Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore - Pdf 60

Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore
MỤC LỤC
I. Giới thiệu chung về nền kinh tế Singapore
1. Vài nét chung:
2. Nền kinh tế Singapore:
II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VỀ ĐẦU TƯ VÀ NHẬP KHẨU
1. Chính sách thu hút đầu tư, phát triển thương mại
2. Thuế
2.1 Tỷ lệ thuế
2.2 Thuế nhập khẩu
3. Thủ tục hải quan
4. Các chính sách khác
4.1 Quy định về nhãn mác
4.2. Chính sách bảo vệ người tiêu dùng và chống gian lận
thương mại
4.3 Hệ thống tiêu chuẩn hang hoá
III. QUAN HỆ VIỆT NAM-SINGAPORE
1.Tổng quát về quan hệ Việt Nam-Singapore:
1.1 Về chính trị:
1.2. Quan hệ ngoại giao
1.3 Quan hệ hợp tác kinh tế- thương mại
1.4 Hợp tác đầu tư
2. Tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào
Singapore:
2.1. Gạo
2.2. Thuỷ sản
2.3. Cà phê
2.4. Cao su
2.5. Hàng dệt may
3. Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore :
1

2
Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore

Một góc Singapore

Singapore về đêm
- Singapore trở thành đầu mối giao lưu thương mại quốc tế quan trọng
(cảng biển Singapore là một trong những cảng biển trọng tải lớn tấp nập nhất thế
giới). Sau giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế toàn cầu từ
năm 2001-2003, GDP thực tế năm 2004 của Singapore tăng mức kỷ lục 8%.
Chính phủ đang cố gắng hướng đến việc xây dựng một nền kinh tế ít bị tác động
bởi những biến động bên ngoài và trở thành trung tâm tài chính và công nghệ
cao của Đông Nam Á.
3
Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore

Singapore là một trong những cảng biển hàng đầu thế giới
- GDP: 116,3 tỷ (2004), với GDP bình quân đầu người 27.180 USD (2004),
là một trong những nước thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới. Tốc độ
tăng trưởng năm 2005 là 5,7% với GDP là 124,3 tỷ USD, thu nhập bình quần
đầu người là 28.100 USD.
- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp: 0%, công nghiệp: 3,6%, dịch vụ: 66,4%.
- Lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng từ 0,7% năm 2003 lên 1,7%
năm 2004. Nguyên nhân chủ yếu do giá cả tăng ở dịch vụ y tế (0,6%), giáo dục
(4,2%), dịch vụ giải trí (2,3%), giao thông - viễn thông và quần áo (2%). Năm
2005, Chỉ số giá tiêu dùng giảm xuống còn 1%.
- Việc làm: Tỷ lệ thất nghiệp là 3,4% (2004) giảm so với năm 2003 nhờ tạo
được 71.400 việc làm trong các ngành sản xuất dịch vụ trong khi số lao động
mất việc là 39.500 người. Năm 2005 tỷ lệ thất nghiệp ước tính khoảng 3,3%.
- Cán cân thanh toán: Năm 2004, xuất khẩu đạt 179,755 tỷ USD. Năm

cầu do những tiến bộ kỹ thuật và toàn cầu hóa mang lại, Singapore đang tiến
hành cải cách cơ cấu để đa dạng hóa, toàn cầu hóa và doanh nghiệp hóa nền kinh
tế hơn nữa. Công nghiệp chế tạo và dịch vụ vẫn là hai trụ cột của nền kinh tế
trên nền tảng khả năng cạnh tranh cao về khoa học, kỹ thuật và chi phí lao động.
Mở rộng quan hệ quốc tế trong khuôn khổ hợp tác đa phương và hợp tác trong
khu vực, hiệp định thương mại song phương (FTA) sẽ kết nối Singapore với thị
trường thế giới và các cơ hội đầu tư. Chính phủ sẽ thúc đẩy hơn nữa sự phát
triển của các doanh nghiệp, và hướng đến một nền kinh tế tri thức tăng trưởng
nhờ đổi mới.
Khu chợ trái cây nhiệt đới
6
Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore
II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VỀ ĐẦU TƯ VÀ NHẬP KHẨU
Singapore được xem là một trong những quốc gia có chính sách thương
mại rất cởi mở, thuế đánh lên hàng hóa nhập khẩu vào nước này khá thấp. Chúng
ta sẽ tìm hiểu về thị trường Singapore trên một số phương diện : chính sách thu
hút đầu tư, thuế, thủ tục hải quan, các quy định pháp luật về nhập khẩu và hàng
nhập khẩu.
1. Chính sách thu hút đầu tư, phát triển thương mại
Singapore có một chính sách đầu tư rộng mở, qua đó, đất nước này đã
chuyển thành công từ một hải cảng thương mại thành một nền kinh tế công
nghiệp hiện đại. Chính phủ theo đuổi một chiến lược nhằm nâng cao Singapore
thành một nền kinh tế dựa vào công nghệ, sáng kiến và tri thức để có thể cạnh
tranh với các nước xuất hàng giá rẻ và gia tăng tính toàn cầu hóa nền kinh tế.
Nhà nước tạo nguồn động viên về tài chính , điều chỉnh luật lệ nhằm
khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Để thực hiện chính sách
rộng mở, Singapore khuyến khích các công ty đa quốc gia (CTĐQG) tiến hành
các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ, tạo điều kiện cho các chuyên gia
nước ngoài đến cư trú và làm việc. Thông qua các CTĐQG, đảo quốc này muốn
trở thành một sân chơi có tầm cỡ thế giới về các lãnh vực điện tử, hóa học, khoa

của một trung tâm thông tin và truyền thông quan trọng của châu Á. Những hạn
chế về quyền tư hữu của người nước ngoài cũng được giở bỏ đối với ngành ngân
hàng địa phương, ngành bảo hiểm và các công ty điện lực. Hội đồng phát triển
kinh tế (EDB) đã đề ra nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư; Cơ quan tiền tệ
Singapore (MAS); Ngân hàng trung ương Singapore giám sát việc mở rộng thị
trường và cải tiến các biện pháp áp dụng nhằm mở rộng công tác quản lý ngân
quỹ, phát triển thị trường trái phiếu, cho phép có sự cạnh tranh của người nước
ngoài trong các định chế tài chính và ngân hàng. Từ năm 1978, Singapore đã giỡ
bỏ mọi hạn chế về giao dịch chứng khoán nước ngoài và chuyển dịch vốn, không
giới hạn việc tái đầu tư cũng như chuyển vốn và lãi về nước. Về mặt hợp tác
quốc tế, Singapore đã ký các thỏa hiệp khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các
nước ASEAN, với Liên minh kinh tế Bỉ-Luxembourg, và 19 nước khác, trong đó
có Mỹ. Những thỏa hiệp này có tác dụng bảo vệ công dân hay công ty của mỗi
quốc gia trong một giai đoạn đặc biệt (thường là 15 năm) trong trường hợp chiến
tranh, sung công hay quốc hữu hóa. Nếu sung công hay quốc hữu hóa, chính phủ
nước chủ nhà sẽ bồi thường thỏa đáng cho nhà đầu tư, căn cứ vào giá trị tài sản
trên thị trường tự do. Trên thực tế, đến nay chưa có một trường hợp tranh cãi
đáng chú ý nào xảy ra giữa chính quyền với các nhà đầu tư. Nguy cơ sung công
và quốc hữu hóa vốn đầu tư của người nước ngoài hầu như hoàn toàn không có.
Ngày nay, các thực thể kinh tế trong và ngoài Singapore có đủ tự do thiết
lập và điều hành các xí nghiệp của họ trên đất nước này. Ngoại trừ các văn
phòng đại diện, nơi các công ty nước ngoài chỉ đặt một đại diện của họ mà
không tiến hành những giao dịch thương mại của họ tại địa phương, không có
một hạn chế nào cho việc thực hiện những hoạt động có lợi cho họ. Mọi hoạt
động thương mại tại Singapore phải được đăng ký tại Cơ quan đăng ký các công
ty và doanh nghiệp (RCB). Các nhà đầu tư nước ngoài có thể điều hành doanh
nghiệp của họ dưới một trong những hình thức sau đây:
- Quyền sở hữu duy nhất (sole proprietorship): Một cá nhân hoạt động với tư
cách một thương nhân duy nhất, theo qui định của đạo luật về đăng ký kinh
doanh.

thương mại điện tử nhằm kết hợp những tiến bộ của công nghệ thông tin với
việc thực hiện nhanh chóng các thủ tục thương mại.
- Hệ thống cấp phép tự động: TDB phối hợp với các cơ quan luật pháp
như Cơ quan phát triển truyền thông Singapore (IDA) và Cơ quan thanh tra về
bức xạ (RPI) để tự động hoá hệ thống cấp giấy phép. Từ nay, các thương nhân
Singapore có thể nhận được giấy phép xuất nhập khẩu trong vòng từ 1 đến 3
phút, bất kể ngày hay đêm.
- Ứng dụng chứng chỉ xuất xứ (CO) trực tuyến: Thương nhân Singapore
có thể xin cấp chứng chỉ xuất xứ trên mạng, với một trong bốn cơ quan có thẩm
quyền thuộc hệ thống "Cấp chứng chỉ xuất xứ điện tử” (ECO), đó là: Phòng
thương mại và kỹ nghệ Trung Quốc-Singapore , Liên đoàn kỹ nghệ Singapore,
Phòng thương mại và kỹ nghệ Ấn độ-Singapore và phòng thương mại quốc tế
Singapore. Được thiết lập vào tháng 1.2000, hệ thống ECO tối thiểu hoá các dữ
liệu mà các thương nhân phải đăng ký. Những thương nhân có thành tích tốt có
thể lập tờ khai hàng năm thay vì phải lập hồ sơ mỗi lần cần có CO. Điều này
giúp họ đỡ phải tốn cả thì giờ lẫn tiền bạc.
- Tài chánh và bảo hiểm thương mại trên mạng: Hệ thống tài chính
thương mại (TFS) do TDB kết hợp với một số đơn vị khác để xây dựng, giúp các
thương nhân có thể thông qua mạng Internet để thực hiện một số giao dịch với
các ngân hàng như xin cấp tín dụng thư (LC) chẳng hạn.Ngoài ra, Hệ thống bảo
hiểm thương mại (TIS) cũng bắt đầu hoạt động từ tháng 3.2000, tạo điều kiện dễ
dàng cho việc bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Các thương nhân có thể xin
9
Các chính sách của Singapore khi Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Singapore
cấp bản dự kê giá từ các hãng bảo hiểm và trả lời qua Internet. Việc mua bảo
hiểm cho hàng hoá nay đã thuận lợi hơn.
Tháo gỡ phần lớn các biện pháp kiểm soát để khuyến khích thương mại
điện tử: Ngày nay, các thương nhân Singapore quan tâm nhiều hơn vào độ tin
cậy của các thông tin thương mại và dữ liệu kinh doanh phổ biến trên mạng
Internet. Sự giảm thiểu hay giải toả những biện pháp kiểm soát sẽ góp phần phát

dụng hình phạt với nhà kinh doanh nào cố gắng trốn thuế.
Hệ thống thuế ở Singapore là hệ thống thuế trung lập đối với đầu tư nước
ngoài.Những chính sách về khuyến khích về tài chính đặc biệt đều có liên quan
cụ thể đến các công ty đa quốc gia.Ví dụ, chính sách khuyến khích bộ phận điều
hành và thuế trợ cấp thu nhập từ hoạt động ngoài khơi của những cơ quan tài
chính.
2.1.Tỷ lệ thuế
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status