Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Đề số 1:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
————————
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2014-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh
phúc
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao
đề.
———————————
Câu 1 (3,0 điểm)
Trong bức thư của một du học sinh Nhật bàn về “văn hóa Việt” có đoạn:
“Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm
văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách
hành xử đời thường”.
Là một người Việt trẻ tuổi, anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Câu 2 (7,0 điểm)
Cảm nhận về nhân vật Mị Châu trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị
Châu - Trọng Thuỷ, có người khẳng định: “Phút sai lầm của một người, dân tộc phải
trả giá bằng ngàn năm nô lệ. Tội đó của Mị Châu không thể dung tha”.
Lại có người viết:
Am Mị Châu thờ bức tượng không đầu
Cảnh báo một trái tim khờ dại.
Thử hỏi, nửa thế giới này đang tồn tại
Đã yêu rồi, ai không giống Mị Châu?
(Vô đề - Hạnh Mai, Tạp chí Người Hà Nội, số 115, 8- 2009)
Thông qua việc phân tích nhân vật Mị Châu, anh/chị hãy bình luận những ý
Ý cả câu là một lời cảnh tỉnh đối với mỗi người Việt Nam: không nên ngủ quên trong
quá khứ và hãnh diện về truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc mà cần để truyền
thống văn hoá tốt đẹp đó thể hiện trong thực tế cuộc sống hàng ngày.
2. Phân tích lý giải
2.1. Vì sao nói “thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến”?
- Vì trong thực tế không phải dân tộc nào cũng có lịch sử phát triển lâu đời như vậy.
- Trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần, hình thành bản sắc văn hoá của dân tộc với những nét tốt đẹp, biểu
hiện phong phú ở nhiều lĩnh vực của đời sống.
2
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
2.2. Vì sao nói “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách
lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?
- Vì 4000 năm văn hiến là nền tảng, hành trang quý báu, nhưng nó hoàn toàn là thành
tựu của quá khứ. Không thể chỉ tự hào về những điều trong sử sách, vì văn hoá của
một dân tộc cần biểu hiện thành những điều cụ thể trong cuộc sống hiện tại.
- Thực tế hiện nay đáng cảnh báo vì sự xuống cấp của những giá trị văn hoá trong lối
sống, VD: truyền thống nhân đạo, tương thân tương ái ngàn xưa đang đứng trước
nguy cơ bị đẩy lùi bởi thói vô cảm và chủ nghĩa cá nhân; truyền thống trọng tình
nghĩa mai một trước chủ nghĩa thực dụng và toan tính
3. Đánh giá
- Ý kiến trên có tác dụng nhắc nhở, cảnh tỉnh mỗi người Việt Nam nhìn lại chính
mình, để biết trân trọng quá khứ của cha ông đồng thời có ý thức gìn giữ và phát triển
những truyền thống văn hoá tốt đẹp trong hiện tại.
- Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu không ghi nhận những tấm gương nỗ lực để bảo vệ
và phát huy truyền thống đó trong đời sống. Từ đó, rút ra bài học nhận thức và hành
động cho bản thân.
*Thang điểm:
- Cho điểm 3: hiểu đúng nội dung của câu nói và trình bày đầy đủ các ý trên, yêu cầu
có lý lẽ, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng.
cảnh giác, coi bí mật quốc gia như tài sản riêng của gia đình. Nàng cho Trọng Thuỷ
xem nỏ thần, lại còn giảng giải cho y cách sử dụng nỏ. Hành động đó đã vô tình tiếp
tay cho kẻ thù có thêm cơ hội thôn tính nước Âu Lạc.
+ Khi chiến tranh xảy ra, Mị Châu vẫn rắc lông ngỗng dọc đường chạy loạn. Một lần
nữa Mị Châu đã vô tình chỉ dẫn cho quân giặc chạy theo, đưa hai cha con đến chỗ
cùng đường tuyệt lộ. Nàng chỉ kịp nhận ra sự thật đau lòng trước lúc rơi đầu.
- Nguyên nhân của sự sai lầm: sự thiếu cảnh giác của bản thân nàng.
- Hậu quả của sự sai lầm: Dân tộc rơi vào chiến tranh, loạn lạc, nước mất, nhà tan.
Nàng chết dưới lưỡi kiếm oan nghiệt của cha.
- Thái độ của tác giả dân gian với sai lầm đó của Mị Châu:
4
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
+ Tác giả dân gian đã để thần Kim Quy hiện lên quát lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa
chính là giặc đó”. Câu nói ấy cũng đồng thời là lời kết tội đanh thép của công lí, của
nhân dân cho hành động vô tình mà phản quốc của Mị Châu. Đó cũng là bài học đắt
giá về mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân với trách nhiệm công dân.
+ Hình ảnh máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc, xác của nàng biến thành ngọc
thành là những yếu tố kì ảo, minh chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối của
nàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thể
hiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.
2.2. Bình luận hai ý kiến
- Ý kiến thứ nhất đúng khi luận tội Mị Châu với những hậu quả mà sai lầm của nàng
đã gây ra. Ý kiến thứ hai tỏ ra có lý khi tìm nguyên nhân của sự sai lầm là do bản
chất của trái tim yêu.
- Tuy nhiên, cần đặt tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với vận mệnh quốc gia, vận
mệnh
cộng đồng, để thấy: Trong một đất nước nhiều giặc giã, luôn đứng trước nguy cơ của
những cuộc xâm lược, một nàng công chúa chỉ biết lắng nghe tiếng nói của con tim,
của tình yêu mà vô tình với sự sống còn của xã tắc chính là có tội.
- Ngay bản thân Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lớn của mình, nàng chỉ
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2014-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát
đề
Câu 1 (3,0 điểm).
Suy nghĩ của anh (chị) về câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
Câu 2 (7,0 điểm).
Nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua các tác phẩm đã
được học.
6
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh……… …….…….….….; Số báo danh……………………
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2014-
2015
ĐÁP ÁN MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Câu 1 (3,0 điểm).
I. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụng
phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn chứng
chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
thực hành.
- Biết lấy kiến thức từ sách vở để soi chiếu vào thực tế, xử lý các vấn đề của thực tế.
Lưu ý: Trong quá trình bàn luận, thí sinh cần phân tích được những dẫn chứng cụ
thể để chứng minh.
III. Biểu điểm:
- Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Hành văn trong sáng, mạch lạc. Dẫn
chứng chọn lọc và thuyết phục.
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1,0: Chưa nắm chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
- Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh vận dụng hiểu biết về chủ nghĩa nhân đạo trong văn học, phân tích làm
sáng tỏ những nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du (so với các tác phẩm
trước và cùng thời), chủ yếu thể hiện ở tác phẩm “Độc Tiểu Thanh Ký” và “Truyện
Kiều”. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bật
được những ý cơ bản sau:
1. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học:
- Nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người; là tình yêu thương giữa
người với người.
- Trong tác phẩm văn học, tư tưởng nhân đạo là tình cảm, thái độ của nhà văn
đối với cuộc sống con người thể hiện ở lòng xót thương những con người bất hạnh;
phê phán những thế lực bạo tàn áp bức, chà đạp con người; trân trọng những phẩm
chất và khát vọng tốt đẹp của con người, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con
người
hiện sâu sắc quyền sống cá nhân của con người. Do đó, Thúy Kiều của Nguyễn Du gần
với con người thực, con người tự nhiên chứ không đơn giản chỉ là tấm gương đạo lí,
biểu trưng đạo đức một chiều như nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân.
