SKKN Giúp học sinh lớp 6B nâng cao kết quả học tập môn Vật lí bằng cách tổ chức thí nghiệm đồng loạt theo quy trình - Pdf 26



PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH SƠN
TRƯỜNG THCS BA CỤM BẮC
Đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
“GIÚP HỌC SINH LỚP 6B NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN VẬT LÍ BẰNG CÁCH TỔ CHỨC THÍ NGHIỆM ĐỒNG
LOẠT THEO QUY TRÌNH”
Giáo viên: Lê Thị Thu Phương
Năm học: 2012 – 2013
1
MỤC LỤC
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI 2
II. GIỚI THIỆU 3
1. Hiện trạng 3
2. Giải pháp thay thế 4
3. Một số đề tài gần đây 5
4. Vấn đề nghiên cứu 5
5. Giả thuyết nghiên cứu 5
III. PHƯƠNG PHÁP 5
1. Khách thể nghiên cứu 5
2. Thiết kế 6
3. Quy trình nghiên cứu 6
4. Chọn đối tượng thực hiện 11
5. Tiến hành thực nghiệm 11
6. Đo lường 12
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 13
1. Phân tích dữ liệu 13
2. Bàn luận kết quả 14
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 15
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 15

Hơn nữa, định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự hướng dẫn đúng
mức của giáo viên trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề tạo niềm vui và hứng
3
thú trong học tập của học sinh. Một trong những phương pháp đó là phương pháp
dạy học theo nhóm.
Với những vị trí và vai trò quan trọng đó, ngay từ đầu năm học tôi đã xác
định nhiệm vụ quan trọng là rèn luyện kĩ năng làm thí nghiệm thực hành cho học
sinh lớp 6 - những học sinh đầu cấp là một nhiệm vụ hết sức cần thiết nhằm hình
thành những lượng kiến thức quan trọng trong phân môn vật lí cho các em, từ đó
giúp cho các em nâng cao kết quả học tập. Vì vậy tôi chọn đề tài “Giúp học sinh
lớp 6B nâng cao kết quả học tập môn vật lí bằng cách tổ chức thí nghiệm đồng
loạt theo quy trình”. Qua đề tài này tôi có cơ hội nghiên cứu lí luận, quan sát và
đúc kết kinh nghiệm để tổ chức giờ học đạt hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu giáo
dục đề ra.
Như vậy, dể phát huy vai trò học tập của học sinh, phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết, ham học hỏi, nhằm tạo
hứng thú cho học sinh khi học môn vật lí; giải pháp của tôi là tổ chức cho học sinh
làm thí nghiệm theo quy trình và coi đó là nguồn cung cấp thông tin giúp các em tự
mình chiếm lĩnh tri thức.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai lớp tương đương: Hai lớp 6 trường
THCS Ba Cụm Bắc: Lớp 6B (37 học sinh) làm lớp thực nghiệm, lớp 6A (35 học
sinh) làm lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được tổ chức thí nghiệm đồng loạt theo
quy trình. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ nắm bắt
kiến thức của học sinh. Điểm trung bình (giá trị trung bình) bài kiểm tra của lớp
thực nghiệm là 6,05; của lớp đối chứng là 5,17. Kết quả kiểm chứng T-Test cho
thấy p = 0,00026 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng tỏ rằng việc tổ chức cho học
sinh tiến hành thí nghiệm đồng loạt theo quy trình làm nâng cao kết quả học tập
của học sinh lớp 6B trường THCS Ba Cụm Bắc.

