phương mà hàng hố đó được lưu thơng với các nội dung: Mơ tả hàng hóa phải
thu hồi; lý do thu hồi hàng hóa và cảnh báo nguy cơ thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa
gây ra; thời gian, địa điểm, phương thức thu hồi hàng hóa; thời gian, phương thức khắc
phục khuyết tật của hàng hóa; các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong q trình thu hồi hàng hóa;
+ Thực hiện việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thơng báo cơng
khai và chịu các chi phí phát sinh trong q trình thu hồi;
+ Báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng cấp tỉnh nơi thực hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hồn thành việc thu
hồi; trường hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh
trở lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở Trung ương.
1.4.6. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra:
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức
khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó khơng biết hoặc khơng có
lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 của Luật này.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:
+ Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa:
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 12
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
+ Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa;
+ Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ
dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng
hóa;
+ Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng
trong trường hợp khơng xác định được tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
CHƯƠNG 2
Cũng thơng qua những chương trình này các doanh nghiệp khẳng định uy tín của mình
trước người tiêu dùng và mong muốn người tiêu dùng đặt niềm tin vào doanh nghiệp
mình. Nhưng trên thực tế phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa thể hiện rõ trách nhiệm của
mình hay chỉ làm qua loa có để khơng làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của doanh
nghiệp mình. từ đó, càng ngày thì các doanh nghiệp càng qn lãng trách nhiệm của mình
mà chỉ nghĩ đến lợi nhuận, nhưng lại khơng nhớ rằng chình người tiêu dùng là người
mang lại lợi nhuận, sự phát triển của doanh nghiệp và khẳng định mình với các doanh
nghiệp khác.
2.2. Những thành tựu về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước khi
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực:
Trước khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực thì người tiêu dùng được
bảo vệ bởi các Luật như: Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,
Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các pháp lệnh 13/PL-UBTVQH10 về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng, pháp lệnh quảng cáo, pháp lệnh chất lượng hàng hóa, pháp
lệnh giá…. Tuy nhiên, thực trạng cơng tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho thấy mặc
dù đã có pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nhiều văn bản quy định liên quan
nhưng chưa thực thi có hiệu quả, chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử phạt, bồi
thường thỏa đáng cho người tiêu dùng. Đặc biệt chưa có cơ chế xử lý riêng đối với các
khiếu nại của người tiêu dùng do vậy chưa khuyến khích, tạo điều kiện để người tiêu
dùng tự bảo vệ mình hoặc khiếu nại các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng.
Trên cơ sở đã có một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và hệ thống bộ máy cơ quan
quản lý nhà nước cũng như tổ chức Hội Bảo vệ người tiêu dùng từ trung ương đến địa
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 14
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
phương, cơng tác bảo vệ người tiêu dùng trong thời gian này đã đạt được những kết quả
đáng nghi nhận như sau:
Thứ nhất, thực hiện tun truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng.
Thứ hai, giải quyết khiếu nại, tố cáo của người tiêu dùng.
Thứ ba, hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu
Việt Nam của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Cơng Thương) cho thấy, trong số các doanh
nghiệp được khảo sát có đến gần 18% vi phạm quy định về chất lượng, 15% vi phạm quy
định về ghi nhãn, 12% vi phạm về đo lường, 10% kinh doanh hàng giả và 45% thuộc các
vi phạm khác. Chỉ tính riêng tại TP Hồ Chí Minh, trong năm 2010, Hội Tiêu chuẩn và
Bảo vệ NTD đã tiếp nhận, xử lý 142 vụ việc. Đặc biệt, các ý kiến phản bác của NTD hầu
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 15
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
hết xoay quanh những vấn đề xuất phát từ chính nội tại doanh nghiệp như: Hàng nhái,
hàng giả, sử dụng sai u cầu sản phẩm, chất lượng sản phẩm khơng đồng bộ dẫn đến
NTD khơng hiểu rõ và bị thiệt hại nhiều về quyền lợi…
Các Hội Bảo vệ người tiêu dùng cũng đã chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan chức
năng trong việc kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và đã phát
hiện đưa sang cơ quan chức năng xử lý nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng như
xăng có pha aceton, sữa nghèo đạm…
2.3. Vướng mắc trong trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của doanh
nghiệp:
Hiện nay, tuy Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có hiệu lực, nhưng có rất bất cập
và vướng mắc đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp. Người tiêu dùng thiếu nhiều kiến
thức để nhận biết hàng giả, hàng kém chất lượng gây ảnh hưởng tới sức khỏe của mình.