+ Nhà thơ đã để cho nhân vật sống trong đau khổ thật của hiện tại, hơn là việc ru
ngủ trong hạnh phúc siêu hình. Dùng cái chết với mong muốn kiếp sau được đoàn tụ với
Kim Trọng cũng chỉ là giấc mộng mong manh: Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Ước mơ
bao hàm tuyệt vọng, vì sự hiển hiện ấy nếu có cũng chỉ là hạnh phúc siêu hình, chỉ là
một ảo ảnh. Một cuộc trở về mà không có gặp gỡ: Dạ đài cách mặt khuất lời. Cái hạnh
phúc “nguyện ước ba sinh” của nhà Phật đưa ra để an ủi con người mà thực chất lại vò
xé lòng người trong bi kịch nặng nề, vì làm gì có sum họp khi nàng đã là người của cõi
chết, âm dương cách trở? Thúy Kiều đã trở về với hiện tại phũ phàng ở cuối đoạn trích:
Bây giờ trâm gãy, gương tan/Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. Kiều ý thức rất rõ về khía
cạnh hiện sinh, cái “bây giờ”, “trâm gãy, gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “nước chảy
hoa trôi”. Thúy Kiều đã được giải phóng khỏi những quan niệm tôn giáo về hạnh phúc.
9
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Nàng là “con người được thức tỉnh, dù chỉ là để khổ đau” (Đặng Thanh Lê). Đó cũng là
chiều sâu và tầm cao tư tưởng nhân văn Nguyễn Du.
+ Con người thức tỉnh, dù chỉ là thức tỉnh trong nỗi khổ đau ấy còn tiếp tục được
thể hiện trong nhiều giai đoạn thăng trầm của cuộc đời Thúy Kiều, ngay cả khi nàng trở
thành gái lầu xanh, bị vùi dập ở nơi nhơ nhớp nhất. Ở đoạn “Nỗi thương mình”, chúng ta
thấy một cô Kiều biết tự ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân, tự ý thức về quyền
sống của mình: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khẳng định ý thức cá nhân trong bối cảnh văn học trung đại, khi vấn đề cá nhân,
quyền sống của mỗi cá thể còn ít được nhắc đến, chúng ta có thể thấy chủ nghĩa nhân
đạo của Nguyễn Du nhiều khi đã vượt thoát khỏi khoảng trời trung đại chật hẹp để vươn
tới tầm nhân loại bao la.
- Trân trọng nhân cách, phẩm giá đối với một kỹ nữ: Nhiều nhà nho cùng thời
hoạc thuộc thế hệ sau Nguyễn Du đã có cái nhìn lên án Thúy Kiều là “tà dâm” chính là
bời những năm tháng nàng phải sống nơi lầu xanh. Nguyễn Du không né tránh hiện
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
- Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý: - Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những
suy nghĩ sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến
0,25 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 3:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
————————
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2014
-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh phúc
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề.
———————————
Câu 1 (3 điểm):
Trình bày suy nghĩ của anh ( chị) về câu chuyện ngụ ngôn sau đây:
CHIM CHÀNG LÀNG
Chàng Làng vẫn thường hãnh diện và kiêu ngạo về tiếng hót của mình hơn hẳn
đồng loại. Nó có thể hót tiếng của nhiều loài chim.
Một hôm, nhân có mặt đông đủ bạn bè họ nhà chim, chú đậu tót lên cành cây cao rồi
quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt
trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có tư duy
khoa học, lập luận sắc sảo, có khả năng cảm thụ văn học và tính sáng tạo cao.
- Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm.
II. Đáp án và thang điểm
12
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Câu Ý Nội dung Điểm
1 Trình bày suy nghĩ về câu chuyện Chim Chàng Làng 3,0
1 Nhận thức về câu chuyện(0,5 điểm)
- Câu chuyện kể về loài chim Chàng Làng( còn có tên khác là chim Bách
Thanh), loài chim này có khả năng tuyệt vời là bắt chước giọng của những
loài chim khác.
- Bản thân chú chim này rất tự hào về khả năng của mình và khi có mặt
đông đủ bạn bè, họ hàng nhà chim chú lại trình diễn năng khiếu ấy cho
mọi người thưởng thức.
- Tuy nhiên khi được đề nghị hót bằng giọng của mình thì chú xấu hổ bay
đi mất vì xưa nay chú chỉ bắt chước, nhại theo chứ đâu có luyện cho mình
một giọng hót riêng.
=> Câu chuyện phê phán thói bắt chước, nhại lại mà không chịu suy nghĩ,
không chịu sáng tạo để làm nên phong cách riêng ở một số người.