hành còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu của bộ môn.
5
- Phương pháp của giáo viện chưa phù hợp, chưa thật sự quan tâm đến tổ
chức hướng dẫn các em làm các thí nghiệm.
- Thời lượng tổ chức một tiết dạy có tiến hành đầy đủ các thí nghiệm và rút
ra những nội dung kiến thức và vận dụng kiến thức trong một tiết học là không đủ
đối với khả năng tiếp thu kiến thức còn hạn chế của học sinh.
- Học sinh làm các thí nghiệm đồng loạt chưa theo quy trình.
Từ thực trạng cũng như nguyên nhân trên dẫn đến những tiết dạy có thí
nghiệm và những tiết thực hành của học sinh theo nội dung chương trình phần nào
còn mang tính chất hình thức chưa mang tính chất khoa học, tính thuyết phục, chưa
gây được sự hứng thú, tính giáo dục và tính ứng dụng của nó.
Để khắc phục những khó khăn trước mắt và nâng cao kết quả học tập bộ
môn của học sinh, tôi chọn nguyên nhân “Học sinh làm các thí nghiệm đồng loạt
chưa theo quy trình” để tiến hành nghiên cứu.
2. Giải pháp thay thế
Để khắc phục nguyên nhân đã nêu ở trên, có rất nhiều giải pháp ví dụ như:
- Thay đổi các phương pháp dạy học để học sinh cảm thấy hứng thú như tạo
trò chơi, phần thưởng
- Động viên, khuyến khích và khen thưởng học sinh học tập tốt trong quá
trình dạy học.
- Phân công học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém theo hình thức
“Đôi bạn cùng tiến”.
- Tăng cường bài tập ở nhà để học sinh làm.
- Hướng dẫn cho học sinh đọc sách và các tài liệu tham khảo có sẵn ở thư
viện và ở nhà.
- Phối hợp với GVCN, giáo viên bộ môn khác và gia đình học sinh trong
việc nâng cao kết quả học tập của học sinh.
- Tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm đồng loạt theo quy trình.
6

1.2. Đối tượng nghiên cứu
Giúp cho học sinh nâng cao kết quả học tập môn Vật lí bằng cách tổ chức
cho học sinh lớp 6B trường THCS Ba Cụm Bắc làm thí nghiệm đồng loạt theo
quy trình.
Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về
tỉ lệ giới tính, dân tộc. Cụ thể như sau:
Bảng 1. Giới tính và thành phần dân tộc của học sinh lớp 6 trường
THCS Ba Cụm Bắc
Số HS các lớp Dân tộc
Tổng số Nam Nữ Kinh Raglai
Lớp 6A 35 16 19 1 34
Lớp 6B 37 18 19 4 33
Về thành tích học tập của học sinh hai lớp 6 đầu năm được xét tuyển vào
trường cũng như qua theo dõi đánh giá các tuần học, hai lớp tương đương nhau về
điểm số và chất lượng học tập.
Bảng 2. Bảng kết quả học tập của học sinh khối 6 được xét tuyển đầu
năm học 2012 – 2013:
Lớp
Học lực
Tổng số Giỏi Khá Trung bình
6A 35 1 7 27
6B 37 0 7 30
2. Thiết kế
Chọn 2 lớp 6 để nghiên cứu: lớp 6B là lớp thực nghiệm và lớp 6A là lớp đối
chứng. Tôi dùng bài kiểm tra sau khi tác động để kiểm tra kết quả học tập của học
sinh. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do
đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa
điểm số trung bình của 2 nhóm sau khi tác động.
8
Sử dụng thiết kế 4: Sau tác động đối với các lớp tương đương (được mô tả ở

Bước 3: Tổ chức kiểm tra dự đoán
Ở bước này giáo viên phải thực hiện theo trình tự sau:
3.1. Giáo viên phải phân loại được thí nghiệm nên làm biểu diễn, thí
nghiệm nào nên tiến hành đồng loạt. Để có thể tiến hành thí nghiệm đồng loạt
thì thí nghiệm đó phải có thao tác đơn giản, không rườm rà, không nguy hiểm
đối với học sinh.
Ví dụ: Bài 9: “Lực đàn hồi” có 1 thí nghiệm là hình thành khái niệm về độ
biến dạng và biến dạng đàn hồi của lò xo (đo chiều dài của lò xo trước và sau khi
treo quả nặng), có thể tiến hành đồng loạt vì thí nghiệm này có thao tác đơn giản
đơn giản phù hợp với học sinh, không nguy hiểm nên có thể cho các nhóm học
sinh tự làm.
3.2. Phân chia nhóm hợp lý
Nhóm thí nghiệm phải đạt yêu cầu từ 6 đến 8 em, chia nhóm theo năng lực
khác nhau, có đủ các đối tượng học sinh từ yếu đến khá giỏi, phân chia nhiệm vụ
cụ thể. Việc phân chia như vậy nhằm làm cho các em có thể bổ trợ cho nhau trong
quá trình làm thí nghiệm, học sinh có thể giúp nhau để hoàn thành công việc được
giao.
Chỉ định nhóm trưởng: chỉ định các học sinh có năng lực và nhanh hơn làm
nhóm trưởng để các em này có thể hổ trợ các học sinh chậm hơn.
Phân công thư kí sẽ ghi lại kết quả thảo luận vào phiếu học tập kết quả khi
tiến hành thí nghiệm đồng loạt, thống nhất ý kiến trong nhóm.
3.3. Giáo viên phải giới thiệu tên dụng cụ, mục đích thí nghiệm, các bước
tiến hành thí nghiệm, thao tác mẫu, quy định thời gian, nêu rõ các chú ý khi
làm thí nghiệm, sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại các bước tiến hành trước khi
cho các em tiến hành đồng loạt.
10
Trong khi thực hiện bước này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nêu các
dụng cụ thí nghiệm cần có, sau đó giáo viên thiệu tên dụng cụ thật cho học sinh
quan sát và nhận biết; yêu cầu học sinh nêu mục đích của thí nghiệm, các bước tiến
hành thí nghiệm.