Doanh nghiệp lợi dụng ngun nhân đó sản xuất ra hàng giả, hàng kém chất lượng, hay kinh
doanh khơng chính đáng, lợi dụng lòng tin của khách hàng để lừa dối bán những sản phẩm
đó. Gây ra nhiều thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng. Để nâng hơn nữa về
trách nhiệm của doanh nghiệp thì cần phải tun truyền, phổ biến Luật cho mọi người hiểu
thêm và biết cách xử lý khi mình bị xâm phạm cũng như bản thân mình phải là người tiêu
dùng thơng minh, sáng suốt lựa chọn hàng hóa sản phẩm theo nhu cầu của mình.
Về doanh nghiệp thì bản thân các doanh nghiệp cũng nên đứng trong vai trò là người tiêu
dùng để hiểu thêm về người tiêu dùng và người tiêu dùng cần gì để giúp đỡ người tiêu dùng
một cách tốt nhất. Các doanh nghiệp cũng cần có một tổ chức riêng chun về nhận người
phản ánh, khiếu nại từ người tiêu dùng, để giải quyết thỏa đáng các khiếu nại của người tiêu
dùng và cần làm việc một cách hiểu quả nhất.
rằng cần có thêm các văn bản để hướng dẫn thi hành cụ thể hơn, chặt chẽ hơn cho các
doanh nghiệp và người tiêu dùng. Qua đó càng ngày thì quyền lợi của người tiêu dùng
càng được bảo vệ tốt hơn, người tiêu dùng đặt niềm tin nơi các doanh nghiệp thì doanh
nghiệp thu được nhiều lợi nhuận và phát triển hơn.
Ta thấy rằng việc bảo vệ người tiêu dùng là một việc cấp thiết và quan trọng đối với
các doanh nghiệp ở Việt Nam và cần làm các biện pháp cụ thể hơn để bảo vệ người tiêu
dùng như:
− Tun truyền, phổ biến rộng rãi cho người tiêu dùng biết và hiểu thêm về Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng.
− Phát triển thêm các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng trên cả nước và vùng sâu, vùng
xa và cho người tiêu dùng tiếp cận với các tổ chức bảo vệ mình.
− Xây dựng văn hóa tiêu dùng và văn hóa ứng xử cho các doanh nghiệp đối với người
tiêu dùng.
− Xây dựng các văn phòng khiếu nại rộng khắp ở những nơi thuận lợi cho người tiêu
dùng, và giải quyết cơng bằng cho người tiêu dùng.
− Tạo điều kiện cho các tổ chức hoạt động mạnh mẽ hơn, bảo vệ người tiêu dùng một
cách tốt nhất, giải quyết thỏa đáng cho người tiêu dùng.
KẾT LUẬN
Như vậy, về cơ chế pháp lý về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp gần
như đã được từng bước hồn thiện nhờ có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
Để cơng tác bảo vệ người tiêu dùng đáp ứng nhu cầu đòi hỏi từ thực tế cuộc sống, các cơ
quan quản lý và doanh nghiệp cần đặt mình vào vai người tiêu dùng và phải chủ động bảo
vệ người tiêu dùng. Điều này khơng chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn đòi
hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ đồng thời nhận thức rõ
hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với người tiêu dùng. Người tiêu dùng cần
GVHD: Ths. Nguyễn Mai Hân 17
Trách nhiệm của nghiệp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trang bị cho mình kiến thức để thực sự là người tiêu dùng thơng minh lựa chọn hàng hố
sản phẩm một cách tốt nhất và cần hiểu thêm về quyền lợi của mình khi bị xâm phạm.
Ngồi ra, cần tăng cường tổ chức tun truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo