ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
---00---
Bộ môn kinh tế đối ngoại
Bộ môn: Logistics
Giáo viên hướng dẫn: Hoàng Lâm Cường
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
-----oOo-----
NHÓM THỰC HIỆN
1. Vũ Thị Vân Anh K064020236
2. Nguyễn Thị Ánh Hồng K064020265
3.Vũ Mai Hương K064020269
4. Đặng Đình Xuân Lam K064020286
5. Trần Ngọc Minh K064020288
6. Đinh Thị Thục Nghi K064020299
7. Phan Thị Kim Thảo K064020324
8. Phạm Thị Phương Thảo K064020327
9. Trần Ngọc Thu Thủy K064020341
10. Đỗ Việt Thủy K064020343
11. Võ Nguyễn Anh Thư K064020346
12. Ngô Thụy Phương Vy K064020370
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 2
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
MỤC LỤC
A.MEASUREMENT SYSTEM OBJECTIVES
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA HỆ THỐNG ĐO LƯỜNG...................................6
...........................................................................................................................................
B.OPERATIONAL ASSESSMENT
Thời gian trì hoãn ............................................................................39
3.3On-Shelf In-Stock Percent
Phần trăm hàng hóa trên kệ trong kho ..........................................40
3.4Total supply chain cost
Tổng chi phí chuỗi cung ứng ..........................................................41
3.5Supply Chain Response Time
Thời gian phản hồi chuỗi cung ứng ................................................44
4.BENCHMARKING
CHUẨN HOÁ .......................................................................................45
C.FINANCIAL ASSESSMENT
ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH ................................................................................50
1.COST/REVENUE ANALYSIS
PHÂN TÍCH CHI PHÍ/DOANH THU .....................................................50
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 4
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
1.1Public Accounting Practice
Thực tiễn kế toán chung ..................................................................51
1.2Contribution Approach
Phương pháp đóng góp ...................................................................56
1.3 Net Profit Approach
Phương pháp lợi nhuận ròng ...............................................................61
1.4 Activity-Based Costing
Kế toán chi phí dựa trên hoạt động .....................................................64
1.5 Logistical Implications
Những chỉ dẫn về Logistics ..................................................................65
2.STRATEGIC PROFIT MODEL
MÔ HÌNH LỢI NHUẬN CHIẾN LƯỢC .................................................67
2.1Net Profit Margin
Lợi nhuận biên tế ròng .......................................................................70
Monitoring is accomplished by the establishment of appreciate metrics to track system
performance for reporting to management. For example, typically metrics are developed
and data gathered to report basic service performance related to fill rates and on-time
deliveries and for logistics costs such as transportation and warehousing. Controlling is
accomplished by having appropriate standards of performance relative to the established
metrics to indicate when the logistics system requires modification or attention. For
example, if fill rates fall below standards, logistics managers must indentify the causes and
make adjustments to bring the process back into compliance. The third objective, directing,
is related to employee motivation and reward for performance. For example, some
companies encourage warehouse personnel to achieve high levels of productivity. They
must be paid 8 hours of work, on the basic of standard measures of picking or loading. If
the tasks are completed in less than 8 hours, they may be allowed personal time off.
Việc giám sát được thực hiện bằng cách thiết lập các tiêu chuẩn đo lường thích hợp
nhằm theo dõi hiệu quả hoạt động của hệ thống để báo cáo cho ban quản lý. Ví dụ,
những tiêu chuẩn đo lường đặc trưng được triển khai và dữ liệu được thu thập để
báo cáo về hiệu quả hoạt động dịch vụ cơ bản liên quan tới tỷ lệ đáp ứng đơn đặt
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 7
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
hàng, việc giao hàng đúng giờ và các chi phí logistics như vận chuyển và kho bãi.
Việc kiểm soát được thực hiện bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp về hiệu
quả hoạt động có liên quan đến tiêu chuẩn đo lường đã được thiết lập cho thấy khi
hệ thống logistics yêu cầu sự thay đổi hay chú ý. Ví dụ, nếu tỷ lệ đáp ứng đơn đặt
hàng giảm xuống dưới mức tiêu chuẩn, nhà quản lý logistics phải làm rõ nguyên
nhân và điều chỉnh để đạt được kết quả mong muốn. Mục tiêu thứ ba, điều hành
hoạt động, có liên quan với việc khuyến khích và khen thưởng nhân viên khi họ thể
hiện tốt. Ví dụ, một số công ty động viên nhân viên nhà kho đạt đến năng suất cao.
Họ phải được trả công cho 8 tiếng làm việc, trên cơ sở tính toán dựa theo những hạn
mức làm hàng. Nếu nhiệm vụ này hoàn thành trước 8 tiếng, họ có quyền được nghỉ.
FIGURE 16.1
shareholders and to how the firm is viewed by financial investors.
Việc sử dụng tối ưu tài sản phản ánh hiệu quả quản lý tài sản cố định và vốn lưu
động của công ty. Tài sản cố định bao gồm trang thiết bị sản xuất và kho bãi,
phương tiện vận chuyển và trang thiết bị xử lý nguyên vật liệu, phần cứng công
nghệ thông tin. Vốn lưu động bao gồm tiền mặt, đầu tư hàng tồn kho, và đầu tư
khác liên quan đến khoản phải thu và khoản phải trả. Đặc biệt là bằng cách quản lý
hiệu quả hơn các tài sản liên quan đến hoạt động logistics, công ty có thể sử dụng tối
ưu tài sản hiện có. Từ đó, nguồn vốn tiết kiệm được có thể sử dụng để tái đầu tư vào
các lĩnh vực khác của tổ chức. Việc sử dụng tối ưu tổng tài sản đặc biệt quan trọng
với các cổ đông và với việc làm thế nào để công ty thu hút được các nhà đầu tư tài
chính.
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 10
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
B.OPERATIONAL ASSESSMENT
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
A system for logistics performance assessment first requires a functional perspective. In
addition to basic functional performance, improved methods for measurement of customer
accommodation are receiving increased attention in many organizations. Measurement of
integrated supply chain performance poses a major challenge for contemporary
management. Benchmarking is a fourth concern in logistics assessment.
Một hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động logistics đòi hỏi trước tiên là phải xem
xét đến khía cạnh chức năng. Ngoài hiệu quả hoạt động chức năng cơ bản, ngày
càng nhiều tổ chức quan tâm đến các phương pháp cải tiến nhằm đo lường khả
năng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Việc đo lường hiệu quả hoạt động của chuỗi
cung ứng tích hợp đặt ra một thách thức lớn cho việc quản lý hiện đại. Việc chuẩn
hoá chính là mối quan tâm thứ tư trong việc đánh giá logistics.
1. FUNCTIONAL PERSPECTIVES
ĐÁNH GIÁ VỀ MẶT CHỨC NĂNG
Research over a period of years suggests that functional measures of logistics performance
Cycle time
Quality
Damage frequency
Order entry accuracy
Picking/shipping
accuracy
Document/invoicing
accuracy
Information
availability
Information
accuracy
Productivity
Units shipped
per employee
Units per labor
dollar
Orders per
sales
representative
Comparison to
historical
standard
Goal programs
Productivity
index
Asset
Management
Inventory turns
Inventory levels,
goods
Cost of damage
Delivery
consistency
Response
time to
inquiries
Response
accuracy
Complete
orders
Customer
complaints
Sales force
complaints
Overall
reliability
Overall
satisfaction
Number of credit
claims
Number of customer
returns
Equipment
downtime
Order entry
productivity
Warehouse
labor
productivity
Tần số hư hại
Tiếp nhận đơn
hàng chính xác
Làm hàng và
chuyên chở
Chứng từ, hóa đơn
chính xác
Năng suất
Số lượng được
chuyên chở
trên một nhân
viên
Số lượng trên
mỗi giá trị lao
động
Đơn đặt hàng
trên đại diện
bán hàng
So sánh với
những tiêu
chuẩn trước đó
Chương trình
Quản lý
tài sản
Vòng quay hàng
tồn kho
Mức độ tồn kho,
số ngày cung cấp
Hàng tồn kho quá
hạn
hàng
Phản hồi
chính xác
Hoàn thành
đơn đặt hàng
Phàn nàn của
khách hàng
Sự phàn nàn
đội ngũ bán
Thông tin có sẵn
Thông tin chính
xác
Bồi thường tín
dụng
Số khách hàng
quay lại
mục tiêu
Chỉ số năng
suất
Thời gian chết
của máy móc
Năng suất tiếp
nhận đơn hàng
Năng suất lao
đông tại kho
Năng suất lao
động chuyên
chở
Tỷ suất sinh lợi
trên vốn đầu tư
data reported for individual activities such as warehouse picking and order loading.
Phản ánh trực tiếp nhất của hiệu quả hoạt động logistics là chi phí thực tế phát sinh
để thực hiện các hoạt động cụ thể. Như trong bảng 16,1, chi phí thường được đo
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 16
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
bằng tổng số tiền chi cho mỗi hoạt động. Do đó, thước đo này rất phổ biến trong
giám sát và báo cáo chi phí chi tiết cho từng chức năng cụ thể trong logistics như
kho bãi, vận chuyển đầu vào, vận chuyển đầu ra, và xử lý đơn đặt hàng. Chúng có
thể được tiếp tục điều chỉnh và báo cáo chi phí chi tiết cho các hoạt động riêng biệt
như chi phí làm hàng trong kho.
It is common to monitor and report cost data as a percentage of sales or as a cost per unit of
volume. For example, transportation cost is frequently expensed as a percentage of dollar
sales volume and as the number of dollars spent per order delivered. Warehouse cost may
also be reported as a percentage of sales and cost of individual activities reported such as a
the picking cost per item or loading cost per order. Such measures, when compared to
historical levels or performance standards, provide critical information regarding the
potential need to take corrective action.
Thước đo này thường dùng để giám sát và báo cáo chi phí chi tiết chiếm bao nhiêu
phần trăm doanh thu hay nói cách khác đó là chi phí trên một đơn vị doanh thu. Ví
dụ, chi phí vận chuyển thường được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nào đó của
doanh thu hay là bằng số tiền phải chi cho phân phối mỗi đơn đặt hàng. Chi phí kho
bãi cũng có thể được báo cáo như là một tỷ lệ phần trăm doanh thu hay là bằng chi
phí của các hoạt động riêng lẻ được báo cáo, chẳng hạn như chi phí làm hàng cho
mỗi kiện hàng hay chi phí bốc dỡ mỗi đơn hàng. Những thước đo này, khi so sánh
với kết quả trong quá khứ hay các tiêu chuẩn hiệu quả hoạt động, sẽ cung cấp
những thông tin quan trọng liên quan đến các nhu cầu tiềm năng để đưa ra hành
động điều chỉnh phù hợp.
When considering the number of different specific logistics activities, ranging from
entering an order to picking an item to unloading a delivery vehicle, and the number of
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
được thảo luận sau trong chương này như là một phương pháp để đánh giá chính
xác hơn các chi phí liên quan trực tiếp đến khách hàng và sản phẩm.
1.2 Basic Customer Service
Dịch vụ khách hàng cơ bản
In chapter 3, the elements of basic customer service were identified as availability,
operational performance, and service reliability. An effective basic service platform
requires specific metrics of assessing performance in each dimension.
Trong chương 3, dịch vụ khách hàng cơ bản được thể hiện qua các yếu tố như tính
sẵn sàng, hiệu quả hoạt động, và độ tin cậy của dịch vụ. Một dịch vụ cơ bản hiệu
quả đòi hỏi những tiêu chuẩn đo lường cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả trên từng
phương diện.
Availability is typically reflected by an organization’s fill rate. It is critical to note,
however, that fill rate may be measured in a variety of ways :
Tính sẵn sàng thường phản ánh bởi tỷ lệ lắp đầy của tổ chức. Tuy nhiên, cần phải
lưu ý rằng, tỷ lệ lắp đầy có thể được đo bằng nhiều cách khác nhau :
Number of items delivered to customers
Item fill rate =
Number of items ordered by customers
Số lượng hàng giao cho khách hàng
Tỷ lệ lắp đầy hàng hóa =
Số lượng hàng đặt bởi khách hàng
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 19
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
Number of purchase order lines delivered complete to customers
Line fill rate =
Number of purchase order lines ordered by customers
Số lượng mặt hàng giao hoàn tất đến khách hàng
Tỷ lệ lắp đầy mặt hàng =
between order receipt and delivery to customers. Order cycle consistency is measured over
a large number of order cycles and compares actual with planned performance. For
example, suppose average order cycle time is 5 days. If 20 percent were completed in 2
days and 30 percent in 8 days, there is great inconsistency around the average. In situations
where delivery dates or times are specified by customers, the most stringent measure of
order cycle capability is on-time delivery, the percentage of times the customers’ delivery
requirements are actually met.
Hiệu quả hoạt động tính theo thời gian thường được đo bằng chu kỳ đặt hàng trung
bình, tính ổn định của thời gian chu kỳ đặt hàng, và/hoặc việc giao hàng đúng lúc.
Thời gian chu kỳ đặt hàng trung bình thường được tính bằng số ngày trung bình
(hoặc tính bằng đơn vị thơi gian khác), hay khoảng thời gian từ lúc nhận được đơn
đặt hàng đến khi hoàn tất việc giao hàng. Tính ổn định của chu kỳ đặt hàng được đo
lường thông qua một số lượng lớn chu trình đơn đặt hàng và so sánh hiệu quả thực
tế với kế hoạch đã được hoạch định. Ví dụ, giả sử thời gian chu kỳ đặt hàng trung
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 21
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
bình là 5 ngày. Nếu 20% được hoàn thành trong 2 ngày và 30% được hoàn thành
trong 8 ngày, như vậy ở đây có sự chênh lệch rất lớn xung quanh giá trị trung bình.
Trong những tình huống mà ngày giao hàng hoặc số lần giao hàng khác nhau đối
với từng khách hàng, thì thước đo hiệu quả chu kỳ đơn đặt hàng nghiêm ngặt nhất
là việc giao hàng đúng lúc hay là tỷ lệ phần trăm thật sự đáp ứng yêu cầu giao hàng
của khách hàng.
1.3 Quality
Chất lượng
Performance relative to service reliability is generally reflected in an organization’s
measurement of logistics quality. As Table 16.1 shows, many of the quality metrics are
designed to monitor the effectiveness of individual activities, while others are focused on
the logistics function. Accuracy of work performance in such activities as order entry,
warehouse picking, and document preparation is typically tracked by computing the ratio of
Điều này cũng được sử dụng phổ biến để đo lường những đòi hỏi bồi thường và
hoàn tiền lại của khách hàng để điều chỉnh lại sai sót.
Other important indicators of quality performance relate to information. Many
organizations specifically measure their ability to provide information by noting those
instances when information is not available on request. It is also common to track instances
when inaccurate information is discovered. For example, when physical counts of
merchandise inventory differ from the inventory status as reported in the databases, the
information system must be updated to reflect actual operating status. Additionally, the
occurrence of information in accuracy should be recorded for future action.
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 23
Đánh giá hiệu quả hoạt động và Đánh giá tài chính
Các chỉ số quan trọng khác liên quan đến thông tin. Nhiều tổ chức đo lường cụ thể
khả năng cung cấp thông tin bằng cách ghi nhận những trường hợp thông tin không
sẵn sàng khi được yêu cầu. Điều này cũng được sử dụng phổ biến để theo dõi các
trường hợp thông tin không chính xác. Ví dụ, khi đặc tính của hàng tồn kho khác
biệt với tình trạng được báo cáo trong cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phải được
cập nhật để phản ánh tình trạng thực tế. Ngoài ra, mức độ chuẩn xác của thông tin
cũng nên được ghi nhận để phục vụ cho các hoạt động trong tương lai.
1.4 Productivity
Năng suất
The relationship between output of goods, work completed, and/or services produced and
quantities of inputs or resources utilized to produce the output is productivity. If a system
has clearly measurable outputs and identifiable,measurable inputs that can be matched to
appropriate outputs, productivity measurement is quite routine.
Mối quan hệ giữa đầu ra hàng hoá (sản phẩm/dịch vụ hoàn thành) và số lượng đầu
vào (các nguồn lực được sử dụng tối ưu) gọi là năng suất. Nếu đầu ra và đầu vào của
một hệ thống có thể đo lường được và chúng tương thích với nhau thì việc đo lường
năng suất trở nên cần thiết như một thủ tục thường nhật.
Generally, as Table 6.1 shows, losistics exexutives are very concerned with measuring the
Sử dụng tối ưu vốn đầu tư vào phương tiện và trang thiết bị cũng như sử dụng tối
ưu vốn lưu động vào hàng tồn kho là mục tiêu của quản lý tài sản. Phương tiện,
trang thiết bị logistics, và hàng tồn kho chiếm một phần đáng kể trong tài sản của
Giảng viên ThS. Hoàng Lâm Cường
Nhóm 12 – K06402B Page 25