Bài 2 đánh giá vả quản lý nguy cơ - Pdf 26

Bài 2: Đánh giá vả quản lý nguy cơ (20 tiết)
Ngô Thị Nhu
MỤC TIÊU:
Mục tiêu:
1. Nêu được khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ, nhận biết yếu tố nguy cơ,
nguy cơ.
2. Đánh giá được các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe;
3. Kiểm soát nguy cơ, theo dõi sức khỏe.
4. Theo dõi, lượng giá kết quả thực hiện việc đánh giá và quản lý nguy cơ.
NỘI DUNG:
1. Khái niệm yếu tố nguy cơ, nguy cơ
Việc lượng giá các nguy cơ sức khỏe gây ra bởi yếu tố môi trường là rất
quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.
Một yếu tố nguy cơ được định nghĩa là " một yếu tố hay một sự phơi
nhiễm mà có thể để lại tác hại đối với sức khỏe” (Last, 1995); nói một cách
đơn giản đó là nguồn gốc của các mối nguy hiểm. Yếu tố nguy cơ là một thủ
thuật định tính diễn đạt khả năng một yếu tố môi trường gây hại đối với sức
khỏe của một số cá nhân nếu mức phơi nhiễm đủ lớn hoặc có các điều kiện
khác xảy ra.
Nguy cơ được định nghĩa là: khả năng một sự kiện có thể xảy ra, ví dụ
một người sẽ bị ốm hoặc tử vong trong một khoảng thời gian xác định hay
trước một độ tuổi nào đó, khả năng của một hậu quả không mong muốn (Last,
1995). Đây là một xác suất định lượng của một ảnh hưởng sức khỏe tiêu cực sẽ
xảy ra sau khi một người phơi nhiễm với một nguy cơ nào đó. Một yếu tố nguy
cơ sẽ dẫn tới nguy cơ khi và chỉ khi có sự phơi nhiễm; nếu không có sự phơi
nhiễm hoặc yếu tố nguy cơ được kiểm soát thì cũng không tạo ra nguy cơ.
2. Nhận biết yếu tố nguy cơ, nguy cơ: vật lý, hóa học, sinh học, với sự
an toàn và tâm lý xã hội.
Yếu tố nguy cơ sức khỏe môi trường có thể có nguồn tự nhiên và nhân
tạo. Chúng bao gồm các yếu tố nguy cơ sau:
- Yếu tố nguy cơ sinh học (ví dụ cấy khuẩn, virus, động vật ký sinh và

- Hút thuốc lá
- Các yếu tố nguy cơ từ hoạt động giao
thông
- Ô nhiễm từ rác thải, nước thải công
nước sinh hoạt không đảm bảo
- Ô nhiễm không khí trong nhà do
các hoạt dộng đun nấu
- Chế độ ăn các chất dinh dưỡng
- Các yếu tố nguy cơ khi sinh con
- Các động vật nuôi và dộng vật
hoang dã
- Các yếu tố nguy cơ gây chấn
thương trong nông nghiệp
nghiệp
- Ô nhiễm môi trường và không khí do
các hoạt động công nghiệp, ce ô tô, xe
máy
- Lạm dụng hóa chất và sử dụng hóa
chất không dúng mục đích
- Các thiết bị máy móc dùng trong công
nghiệp
- Ăn uống không khoa học (mất cân
bằng các chất dinh dưỡng)
BẢNG 2. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ SINH HỌC, HÓA HỌC VÀ VẬT LÝ
THEO CÁC CON ĐƯỜNG PHƠI NHIỄM
Sinh học Hóa học Vật lý
KHÔNG KHÍ
Tác nhân/ nguồn
Véc tơ
Các con đường

nước
Nước và thực
phẩm bị ô nhiễm
Chất phóng xa, nhiệt
ở các nhà máy điện
Các tai nạn, thực
phẩm và nước bị ô
nhiễm
Con đường phơi
nhiễm
thải động vật,
chuỗi thức ăn
Các vết cắn,
đường tiêu hóa,
tiếp xúc
Ăn vào (đường
tiêu hóa) tiếp xúc
Đường tiêu hóa, tiếp
xúc
ĐẤT
Tác nhân/ nguồn
Véc tơ
Con đường phơi
nhiễm
Các sinh vật đất
Các chất hữu cơ
phân hủy tạo
điều kiện cho các
véc tơ phát triển
Tiếp xúc, các vết

trong cơ thể con người. Vi khuẩn và động vật nguyên sinh có thể sống và sinh
sản ngoài các tế bào sống. Khi có đủ thức ăn và điều kiện nhiệt độ, pH nằm
trong ngưỡng cho phép thì chúng có thể tồn tại và sinh hoạt trong nước hay
thực phẩm trong thời gian dài. Trái lại virus không thể sinh sản ngoài tế bào
sống mặc dù một số loài có thể tồn tại ngoài môi trường tế bào trong một thời
gian dài mà vẫn có khả năng lây bệnh. Để hoàn thành một vòng đời, virus cần
phải xâm nhập vào tế bào của con người, động vật, thực vật, hay động vật đơn
bào. Rất nhiều bệnh do vi sinh vật gây ra được truyền trực tiếp từ người này
sang người khác. Những bệnh này được xem như những yếu tố nguy cơ sức
khỏe môi trường từ người qua người, bao gồm: bệnh lao (gia tăng do điều kiện
sống đông đúc, mất vệ sinh) và rất nhiều bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Năm
bệnh truyền nhiễm chính gây tử vong trên thế giới: bệnh viêm đường hô hấp
cấp tính, tiêu chảy, lao, sốt rét, và bệnh sởi.