0,5
2 Suy nghĩ của bản thân từ câu chuyện (2,0 điểm)
- Bắt chước là một thói quen được hình thành từ thuở ấu thơ, nó giúp con
người học hỏi được mọi thứ từ thế giới xung quanh để thích nghi với cuộc
sống.
- Bắt chước là giai đoạn đầu tiên của tư duy mà bất cứ ai cũng phải trải
qua bởi khó có thể phát minh, sáng tạo ra cái mới nếu không dựa vào
những ý tưởng cũ. Bắt chước trong một hoàn cảnh nào đó cũng được coi
- Đánh giá về Truyện Kiều, GS Đặng Thai Mai cho rằng: Truyện
Kiều cũng như tất cả các áng văn tuyệt tác trong văn học thế giới dường
như không hề biết già, mà lại còn có vẻ càng ngày càng trẻ nữa. Truyện
Kiều có cả một vận mệnh vẻ vang.
0,25
0,25
2 Giải thích ý kiến(1,0 điểm)
- Áng văn tuyệt tác : Những tác phẩm văn chương hay, đẹp đến mức coi
như không còn có thể đòi hỏi gì hơn, không thể có cái hơn. Già: Ở vào 0,5
13
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Hết
Đề số 4:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
ĐỀ CHÍNH THỨC
KÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2011-2012
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh các trường THPT)
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề).Câu 1 (3,0 điểm).
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi
lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.
(Bài kí đề danh tiến sĩ – 1442, Thân Nhân Trung).
Suy nghĩ của anh (chị) về nhận định trên.
Câu 2 (7,0 điểm).
- Nguyên khí: là chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội.
- Cả câu: Khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài đối với quốc gia
dân tộc. Bậc hiền tài có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh suy của đất nước.
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề.
15
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
- Khẳng định tính đúng đắn của nhận định: Câu nói của Thân Nhân Trung là tư tưởng
quan trọng, là sự tổng kết đường lối chiến lược về văn hoá giáo dục. Đây là một tư
tưởng hết sức đúng đắn, tiến bộ, có ý nghĩa trong mọi thời, mọi quốc gia dân tộc. Bởi
vì ở thời nào, ở đất nước nào thì hiền tài vẫn là người tạo ra phần lớn những giá trị
vật chất, tinh thần, đặc biệt ở họ có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng
suốt hơn người thường.
- Nhà nước có chính sách chăm lo nuôi dưỡng, đào tạo và đãi ngộ thích đáng với
người hiền tài. Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, thời đại mở cửa và hội nhập
toàn cầu, chính sách phát triển văn hoá giáo dục ở mọi quốc gia, đặc biệt là các nước
phát triển ngày càng được chú trọng. Với nước ta, giáo dục luôn được coi là quốc
sách hàng đầu.
3. Bài học nhận thức và hành động.
- Ý thức được vai trò, tầm quan trọng của hiền tài đối với đất nước.
- Có thái độ trân trọng với bậc hiền tài.
- Bản thân cố gắng học tập tu dưỡng để trở thành người có ích cho đất nước.
III. Biểu điểm:
- Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
- Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
nghĩa tố cáo phê phán xã hội bất công, tàn bạo vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo,
nhân văn lớn lao, sâu sắc. Tư tưởng ấy được cô đúc trong một bài thơ thất ngôn bát
cú Đường luật hàm súc, phảng phất giọng điệu bi phẫn do rất nhiều thanh trắc, gợi
cảm giác trĩu nặng, ngưng đọng.
- Nguyễn Du cũng là một con người khổ đau, cô đơn, không có tri kỉ. Tâm sự
đó của Nguyễn Du cần được hậu thế thấu hiểu qua những thi phẩm của ông. Bởi lẽ,
tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dân tộc nào, thời đại
17
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
nào cũng hướng tới. Chẳng vậy mà nhà văn Bùi Hiển cho rằng : “Ở nước nào cũng
thế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết”.
III. Biểu điểm:
- Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm
của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ sáng
tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến
0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 5:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
Dành cho học sinh trường THPT chuyên.
Câu 1 (3,0 điểm).
I. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận
dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn
19
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
chứng chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính
tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Bài viết phải đảm bảo được những nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích.
- Quá khứ: là cái đã qua, là thời gian đã qua.
- Hiện tại: là cái đang xảy ra, là thời gian đang sống.
- Tương lai: là cái chưa tới, có thể xảy ra, là thời gian sắp tới, sẽ tới.
- Bắn: ẩn dụ, chỉ thái độ, cách đối xử của con người với quá khứ, tương lai.
- Cuộc sống trôi qua kẽ tay: để cuộc sống trôi qua phí hoài, vô ích, thái độ thờ ơ với
cuộc sống.
- Ý kiến thứ nhất: Bằng cách nói hình ảnh: bắn súng lục vào quá khứ, tương lai sẽ
bắn anh bằng đại bác, cách dùng hình ảnh mang ý nghĩa tăng tiến: súng lục- đại bác,
người nói muốn khẳng định: Cách đối xử của mỗi người với quá khứ như thế nào thì
tương lai họ nhận được sẽ như thế, thậm chí còn tồi tệ hơn thế. Câu nói đề nghị một
lối sống, một thái độ sống: trân trọng quá khứ, biết ơn quá khứ.
- Ý kiến thứ hai: Bằng cách nói nhấn mạnh, phủ định để khẳng định: chớ để…chỉ
bằng cách… sống trọn vẹn từng ngày, người nói muốn đề nghị một lối sống: trân
trọng từng khoảnh khắc của hiện tại, sống hết mình trong hiện tại.
- Hai ý kiến tưởng chừng đối lập nhưng kì thực là sự bổ sung ý nghĩa cho nhau, cùng
hướng con người tới một lối sống, một thái độ sống tích cực, đúng đắn: sống là phải
biết trân trọng quá khứ, biết ơn nguồn cội. Song đồng thời phải biết đón nhận hiện
- Trân trọng quá khứ là như thế nào?
- Trân trọng hiện tại, sống hết mình trong hiện tại là ra sao?
- Nêu một số lối sống, thái độ sống chưa hợp lí:
+ Hoặc quá đề cao quá khứ mà coi nhẹ hiện tại.
+ Hoặc chạy theo chủ nghĩa hiện sinh, thực dụng mà lãng quên quá khứ.
- Bài học nhận thức, hành động của bản thân.
III. Biểu điểm:
- Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
21
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
- Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Học sinh biết huy động kiến thức tổng hợp về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi
,phân tích làm rõ tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc. (Cần hiểu rõ ý kiến của Phạm
Văn Đồng: Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi chính là nói đến cuộc đời và
những sáng tác văn học của ông). Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau
nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giải thích bài ca yêu nước và tự hào dân tộc.
Lòng yêu nước, tự hào dân tộc đã được nâng lên ở mức độ cao hơn, đẹp hơn. Cuộc
đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi là biểu hiện tuyệt vời của lòng yêu nước,
đẹp như một bài ca.
Chăn dân mựa nữa mất lòng dân
(Bảo kính cảnh giới -57)
- Thơ văn Nguyễn Trãi còn sáng ngời niềm tự hào dân tộc:
+ Tự hào về lịch sử dân tộc:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một
phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt thời nào cũng có.
23
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
(Bình Ngô đại cáo).
+Tự hào về sức mạnh của dân tộc, đề cao chí khí anh hùng của dân tộc:
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
…Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
(Bình Ngô đại cáo).
Nói đến sức mạnh của dân tộc chính là đề cao sức mạnh của nhân dân: Lật thuyền
mới biết dân như nước (Đóng cửa biển).
3. Đánh giá.
- Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi có điểm nhất quán: lòng yêu
nước và tinh thần tự hào dân tộc. Tất cả thể hiện trọn vẹn, chói ngời vẻ đẹp của một
ĐỀ BÀI
Câu 1: Nghị luận xã hội (3,0 điểm)
Anh,chị hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của mình về tấm lòng nhân hậu trong
cuộc sống.
Câu 2: Nghị luận văn học (7,0 điểm)
Cảm nhận của anh,chị về câu chuyện truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị
Châu - Trọng Thủy (sách Ngữ văn 10).
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên học sinh……………………………….Số báo danh……………….
25