dãn.
+ Móc 1 quả nặng 50g vào đầu dưới của lò xo, đo chiều dài của lò xo lức đó
(l
1
): chiều dài của lò xo lúc biến dạng.
+ Đo lại chiều dài tự nhiên của lò xo khi bỏ quả nặng ra và so sánh với chiều
dài tự nhiên của lò xo lúc đầu.
+ Móc lần lượt thêm 1, 2, 3 quả nặng vào đầu dưới của lò xo và làm như
trên.
- Thời gian thí nghiệm: 10 phút
- Chú ý: trong quá trình làm thí nghiệm không được tự ý kéo dãn lò xo,
không treo đến 5 quả nặng vì sẽ làm hỏng lò xo.
12
- Đặc biệt, giáo viên cần hướng dẫn thật cụ thể cách ghi kết quả theo hàng
và theo cột mà không cần kẻ bảng như SGK, tránh mất thời gian lên bảng cho học
sinh làm theo. Ví dụ như cách viết sau thay cho bảng 9.1 SGK:
0 quả nặng thì l
0
= ….cm , 0 cm
1 quả nặng thì l
1
= ….cm , l
1
- l
0
cm
2 quả nặng thì l
2
= ….cm , l
2

3.4. Trong quá trình học sinh làm thí nghiệm, giáo viên cần phải bao quát
lớp, theo dõi, chỉnh sửa, khắc phục sai sót ở các nhóm gặp khó khăn (nếu có).
Ví dụ: Bài 9: “Lực đàn hồi”
Trong thí nghiệm ở bài này, học sinh khó lòng mà đặt được số 0 của thước
ngang bằng với đầu trên của lò xo. Do đó giáo viên phải hướng dẫn thật tỉ mỉ cách
đo chiều dài của các lò xo.
13
Trong quá trình theo dõi, giúp đỡ học sinh giải quyết vấn đề, giải đáp các ý
kiến thắc mắc của học sinh, giáo viên cần xây dựng mối quan hệ thân thiện, hợp
tác giữa giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh trong môi trường học tập an toàn.
3.5. Giáo viên cần quản lí chặt chẽ học sinh để tất cả các em đều tham gia
thực hiện thí nghiệm, luôn tạo ra không khí thi đua giữa các nhóm với nhau.
Khi hoạt động theo nhóm rất dễ xảy ra tình trạng các em ỷ lại vào các bạn
trong nhóm nên giáo viên cần theo dõi và nhắc nhở kịp thời để tất cả các em đều
phát huy được năng lực của mình từ đó tiếp thu kiến thức tốt hơn. Giáo viên cần
đặc biệt chú ý đến học sinh đồng bào và học sinh yếu kém vì các em thường rất e
ngại khi làm việc trong đám đông.
Trong khi các nhóm làm thí nghiệm luôn luôn khích lệ các em làm việc, so
sánh kết quả hay tinh thần làm việc của các nhóm để các em hăng hái làm việc
hơn, làm việc đảm bảo thời gian quy định.
Ví dụ:
+ Nhóm 1 đã đo được độ biến dạng khi treo được bao nhiêu quả nặng rồi ?
Các nhóm khác đã sắp xong chưa?
+ Khen ngợi các nhóm làm việc chăm chỉ, làm xong trước.
+ Giáo viên rút kinh nghiệm và cách làm thí nghiệm của cả lớp.
3.6. Tổ chức cho học sinh trình bày kết quả thí nghiệm, rút ra các kết
luận của bài học từ thí nghiệm.
Giáo viên có thể chỉ định hoặc yêu cầu đại diện các nhóm trình bày kết quả
thí nghiệm trước lớp dưới sự điều khiển của giáo viên.
Thông qua kết quả thu được từ học sinh, giáo viên kịp thời uốn nắn bổ sung

trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
15
Thứ ngày Tiết theo
PPCT
Tên bài dạy
Sáu
02/11/2012
10 Lực đàn hồi
Sáu
30/11/2012
14 Thực hành: Xác định khối lượng riêng của sỏi
Sáu
07/12/2012
15 Máy cơ đơn giản
Sáu
14/12/2012
16 Mặt phẳng nghiêng
Sáu
04/01/2013
19 Đòn bẩy
Sáu
11/01/2013
20 Ròng rọc
Sáu
01/02/2013
23 Sự nở vì nhiệt của chất lỏng
Sáu
22/02/2013
24 Sự nở vì nhiệt của chất khí
Sáu

05 Bo Bo Chược
6
05 Bo Bo Hồng Dĩnh
6
06 Cao Thị Diểu
7
06 Bo Bo Thị Dung
7
07 Cao Điêu
5
07 Nguyễn Anh Đức
7
08 Cao Đường
5
08 Mấu Thị Hà
5
09 Cao Thị Hà
6
09 Cao Văn Hiền
7
10 Bo Bo Minh Hào
5
10 Cao Thị Kim Hồng
7
11 Cao Hồng
6
11 Cao Hùng
6
12 Cao Thị Huệ
4

20 Bo Bo Thị Miêu
5
20 Cao Xuân Mỹ
5
21 Cao Thị Mõng
3
21 Phạm Trí Nghĩa
5
22 Mấu Thị Na
5
22 Mấu Thị Nhẹm
5
23 Tro Thị Nhĩ
5
23 Cao Văn Nho
5
24 Cao Nhưỡng
5
24 Cao Thị Phương Nhung
6
25 Mấu Thị Nịnh
4
25 Mấu Thị Nị
6
26 Mấu Thị Phi
6
26 Bo Bo Thị Núi
8
27 Cao Thị Sựa
5

35 Bo Bo Xuyện
6
35 Tro Văn Vải
7
17
36 Mấu Ý
7
37 Tro Thị Yến
7
Sau một thời gian áp dụng cách thức tổ chức tiến hành thí nghiệm đồng loạt
theo quy trình ở lớp thực nghiệm, tôi nhận thấy: Đa số học sinh nắm được quy
trình làm thí nghiệm, biết cách tiến hành các thí nghiệm đồng loạt có trong chương
trình, kĩ năng thực hiện thí nghiệm đã thành thạo, nhanh chóng, không phải mò
mẫm một cách lúng túng, mất nhiều thời gian. Mặt khác, các em càng thêm yêu
thích môn Vật lí, thích khám phá cái mới và say mê với việc làm thí nghiệm, đặc
biệt kết quả học tập của các em đã được nâng lên rõ rệt.
Qua kết quả trên đây, tôi hy vọng lên những lớp trên, khi học tập môn Vật lí
– môn học với đa số những thí nghiệm, các em lớp 6 đã bước đầu được hình thành
kĩ năng làm thí nghiệm, các em sẽ có một nền tảng làm việc và học tập môn Vật lí
một cách theo quy trình, để từ đó các em có thể nhận biết – thông hiểu – vận dụng
kiến thức một cách linh hoạt nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em.
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
1. Phân tích dữ liệu
Bảng 5. So sánh điểm trung bình (giá trị trung bình) sau khi tiến hành
kiểm tra sau tác động:
STT Nhóm thực nghiệm Nhóm đối chứng
1 8
6
2 5
5