Khi một bệnh có khả năng lây truyền từ người này sang người khác thì
được gọi là bệnh truyền nhiễm hay bệnh có thể lây. Sự lây nhiễm có thể trực
tiếp qua sự tiếp xúc giữa 2 người, như trong trường hợp có thể lây qua đường
tình dục, hoặc có thể lây truyền qua không khí như trong trường hợp cảm lạnh
thông thường hay bệnh lao. Một người bệnh thở ra không khí các vi sinh vật
gây bệnh và người khác hít thở không khí các vi sinh vật gây bệnh và người
khác hít thở không khí mang mầm bệnh này vào cơ thể. Ngoài ra bệnh truyền
nhiễm có thể lây lan qua các môi trường trung gian khác nhau như các vật chất
đã bị nhiễm bẩn bởi người bệnh. Ví dụ, thức ăn bị nhiễm giun từ người bệnh.
Vectơ- vật trung gian truyền bệnh cũng vó thể lây làm lây truyền các bệnh
truyền nhiễm. Các vectơ mang vi sinh vật ký sinh và làm lây lan bệnh truyền
nhiễm thông qua vết cắn, vết đốt ví dụ như bệnh sốt rét hay sốt xuất huyết do
muỗi truyền.
Một số vi khuẩn và ký sinh sản xuất ra các độc tố ảnh hưởng đến sức
khỏe con người. Hầu hết các trường hợp ngộ độc thực phẩm là do các độc tố
sản sinh ra từ các vi khuẩn có trong thức ăn. Sự khác nhau giữa nhiễm trùng và
phản ứng do độc tố là rất quan trọng. Các bệnh ngộ độc là do các độc tố của vi

giun chỉ, và bệnh giun Guinea. Tuy nhiên những bệnh truyền nhiễm khác như
bệnh lao không được coi là bệnh nhiệt đới mặc dù chúng rất phổ biến ở các
vùng nhiệt đới và chiếm phần lớn trong gánh nặng bệnh tật ở các nước đang
phát triển.
Những thay đổi của môi trường và những can thiệp mất cân bằng sinh
thái có thể ảnh hưởng rất lớn trong việc lây lan các bệnh truyền nhiễm. Những
vụ dịch mới như dịch xảy ra ở Công Gô năm 1995 gây ra bởi virus Ebola. Vụ
dịch này xảy ra sau khi con người tiếp xúc với virut ở một môi trường xa xôi
hẻo lánh. Các bệnh khác như bệnh hantavirus, sốt Riftvalley và bệnh tả xuất
hiện trở lại và có liên quan tới thay đổi môi trường
Các đường phơi nhiễm
Các đường phơi nhiễm môi trường chính đối với các yếu tố nguy cơ sinh
học qua không khí, nước và thực phẩm. Một số động vật ký sinh vào cơ thể
thông qua da (giun móc, sán máng) và một số khác thì thông qua các vết cắn
của động vật, vết đốt của côn trùng (bệnh sốt rét). Vi khuẩn và động vật ký sinh
còn có thể lây lan từ đất bị nhiễm bẩn lên da, qua bụi trong không khí và cuối
cùng vào cơ thể con người. Sự tiếp xúc giữa người với người là con đường lây
nhiễm quan trọng làm lây lan các yếu tố nguy cơ sinh học.
Sự lây lan vi sinh vật trong không khí là nguyên nhân chủ yếu làm phát
tán các bệnh về đường hô hấp và thông thường do các hạt nhỏ bắn ra khi ho
hay hắt hơi Một ví dụ điển hình là bệnh cảm lạnh thông thường. Mặc dù căn
bệnh này không thường được xem là vấn đề sức khỏe môi trường nhưng vẫn
được xếp là một trong những bệnh môi trường do các điều kiện môi trường như
mật độ dân số đông đúc, điều kiện ở chật chội, hay thiếu hệ thống thông gió sẽ
góp phần lây lan virut trong không khí. Ví dụ khác về vi sinh vật lây lan thông
qua không khí là vi khuẩn lao và vi khuẩn viêm phổi. Vi khuẩn gây viêm phổi
có thể sống trong các hệ thống điều hòa không khí không được bảo dưỡng làm
sạch thường xuyên (trong hệ thống làm lạnh bằng nước) và có thể lan ra toàn
bộ căn phòng.
Một vấn đề sức khỏe lớn nhất do các yếu tố nguy cơ sinh học là sự lây

o
C
(40
o
F) hoặc trên 60
o
C(140
o
F), phần lớn vi khuẩn đều phát triển rất chậm.
Đối với các yếu tố nguy cơ sinh học trong môi trường đất thì giun sán từ
phân người bệnh lẫn trong đất là vấn đề được quan tâm. Nhiễm giun đường
ruột xảy ra rất phổ biến ở những vùng nghèo thuộc các nước đang phát triển,
đặc biệt là ở đối tượng trẻ em vì trẻ em có đặc điểm là thích nghịch đất xong
đưa tay vào miệng và chưa có ý thức cá nhân cũng như phòng bệnh. Ở những
cộng đồng nghèo và lạc hậu nơi có điều kiện vệ sinh môi trường không đảm
bảo, việc đi vệ sinh bừa bãi trên nền đất là chuyện bình thường và vòng giun
sán được lây nhiễm là duy trì. Vật nuôi hay các động vật khác bị nhiễm giun
sán cũng có thể là nguồn lây bệnh sang người. Mặt khác, nếu không sử dụng
thiết bị bảo hộ lao động thì việc sử dụng nước thải hay phân người, phân gia
súc chưa qua xử lý trong nông nghiệp có thể là nguồn lây nhiễm cho người
nông dân khi họ cày bừa trên đất bị nhiễm bẩn.
Sự phân bố, phát triển và các cơ chế tự vệ
Rất nhiều virus, vi khuẩn và động vật ký sinh có thể lây nhiễm ngay khi
cơ thể tiếp xúc lần đầu tiên. Thông thường virus gây bệnh cảm lạnh được hít
vào nó sẽ thâm nhập vào đường hô hấp trên, vi khuẩn tụ cầu có thể gây nhọt
trên da và giun sán đường ruột có thể gây bệnh trong ruột khi chúng được nuốt
vào theo thức ăn. Các loài khác được lây nhiễm ở vị trí xa hơn trong cơ thể.
Khi một người tiếp xúc với tác nhân sinh học hoặc một mầm bệnh , tác nhân
này được phân bố khắp cơ thể thông qua hệ thống tuân hoàn, bạch huyết và các
dịch chất khác trong cơ thể tới những bộ phận của cơ thể nơi thuận lợi nhất cho

mạng của bệnh nhân được truyền dịch trực tiếp vào tĩnh mạch. Tương tự một số
loài vi khuẩn sống trong thực phẩm và sản xuất ra được các độc tố. Khi chúng ta
ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn về nguy cơ sức khỏe do bị ngộ độc còn lớn hơn
rất nhiều lần nguy cơ gây ra do nhiễm khuẩn. Ví dụ, vi khuẩn tụ cầu sản xuất ra
một loại độc tố gây tiêu chảy và nôn mửa. độc tố mạnh nhất do vi khuẩn sản xuất
ra là độc tố gây chứng ngộ độc do Clostridium botulinum sản xuất
Những ảnh hưởng sức khỏe
Khi một sinh vật vào trong cơ thể khối cảm thụ hoặc cơ thể người và
gây bệnh thì được gọi là một sự nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn có thể xảy ra ở tất
cả các bộ phận của cơ thể, tuy nhiên, nhiều loài chỉ thường lây nhiễm ở một số
cơ quan nhất định và gây ra các bệnh đặc trưng. Ở những nước đang phát triển,
bênh tiêu chảy gây ra tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nguyên nhân là
vệ sinh môi trường không đảm bảo tạo điều kiện cho phơi nhiễm , gia đình
không biết xử lý đúng khi trẻ bị bệnh và thiếu các dịch vụ y tế chăm sóc sức
khỏe cộng đồng. Các vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy và thậm chí các loài virus
thông thường ít gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người trưởng thành cũng có
thể gây tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Đối với người lớn thì bệnh tả là một
bệnh đường ruột nguy hiểm nhất, tiếp theo là thương hàn, phó thương hàn,
bệnh tiêu chảy do salmonella và shigella
Nhiễm khuẩn đường hô hấp là rất phổ biến. Đối với những bệnh này thì
trẻ em cũng là nhóm dễ bị tổn thương. Những người lớn (đặc biệt là người già và
người bị suy giảm hệ miễn dịch ví dụ bệnh nhân HIV/AIDS) có nguy cơ cao
mắc các bệnh lao và nhiễm phổi. Virus gây bệnh cảm thông thường và các bệnh
có triệu chứng tương tự như cúm đang gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng
ngày của chúng ta, nhưng thông thường bệnh nhân sẽ khỏi bệnh sau vài ngày.
Những bệnh lây qua đường tình dục đang thu hút rất nhiều sự chú ý ví
dụ như sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS. Mặc dù AIDS không được xem là
bệnh môi trường, nhưng căn bệnh này lại tạo được sự lây nhiễm nhiều bệnh
môi trường khác nhau. Những tổn thương mà AIDS gây ra cho hệ miễn dịch và
hệ thống tự vệ của cơ thể đã tạo điều kiện cho sự phát triển của bệnh lao. Rất

chọn và sử dụng làm vi sinh vật chỉ thị xác định chất lượng nước là sự xuất
hiện của chúng chứng tỏ nguồn nước đã bị nhiễm phân- là nguồn nước chính
làm lây lan các vi sinh vật gây bệnh khác trong nước sinh hoạt.
2.2. Yếu tố nguy cơ hóa học
Kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay có khoảng 10 triệu chất hóa học khác nhau
được tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Khoảng 1% trong số này được sản xuất
để đem ra thị trường và được sử dụng trực tiếp ; còn hầu hết các chất khác được
sử dụng làm chất trung gian để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ con người.
Hầu như không có một lĩnh vực hoạt động nào của con người mà khộng sử
dụng đến các sản phẩm hóa học và thực sự những sản phẩm này đã có vai trò
rất lớn trong cuộc sống của chúng ta. Như những ứng dụng của các loại dược
phẩm trong chữa bệnh hay sử dụng các loại phân bón trong tăng năng suất cây
trồng góp phần đảm bảo an ninh lương thực.
Ở một chừng mực nào đó thì tất cả các hóa chất đều độc hại và có nguy
cơ về sức khỏe, một hàm số mà biến số của nó là độc tính của hóa chất và thời
gian phơi nhiễm. Tuy nhiên, cho đến nay thì các hóa chất chưa được kiểm tra
một cách đầy đủ để xác định độc tính của chúng.
Đã có rất nhiều nỗ lực trên toàn cầu nhằm khắc phục tình trạng này. Đặc
biệt đáng chú ý là vào năm 1976, Chương trình của Môi trường Liên Hợp Quốc
(UNEP) đã thành lập tổ chức Thế Giới Đăng kiểm các chất hóa học có khả
năng độc hại (IRPTC). Năm 1980, WHO, UNEP và Tổ chức Lao Động thế
giới(IOL) đã thành lập Chương trình thế giớ An toàn và Hóa chất (IPCS) để
đánh giá các nguy cơ về hóa chất có thể gây ra cho môi trường và sức khỏe con
người. IPCS đã xuất bản những đánh giá của họ dưới 5 hình thức: Một tiêu
chuẩn Môi trường chi tiết dự định để cho các nhà nghiên cứu khoa học và các
chuyên gia sử dụng; một hướng dẫn an toàn và sức khỏe không mang tính kỹ
thuật đánh cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách. Các thẻ quốc
tế về an toàn hóa chất rất hữu ích nơi làm việc; các chuyên khảo thông tin về
độc tính dùng trong y học và những tài kiệu về lượng giá hóa chất.
Việc phân biệt thuật ngữ yếu tố nguy cơ với thuật ngữ độc tính là rất cần

- Các hợp chất ăn mòn bao gồm các hợp chất kiềm như amoniac,
hydroxit canxi, oxit canxi, hydroxit kali, hydroxit natri và rất nhiều hợp chất
kiềm khác. Những hợp chất này gây kích thích ăn mòn ở các mô như da, mắt
và đường hô hấp. Axit cũng gây ra các loại kích thích tương tự. Axit sunfuric
và cromic là các hóa chất phổ biến trong công nghiệp. Những hợp chất này có
đặc tính ăn mòn hoặc gây kích thích bao gồm các chất ô nhiễm không khí phổ
biến như ô zôn và oxit nito. Ô zôn gây kích thích mạnh tới các màng nhầy
( mắt, mũi và miệng) nhưng oxit nito chỉ là kích thích ở mức trung bình. Cả hai
khí này đều có thể tăng nguy cơ bệnh hen suyễn.
- Các kim loại như catmi, crom, đồng, chì, mangan, thủy ngân, niken và
asen là các kim loại độc hại và tồn tại bền vững trong môi trường. Trong những
kim loại này thì crom, đồng, và mangan là các kim loại thiết yếu và cần thiết
cho sự sống của các sinh vật. Sự tồn tại trong môi trường và mức độc hại của
các kim loại phụ thuộc vào các trạng thái vật lý và hoa học của chúng. Cơ thể
sống có khả năng thay đổi cấu tạo hóa học của các hóa chất và do đó thay đổi
về các nguy cơ về sức khỏe mà có thể gây ra cho sự phơi nhiễm. Vi khuẩn có
thể chuyển hóa ion thủy ngân thành thủy ngân metyla- là một hợp chất tan
trong chất béo do đó tích lũy trong cá và tham gia vào chuỗi thức ăn của con
người. Tương tự, một số hợp chất hữu cơ chì, cũng tan trong các dung môi hữu
cơ và được sử dụng trong xăng pha chì để giảm tiếng động cơ. Bởi vì các hợp
chất chì gây độc đối với hệ thần kinh nên rất nhiều nước đang thôi dần không
sử dụng các hợp chất này nữa.
* Các chất hữu cơ: Hydro cacbon chỉ đơn giản là một chuỗi các nguyên
tử cacbon liên kết với hydro. Các hydro cacbon béo, có thể chuỗi ngắn hay dài,
chủ yếu ở trong xăng và có thể làm no. Những hydro cacbon này bao gồm:
metan, etan, propan, butan, pentan, hexan, heptan, octan. Metan và etan là khí
và tương đối trơ về mặt sinh học trong khi các chất hydro cacbon lớn hơn etan
là các chất làm ngạt khu thần kinh và dễ cháy. Khả năng kích thích màng nhầy
tăng từ pentan tới octan. Olefin hay các chất hydro cacbon béo chưa no là các
phân tử một hoặc nhiều nối đôi giữa các phân tử và có thể bị bẻ gãy và thêm

rất phổ biến khi uống rượu mua ở những cửa hàng không có giấy phép và rượu
bị nhiễm bẩn. Những rượu có khối lượng phân tử lớn hơn có thể gây viêm da.
- Glycol và các dẫn xuất, ví dụ etylen glycol, có hai nguyên tử hydro
được thay thế bằng nhóm hydroxyl. Chúng được sử dụng làm chất chống đông
và trong y học làm chất gây mê và ảnh hưởng lên da. Các dạng khác bao gồm
ete, là những chất chứa liên kết giữa cacbon-ox-cacbon.; các hợp chất epoxy, là
những ete mạch vòng; keton, andehit,các axit hữu cơ, anhydrit, este và
photphat hữu cơ; xyanua và nitrit, các hợp chất chứa nito và rất nhiều hợp chất
hữu cơ chứa nito khác.
- Các dung môi hữu cơ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và dẫn
tới nguy cơ phơi nhiễm cao cho công nhân. Trong số những chất này có những
chất rất độc tồn dư lâu trong môi trường và đã được chứng minh hoặc nghi ngờ
là chất gây ung thư. Một số chất như benzen và toluen được tạo ra trong các
sản phẩm của quá trình đốt cháy các chất hữu cơ, ví dụ như đốt cháy săm lốp
cao su. Trước đây trong sơn thường có các dung môi hydrocacbon hữu cơ hoặc
vô cơ nhưng gần đây vì sự an toàn của thợ quét sơn nên người ta dùng nước để
thay thế cac dung môi này.
Các đường phơi nhiễm
Chất hóa học được thải ra trong môi trường theo nhiều quá trình khác
nhau, như các hóa chất có trong tự nhiên và được giải phóng vào môi trường
nhờ các quá trình hoạt động tự nhiên của tầng địa chất hoặc từ các hoạt động
khai thác mỏ hay nạo vét của con người. Hóa chất cũng có thể thải ra môi
trường từ rác thải công nghiệp hay nông nghiệp, sinh hoạt hay dịch vụ và các
cơ sở sản xuất. Ô nhiễm hóa học cũng có thể xảy ra do vô tình bị rò rỉ trong khi
sản xuất, bảo quản và chuyên chở các sản phẩm ví dụ các sản phẩm dùng trong
gia đình. Không khí, đất và nước đều có thể bị ô nhiễm chất hóa học. Ô nhiễm
thực phẩm có thể do sự hấp thụ của các chất trong chế biến và bảo quản. Các
độc chất có trong tự nhiên cũng có thể gây ra nhiều hợp chất
Phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ hóa học có thể xảy ra theo nhiều con
đường khác nhau như: hít thở, ăn uống, thấm nhiễm từ da, mắt, qua nhau thai

quan khác được gọi là sự chuyển hóa sinh học. Những phản ứng này còn được
gọi là quá trình giải độc nếu sự chuyển hóa làm giảm độc tính hoặc là quá trình
hoạt hóa sinh học nếu sự chuyển hóa lại làm tăng độc tính của các chất.
Quá trình chuyển hóa sinh học được chia làm hai giai đoạn riêng biệt:
giai đoạn I và giai đoạn II. Nhìn chung, quá trình chuyển hóa sinh học các chất
kỵ nước hay các chất tan trong chất béo thành các chất ưa nước và dễ tan trong
nước. Ở giai đoạn I các phân tử bị chuyển hóa bằng cách gắn thêm vào các
nhóm tích điện phân cực. Các phản ứng trong giai đoạn I cũng có thể làm hoạt
hóa các nhóm chứa điện tích có sẵn của phân tử. Những thay đổi này có thể là
kết quả của sự oxy hóa, sự khử hoặc thủy phân. Trong giai đoạn thứ II, các chất
liên kết với các hợp chất ưa nước nội sinh tạo ra các phức hợp dễ tan trong
nước và nhanh chóng bị bài tiết ra ngoài. Các phản ứng kết hợp này xảy ra với
nhiều chất khác nhau, thường là các sản phẩm trung gian của quá trình chuyển
hóa như axit glucoronic, sunfat, glycin, và glutathion. Đôi khi quá trình chuyển
hóa sinh học đặc biệt ở giai đoạn I, tạo ra các hoạt động hóa chất hóa học mạnh
hơn và chúng phản ứng với ADN hoặc các cấu trúc quan trọng khác của tế bào.
Một số hóa chất gây ung thư phổ biến như benzen đòi hỏi phải qua giai đoạn I
trong quá trình chuyển hóa để được hoạt hóa. Trong thực tế rất khó có thể được
xác định và định lượng các chất này vì chúng chỉ tồn tại trong quá trình rất
ngắn, chỉ đủ để gây ra các tác hại cho tế bào và cơ thể. Các hóa chất trải qua
các phản ứng trong giai đoạn I và II thường là chất tan trong mỡ và thường
tích tụ lại trong các mô mỡ hoặc trong sữa nếu chúng không được chuyển hóa
thành dạng có thể bài tiết được.