7
18 6
3
19 7
4
20 5
5
21 5
3
22 5
5
23 5
5
24 6
5
25 6
4
26 8
6
27 6
5
28 5
6
29 6
7
30 6
6
31 5
5
32 6

chứng.
19
2. Bàn luận kết quả
Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm
là 6,05; kết quả bài kiểm tra của nhóm đối chứng là 5,17; độ chênh lệch điểm số giữa
hai nhóm là 0,88. Điều đó cho thấy điểm giá trị trung bình của hai lớp đối chứng và
thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn
lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,79.
Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T-Test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là p =
0,00026 < 0,05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai
nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng, tôi nhận thấy rằng việc
tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm theo quy trình giúp học sinh nắm được quy
trình làm thí nghiệm, biết cách tiến hành các thí nghiệm đồng loạt có trong chương
trình, kỹ năng thực hiện thí nghiệm đã thành thạo, nhanh chóng, không phải mò
mẫm một cách lúng túng, mất nhiều thời gian. Mặt khác, các em càng thêm yêu
thích môn Vật lí, thích khám phá cái mới và say mê với việc làm thí nghiệm, đặc
biệt kết quả học tập của các em đã được nâng lên rõ rệt. Nhờ đó mà học sinh khi
học Vật lý có sự tập trung cao độ đối với môn học. Lớp học sôi nổi và tất cả các
em đều được tham gia hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần. Các em hăng hái vào
hoạt động học tập, tinh thần thoải mái. Việc tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm
theo quy trình đã làm tăng kết quả học tập của học sinh hơn rất nhiều.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
- Để giúp học sinh lớp 6 nâng cao kết quả học tập môn Vật lí, điều cơ bản
nhất mỗi tiết dạy giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, truyền đạt chính xác, ngắn gọn
nhưng đầy đủ nội dung, khoa học.
- Để góp phần quan trọng vào giờ dạy có hiệu quả, trước tiết học, giáo viên
phải chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm, đảm bảo đủ vể số lượng, chất lượng cho từng

khó khăn nhất định.
- Đòi hỏi trang thiết bị phải thực sự đầy đủ, giống nhau về số lượng để đáp
ứng kịp thời cho từng nhóm học sinh; đồ dùng thí nghiệm phải có chất lượng cao
để việc thu thập kiến thức từ kết quả thí nghiệm chính xác để học sinh tin tưởng
vào kiến thức mà các em đã thu thập được.
Từ những mặt làm được cũng như hạn chế nêu trên, là cơ sở, là bài học kinh
nghiệm cho bản thân trong quá trình giảng dạy.
2. Khuyến nghị
- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn để bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ cho giáo viên.
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học: Có phòng học chuyên
môn; có đầy đủ đồ dùng đảm bải về chất lượng và số lượng đáp ứng yêu cầu dạy
và học.
- Khi soạn giáo án, giáo viên phải thật sự đầu tư công sức, thời gian để tạo
nên không khí học tập hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có
trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến
của giáo viên. Bởi vậy, giáo viên phải thường xuyên học hỏi, tìm tòi, tự học, tự
sáng tạo để đáp ứng các yêu cầu đặt ra.
Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan
tâm, chia sẻ và có thể ứng dụng đề tài này trong quá trình dạy học để tạo hứng thú
và nâng cao kết quả học tập cho học sinh khối 6.
22
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên Vật lí 6……………………………………… NXB giáo dục
2. Sách giáo khoa Vật lí 6……………………………………… NXB giáo dục
3. Sách bài tập Vật lí 6……………………………………… NXB giáo dục
4. Thiết kế bài giảng Vật lí 6……………………………………… NXB giáo dục
5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn Vật lí chu kì III (2004 – 2007)
– quyển 1 ……………………………………… … NXB giáo dục

4. Thiết kế
Kiểm tra sau tác động đối với các nhóm tương đương
Nhóm Tác động Kiểm tra sau tác động
N1(6A) X O1
N2(6B) O2
5. Đo lường
1. Bài kiểm tra của học sinh.
2. Kiểm chứng độ tin cậy của bài kiểm tra.
3. Kiểm chứng độ giá trị của bài kiểm tra.
6. Phân tích Sử dụng phép kiểm chứng t-test độc lập và mức độ ảnh hưởng
7. Kết quả
Kết qủa đối với vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa không ?
Nếu có ý nghĩa, mức độ ảnh hưởng như thế nào ?
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status