Nếu lượng mỡ này được sử dụng trong các trường hợp cần thiết thì độc
tố sẽ được giải phóng vào máu và gây nhiễm độc cấp tính. Một số chất có thể
được phân giải bởi vi khuẩn trong đường ruột- nơi chúng được hấp thụ trở lại
và tham gia vào các phản ứng của giai đoạn II của quá trình chuyển hóa. Các
chất tan trong nước ngấm thẳng vào hệ tuần hoàn nơi chúng có thể bị đưa ra
ngoài cùng với không khí thở ra từ phổi đưa tới thận, bị thải ra ngoài nước tiểu
hay bị bài tiết ra ngoài một cách tích cực trong các dịch khác nhau như nước

- Các yếu tố hóa học, vật lý và sinh học đều có tương tác với ADN, gây
ra những biến đổi về cấu trúc, chức năng và có thể dẫn tới thay đổi mã thông
tin di truyền. Quá trình phức tạp này bao gồm đột biến gen, đột biến nhiễm sắc
thể hay hoán vị gen.
- Ung thư là sự kiện liên quan gen hoặc không liên đến gen dẫn tới sự
sinh sản quá mức kiểm soát của tế bào. Mặc dù rất khó phân biệt riêng rẽ các
bước khác nhau của quá trình, chúng ta vẫn có thể phân ra hai nhóm chính: các
nhân tố chủ yếu phản ứng ADN và các phản ứng với vật chất di truyền. Trong
thực tế thì ung thư là một quá trình rất phức tạp bao gồm một vài giai đoạn và
có sự tham gia của cả cơ chế gây tác động lên gen và cơ thể không gây tác
động lên gen. Quá trình gây ung thư có thể chia ra 3 bước chính: khởi đầu; thúc
đẩy và phát triển tớí ung thư
Khởi đầu: các chất hoá học gây đột biến, các chất ion hóa và các loài
virus có gây ra những biến đổi trong cấu trúc lên ADN, tạo ra tế bào khởi đầu.
Kiểu di truyền khởi đầu này được gọi là trạng thái ác tính tiềm tàng và có thể
chuyển thành tế bào với khả năng phân chia ngoài tầm kiểm soát của cơ thể.
Giai đoạn khởi đầu được cho là liều phơi nhiễm, có nghĩa là liều phơi nhiễm sẽ
tăng dẫn tới số tế bào tăng hoặc tăng số đột biến của các tế bào. Bước khởi đầu
chỉ xảy ra trong một bộ phận nhỏ cuả các tế bào bị tác động và sẽ lớn hơn nếu
các tế bào phân chia nhanh. Điều này được giải thích bằng thực tế là ADN
trong tế bào trong giai đoạn phân chia ít được bảo vệ hơn và do đó bị tổn
thương do các chất hóa học. Hơn nữa các tế bào có tốc độ phân chia nhanh thì
có ít thời gian để sửa chữa những thiệt hại ban đầu, ví dụ các enzym sẽ tách rời
các bazo kép vào ADN trước khi chúng trở thành các đột biến không thể đảo
ngược trong quá trình nhân đôi ADN. Qúa trình này được gọi là quá trình hãm
đột biến. Chúng ta không thể nhận biết một sự thay đổi nào về mặt sinh hóa
hay chức năng của các tế bào khởi đấu so với trạng thái bình thường của chúng
vì tổn thương không biểu hiện thành kiểu hình mới. Tuy nhiên nếu ADN không
được nhanh chóng sửa chữa thì tổn thương đó sẽ trở thành vĩnh viễn
Thúc đẩy: chất hoạt hóa là chất mà bản thân không gây ra sự phát triển

ion hóa và tia tử ngoại UV cũng có khả năng gây ung thư giống như các chất
hóa học độc hại
- Tia X và phóng xạ UV làm tổn thương ADN tạo điều kiện cho các đột
biến mà trong nhiều trường hợp là hậu quả của lỗi trong quá trình sửa chữa.
- Virus: Những loài virus gây ung thư ở động vật bao gồm virus gây u
vú ở chuột nhắt, virus gây bệnh máu trắng ở mèo, và virus gây bệnh Rous ở gà.
Các virus có khả năng gây ung thư ở người bao gồm virus viêm gan B (tăng
nguy cơ bị ung thư gan), virus u vú ở người (tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử
cung), và virus epstein Barr (EBV) (gây ung thư vòm họng và ung thư mô bạch
huyết kiểu Burkitt) có thể là nguyên nhân của các u lành tính như
mononucleosic
2.3. Yếu tố nguy cơ vật lý
Các yếu tố nguy cơ vật lý là những dạng năng lượng có hại tiềm tàng
trong môi trường mà có thể gây ra tổn thương tức thời hoặc từ từ khi nó được
truyền tới cá thể bị phơi nhiễm một lượng đủ mạnh. Các yếu tố nguy cơ vật lý
có thể được tạo thành từ dạng năng lượng tự nhiên hoặc nhân tạo. Có rất nhiều
dạng năng lượng khác nhau có thể tạo ra yếu tố nguy cơ vật lý ví dụ như sóng,
phản xạ, quang năng, nhiệt năng và điện năng.
Tiếng ồn, phóng xạ và các yếu tố nhiệt độ là những yếu tố nguy cơ vật
lý. Chúng có thể gây ra những ảnh hưởng sức khỏe trong các điều kiện phơi
nhiễm tự nhiên, tia tử ngoại từ mặt trời gây ra chứng đục thủy tinh thể hay các
sóng nhiệt có thể gây tử vong ở những người ốm yếu, trẻ em và người già. Tuy
nhiên, trong công tác quản lý sức khỏe môi trường thì các tình huống phơi
nhiễm là quan trọng nhất. Hàng ngày hàng triệu người trên thế giới đang phải
hứng chịu tiếng ồn ở nơi làm việc của họ.
* Tiếng ồn và sự rung xóc
- Tiếng ồn được định nghĩa là âm thanh không mong muốn. Âm thanh
truyền trong không khí dưới dạng sóng (hay những thay đổi về áp suất) và các
sóng này làm cho màng nhĩ của chúng ta rung lên. Hàng năm có hàng triệu
công nhân bị giảm đáng kể khả năng nghe do môi trường làm việc rất ồn ào. Ô

- Giảm chức năng nghe do tiếng ồn có thể phòng chống bằng các
chương trình kiểm soát tiếng ồn và khám cho công nhân để phát hiện những
dấu hiệu giảm chức năng nghe qua những thay đổi tạm thời về ngưỡng nghe
thấy và từ đó áp dụng những thay đổi caỉ tiến trước khi quá muộn. kiểm soát
tiếng ồn là một kỹ thuật chuyên sâu với sự tham gia của các kỹ sư về âm thanh,
thiết kế nhà máy với các kiểm soát kỹ thuật và ngăn chặn hay cách ly tiếng ồn.
Ngoài tiếng ồn mà có người gọi là rung động được truyền trong không
khí tới tai của chúng ta thì năng lượng của rung chuyển cũng có thể truyền tới
các bộ phận khác của cơ thể. Việc chúng ta sử dụng nhiều công cụ hay thiết bị
điều khiển bằng tay có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe do
bàn tay hoặc cánh tay của chúng ta bị rung. Một tác hại sức khỏe thường gặp ở
công nhân thao tác với dụng cụ rung cầm tay là bệnh ngón tay trắng, một dạng
của co thắt mạch máu tự động hay do lạnh và dẫn tới làm giảm giác quan của
các đầu ngón tay và gây đau. Tên gọi bệnh ngón tay trắng được miêu tả hiện
tượng ngón tay trắng khi các mạch máu co thắt. Rung có thể truyền tới toàn bộ
cơ thể khi điều khiển các phương tiện như xe ủi đất, máy xúc, xe tải hay xe con
ở đường sỏi đá gồ ghề và có nhiều ổ gà. Rung dạng này có thể gây tổn thương
tới hệ thống cơ và xương.
* Phóng xạ ion hóa
Yếu tố nguy cơ phóng xạ có thể được chia làm hai loại: phóng xạ ion hóa
và phóng xạ không ion hóa. Quá trình ion hóa các nguyên tử trong cơ thể con
người gây ra những ảnh hưởng sinh học có hại. Các ion rất dễ tham gia các
phản ứng và phá hoại các cấu trúc quan trọng của tế bào bao gồm protit và
AND. Phóng xạ ion hóa được định nghĩa là phóng xạ điện tử có đủ năng lượng
để tách một điện tử ra khỏi một nguyên tử.
Các ảnh hưởng của chất phóng xạ ion hóa được chia làm hai nhóm chính:
các ảnh hưởng ngưỡng và các ảnh hưởng không theo ngưỡng. các ảnh hưởng
không theo ngưỡng tuân theo mối quan hệ liều- ảnh hưởng của mỗi cá nhân ví
dụ như nuốt một độc tố. Các ảnh hưởng không theo ngưỡng có đặc tính là “ tất
cả hoặc không có gì” với một xác suất nào đó sau khi bị phơi nhiễm. Chẳng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status